Thứ Năm, 20 tháng 1, 2011

GẶP GỠ TRÊN ĐẤT MỸ (IX)

Tiêu Dao Bảo Cự

Kỳ 9

Các bạn đưa chúng tôi đi thăm thung lũng Napa, nơi trồng nho làm rượu vang nổi tiếng của bang Cali. Napa và Sonoma gần đó hai nơi sản xuất rượu vang đã đưa Mỹ hai lần đạt giải rượu vang ngon nhất thế giới trong các cuộc thi quốc tế, vượt qua cả rượu vang Pháp có truyền thống lâu đời vốn thống trị trong ngành làm rượu này. Napa cách Sacramento khoảng một giờ lái xe. Gần đến nơi, hai bên đường các vườn nho bạt ngàn chạy dọc theo thung lũng. Các gốc nho trồng ngay hàng thẳng lối, được chăm sóc kỹ, dây nho quấn theo giàn thấp chừng hơn một mét, các chùm nho mọng san sát vừa tầm cho việc thu hái. Đây đó có những nhà máy phía xa xa trên đồi cao. Có một khu vực hai bên đường tập trung nhiều cửa hàng giới thiệu sản phẩm rượu của các nhà máy. Chúng tôi vào một nơi. Cửa hàng trình bày trang nhã nhiều loại rượu với các loại chai khác nhau trông thật bắt mắt và các tờ quảng cáo, tạp chí chuyên ngành về rượu vang. Trước đây ở những nơi nầy khách vào xem được nếm rượu miễn phí nhưng do suy thoái kinh tế, người bán hàng ở đây nói muốn nếm phải trả $5 mỗi người. Trong khi nếm rượu trò chuyện, bạn tôi tán dóc giới thiệu chúng tôi ở vùng trồng nho của Việt Nam sang thăm, học hỏi kinh nghiệm làm rượu của Napa và khen rượu của cửa hàng này rất ngon. Thế là người bán hàng khoái chí mời chúng tôi vào đứng trong quầy chụp ảnh với ông ta để lưu niệm và cũng không lấy tiền nếm rượu nữa.


Đến thăm một nhà máy rượu nhưng bất ngờ do suy thoái kinh tế, nhà máy này đã phá sản, cửa đóng then cài. Bên cạnh nhà máy này là một siêu thị nho nhỏ khá đặc biệt. Các quầy hàng san sát nhau bán đủ các thứ, có một ít bàn ghế ở chỗ trống để khách ngồi uống nước. Chúng tôi vào uống trà. Không ngờ ở đây lại có quầy hàng bán đủ loại trà phương đông và được chủ quầy hàng, một cô gái trẻ, pha chế một cách khá cầu kỳ theo kiểu trà đạo để khách uống tại chỗ.

Mấy ngày ở Sacramento, ngoài việc ăn ở nhà Đoàn hay ăn ở ngoài, một bữa anh Ngô Viết Trọng mời đến ăn ở nhà anh. Thêm một số khách của anh, hầu hết là người Huế, nên chủ nhà thết đãi món Huế gồm các loại bánh bèo, bánh nậm, bột lọc và bún bò. Dân Huế ở đây như vậy cũng khá đông và họ nặng tình đồng hương, thường quần tụ qua lại giúp đỡ nhau trên xứ người để khỏi thấy lạc lõng. Anh Trọng người gầy nhỏ, hiền lành, hay cười ít nói. Không ngờ nguyên là sĩ quan cảnh sát, bây giờ anh lại tập trung viết tiểu thuyết lịch sử, đã xuất bản được mấy cuốn. Anh tặng tôi các cuốn “Lý Trần tình hận”, “Công nữ Ngọc Vạn”, “Dương Vân Nga – Non cao và vực thẳm”. Sau đó lúc nào rảnh, tôi “tranh thủ” đọc vì sách không dày lắm. Anh tập trung viết về những giai đoạn lịch sử hào hùng với những nhân vật anh hùng hay có bí ẩn, dựa vào chính sử, các giai thoại và hư cấu thêm. Chưa nói đến giá trị tác phẩm như thế nào, một người Việt viết văn ở Mỹ có mối quan tâm và công trình như thế thật đáng trân trọng.

Sau mấy ngày thăm viếng, Đoàn lái xe đưa chúng tôi về lại Milpitas. Chúng tôi không ngờ sau này lại có hai lần nữa trở lại Sacramento.

Người đầu tiên trong số học trò cũ tôi gặp ở Mỹ là Lê Thị Bích Thủy. Bích Thủy cùng với Ngọc Hà là hai chị em, học trò khá thân của tôi trong lớp C văn chương hồi tôi mới ra trường dạy học ở Ban Mê Thuột. Thời đó tôi 22 tuổi, chỉ lớn hơn học trò vài tuổi, cùng với mấy bạn đồng khóa nhận nhiệm sở ở đây, nơi chúng tôi đã quyết định chọn lựa, mang tinh thần sôi nổi của những ngày sinh viên đấu tranh ở đại học Huế và hoài bão giáo dục thế hệ đàn em vào ngôi trường khá bình lặng của vùng cao nguyên “buồn muôn thuở, bụi mù trời”. Tôi rất thân thiết với học trò. Ngoài lớp học chúng tôi cùng nhau đi picnic, uống café, hát hò, tập thể dục như anh em và các em thường đến nhà trọ của tôi vui chơi, phá phách. Qua thông tin của Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Trung Học Ban Mê Thuột ở Hoa Kỳ, biết tôi đến Mỹ, đang ở Milpitas, Bích Thủy ở San Jose, lập tức liên lạc đến thăm chúng tôi tại nhà và mời chúng tôi đi ăn cùng với cả gia đình. Thủy cho biết Ngọc Hà đang ở Seattle.

Bích Thủy kể chuyện làm ăn. Cô cùng với chồng từ khi sang đây chủ yếu làm nghề nấu, bán thức ăn cho công nhân ở các nhà máy. Thức ăn nấu nướng xong ở nhà, lái xe đến trước các nhà máy vào giờ nghỉ trưa để bán cho công nhân. Công việc này cũng khá vất vả. Ban đầu phải thuê thêm người nấu và người lái xe nhưng sau này bán được ít nên hai vợ chồng tự làm lấy. Mẹ của Bích Thủy khá cao tuổi, biết tôi từ hồi ở Ban Mê Thuột, rất thích nhắc lại chuyện xưa. Bà nói liên miên làm các con phải nhắc khéo bà để cho thầy nói chuyện. Tôi bảo cứ để bác nói vì bác vui và tôi cũng thích nghe để nhớ lại chuyện cũ. Điều cảm động là lúc gần chia tay chúng tôi mới biết là chỉ còn vài ngày nữa Bích Thủy phải vào bệnh viện giải phẫu lần thứ hai vì một căn bệnh nguy hiểm nhưng cô vẫn cố gắng gặp gỡ chúng tôi vì sợ sau này không còn dịp. Cô thật chí tình với người thầy cũ hơn 40 năm mới gặp lại.

Một ngày cuối tuần Oánh đưa chúng tôi đi thăm San Francisco. Các city trong vùng Vịnh này không xa nhau lắm và đường cao tốc rất tốt. Qua khỏi cầu Bay Bridge, lúc đợi ở trạm thu phí trước khi vào thành phố, tôi thấy các cổng cho xe qua được ghi đến số 18, xe cộ ken dày đặc. Băng qua khu downtown với nhiều nhà chọc trời làm đường phố tối sẫm, chúng tôi đi về hướng cầu Golden Gate nổi tiếng. Trên đường, Oánh dừng xe gần Palace of Fine Arts, một tòa lâu đài để chụp hình. Oánh nói đây là một lâu đài nổi tiếng xây dựng theo phong cách Ý, nóc tròn kiểu nhà La Mã, chung quanh có hồ bao bọc, thường được khách du lịch và ngay cả dân địa phương đến thăm viếng. Chúng tôi chỉ ngưng lại chụp hình bên đường, lấy bối cảnh hồ và lâu đài phía sau.


Nguyễn Ngọc Oánh và BY bên cầu Golden Gate.


Khu vực chân cầu Golden Gate đông đảo xe cộ và khách du lịch, kiếm được một chỗ đậu xe cũng khó. Chúng tôi đi bộ lại gần chỗ chân cầu, từ đây có thể nhìn xéo suốt cầu và hòn đảo phía ngoài xa, nơi có trại giam cũ nổi tiếng Alcatraz lờ mờ trong sương. Tuy có tên Golden Gate nhưng cầu sơn mầu đỏ sậm (Mỹ gọi là International Orange) chứ không phải mầu vàng, nhìn gần thật đồ sộ và mạnh mẽ. Cây cầu treo bằng dây văng này bây giờ không phải dài nhất thế giới vì có nhiều cầu mới ở Mỹ cũng như các nước khác dài hơn nhiều. Tuy nhiên nó đã nổi tiếng từ lâu, xem như biểu tượng và là niềm tự hào của thành phố San Francisco và vẫn có độ dài giữa hai trụ dài nhất. Chỗ dừng chân cho khách tham quan đầu cầu này khá cao, có tượng kỹ sư thiết kế cầu ghi rõ tiểu sử của ông và các chi tiết liên quan đến việc xây dựng cầu, một khúc dây cáp thật cho người xem thấy được độ lớn và đặc điểm của dây văng, một cái kính viễn vọng để nhìn ra xa ngoài vịnh.


Một đoạn giây cáp thực của cầu Golden Gate.



BY bên tượng kỹ sư xây dựng cầu Golden Gate.


Chúng tôi lên cầu, đi dọc theo lối dành cho người đi bộ ra phía giữa cầu. Lên đây lại khó nhìn ngắm vì hai bên có rào chắn cao. Xe chạy bên ngoài gây tiếng động ầm ầm và làm rung chuyển cả cầu. Đi khoảng một phần ba, chúng tôi quay trở lại vì cũng không nhìn thấy gì thêm và khách chen chúc quá đông. Được đặt chân lên chiếc cầu nổi tiếng này cũng là một dấu ấn cho chuyến đi du lịch Mỹ.

San Francisco nằm bên bờ vịnh nhưng lại là một thành phố đồi núi. Đường phố lên xuống dốc liên tục, dốc hơn Đà Lạt, Sapa nhiều. Oánh lái xe đến đường Lombard dốc nhất của thành phố, dài đến cả cây số, từ trên cao đổ xuống, nhìn rợn người, có lẽ dốc đến gần 45 độ. Oánh đã từng làm việc ở đây nên rất rành đường sá. Để bớt nguy hiểm, phần dốc trên đỉnh xuống người ta chừa phần làm đường khá rộng giữa hai dãy nhà, đường quanh co uốn lượn hình chữ chi giữa các bồn hoa và cây cảnh để đỡ dốc và xe chỉ được chạy chiều xuống, từng chiếc một. Oánh chạy xe chầm chậm mà tôi cũng thấy lên ruột. Đến giữa dốc, có con đường cắt ngang. Oánh tìm chỗ đậu xe để chúng tôi chụp hình. Một số người có lẽ là du khách cũng làm như thế. Từ đây nhìn lên, thấy đường đâm thẳng lên trời với hai dẫy nhà như treo lơ lửng trên không. Nhìn xuống, con đường không còn quanh co giữa các bồn hoa nữa mà thẳng tắp sâu xuống hun hút. Một khung cảnh thật lạ của thành phố này.



Con đường dốc chữ chi độc đáo của San Francisco.


Chúng tôi ăn trưa muộn ở một nhà hàng Mỹ. Nhìn ra ngoài đường phố âm u vì nhà cao tầng che khuất ánh sáng mặt trời. Một bà già đang cho đàn bồ câu ăn bên lề đường. Bà có vẻ thích thú cười khoe chiếc miệng móm mém khi BY đưa máy ảnh ra chụp. Chúng tôi trở về nhà Oánh, nghỉ ngơi đôi chút rồi đi tiếp đến nhà của Thái Anh ở Oakland. Hôm nay Thái Anh đón đạo diễn Trần Văn Thủy và nhà văn Hoàng Khởi Phong từ Nam Cali lên. Anh tổ chức ăn tối và mời một số bạn đến nghe Trần Văn Thủy nói chuyện. Khi chúng tôi đến, trời đã tối và trong nhà đã có nhiều khách ồn ào. Thái Anh nhờ Oánh và tôi ra phi trường Oakland đón Thủy và Phong vì sắp đến giờ nhưng Thái Anh còn bận ở nhà tiếp khách. BY vào nhà Thái Anh trước, chúng tôi tiếp tục đi ra phi trường.

Đến phi trường đợi khoảng mươi phút, máy bay đến. Tôi đã từng gặp Hoàng Khởi Phong mấy lần và vừa gặp lại ở nam Cali. Với Trần Văn Thủy tôi có gặp một lần đã lâu lắm, từ hồi tôi còn ở Hội Văn nghệ Lâm Đồng năm 1988, lúc đó anh vào thăm Đà Lạt và Hội chúng tôi có tổ chức cho anh một buổi gặp gỡ công chúng. Mới gần đây anh có dịp đọc cuốn “Mảnh trời xanh trên thung lũng” của tôi và chúng tôi thỉnh thoảng trao đổi email tỏ lòng quý mến nhau. Gặp nhau ở đây, anh thật sự vui mừng. Anh nhờ Hoàng Khởi Phong đi lấy hành lý để có thể nói chuyện với Oánh và tôi.

Chúng tôi về đến nhà Thái Anh, mọi người đang ăn uống, ngồi chật phòng khách, phòng ăn, vào đến tận bếp. Thái Anh giới thiệu khách với mọi người và lập tức Trần Văn Thủy đi tìm BY để chào hỏi. Anh đã nói rất có ấn tượng và tình cảm đặc biệt với BY khi đọc “Mảnh trời xanh…”. Thái Anh mang thức ăn cho những người mới đến. Chúng tôi ăn vội vàng để có thể bắt đầu buổi nói chuyện của Trần Văn Thủy. Sau khi Thái Anh giới thiệu qua về Trần Văn Thủy, Thủy làm tôi phát ngượng vì anh bắt đầu bằng cách nói trước tiên xin bày tỏ sự ngưỡng mộ và quý mến đối với BY và tôi vì những gì chúng tôi đã sống và chịu đựng. Tôi không dám nghi ngờ đây là tình cảm thật hay cách tỏ ra khiêm tốn của anh, một đạo diễn tài ba, nói chuyện rất có duyên, lôi cuốn và hùng biện. Anh đã từng nói chuyện nhiều nơi trên đất Mỹ nên quá quen thuộc với những buổi gặp gỡ như thế này. Anh trình bày về quá trình và những khó khăn trong việc làm hai cuốn phim tư liệu nổi tiếng “Hà Nội trong mắt ai”“Chuyện tử tế” trong thời kỳ trước đổi mới ở trong nước. Đặc biệt việc đưa cuốn phim “Chuyện tử tế” ra nước ngoài ly kỳ như một chuyện phim gián điệp. Phim của mình làm nhưng anh không có bản nào trong tay và phải đi từ bắc vào nam truy tìm lấy một bản, sau đó Đại sứ quán Cộng Hòa Dân Chủ Đức ở Hà Nội lúc bấy giờ đã chuyển bộ phim này ra nước ngoài. Sau khi bộ phim được giải thưởng cao ở International Film Festival Leipzig (1988) và nhiều giải thưởng quốc tế anh mới thôi bị rắc rối.

Người nghe đặt nhiều câu hỏi và anh trả lời rất thông minh, dí dỏm. Cũng có người hỏi tôi về lý do tại sao tôi được đi Mỹ và tôi giải thích rất chân tình về những gì đã diễn ra đưa đến chuyến đi này. Kết thúc buổi trò chuyện Trần Văn Thủy đề nghị mọi người nếu có ai viết gì về anh liên quan đến thái độ chính trị, anh yêu cầu trích dẫn những gì anh đã phát biểu trong nước trên báo chí hay truyền hình. Anh không muốn bị hiểu lầm khi ra khỏi nước mới tỏ thái độ thế này thế khác. Những gì cần nói anh công nhiên đứng trong nước để nói. Tôi rất tán thành thái độ này của anh và tôi cũng đã lựa chọn như thế. Hơn 12 giờ đêm chúng tôi mới được nghỉ ngơi.

Ngày mai chúng tôi sẽ có một chuyến đi xa. Chuyến đi thăm thắng cảnh Lake Tahoe mà Thái Anh đã chuẩn bị và sắp xếp trước cho chúng tôi cùng đi với Trần Văn Thủy và Hoàng Khởi Phong, một dịp hiếm có khi chúng tôi cùng gặp gỡ nơi đây.

(Còn tiếp)

1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét