Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

VÙNG ÐẤT NGẬP ÐỒNG THÁP MƯỜI

TRẦN NGƯƠN PHIÊU

Ðồng Tháp Mười là một địa danh quen thuộc đối với những người sanh trưởng ở miền Nam. Tuy nhiên, số người thật sự có cơ hội đặt chân lên vùng xa xôi này hay được sinh sống trên phần đất này có thể nói là rất ít. Vì vị trí đặc biệt, thiếu phương tiện đường sá lưu thông nên Ðồng Tháp Mười vẫn được coi là một vùng đất hẻo lánh, nhiều bí ẩn.


Ðồng Tháp Mười là một cánh đồng rộng lớn, hằng năm bị ngập lụt lối bốn, năm tháng khi nước sông Cửu Long dâng cao. Biển Hồ Tonlé Sap ở Campuchia và Ðồng Tháp Mười ở Việt Nam là hai nơi lưu trữ nước thiên nhiên, nên đến mùa nước nổi, sông Cửu Long từ từ dâng cao, sau đó nước sẽ lần lần rút ra biển. Vì thế nên ở miền Nam, không có nhu cầu phải đắp đê để ngăn nước như sông Hồng ở miền Bắc. Mực nước mỗi năm tuy dâng cao nhưng từ từ nên ở miền Nam, không có cảnh thiệt hại to lớn của các trận lụt thình lình và chớp nhoáng gây chết chóc như thường thấy ở miền Trung. Diện tích Ðồng Tháp chiếm khoảng 8 ngàn cây số vuông, độ 800.000 mẫu tây. Chiều Nam-Bắc, từ Cao Lãnh tới Svay Riêng dài khoảng 70 cây số; chiều ngang từ Hồng Ngự đến Tân An tính ra khoảng 120 cây số.

Trên các bản đồ thời Pháp thuộc, vùng này có cái tên là Plaine des Joncs (Ðồng Cỏ Lác). Sau 30 tháng Tư năm 1975, tỉnh Sa Ðéc được đổi tên thành tỉnh Ðồng Tháp, diện tích bao trùm gần trọn Ðồng Tháp Mười. Tỉnh Ðồng Tháp nay giáp Campuchia ở phía Bắc, đường biên giới dài khoảng 52 cây số. Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long, phía Ðông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang, phía Tây giáp Cần Thơ và An Giang. Toàn diện tích tỉnh Ðồng Tháp tính ra vào khoảng 3 ngàn 300 cây số vuông.

Nhắc đến địa danh Ðồng Tháp, không thể nào không nhắc đến anh hùng kháng Pháp: Thiên hộ Võ Duy Dương. Võ Duy Dương đã lập nhiều đồn lũy và đã đóng tổng hành dinh tại vùng Tháp Mười. Truyền thuyết của người Miên cho rằng vùng này có tên là Tháp Mười vì nơi đây là nơi đặt ngọn tháp Chùa Miên thứ mười kể từ trên Campuchia xuống. Một số người am hiểu lịch sử miền Nam lại giải thích: tên Tháp Mười thật sự chỉ có từ thời kháng Pháp của Thiên hộ Dương. Ông Võ Duy Dương đã đặt nhiều đồn và tháp để canh chừng tàu của Pháp, kể từ sông lớn Vàm Ba Sao vào đến Tổng hành dinh và cái tháp nơi hành dinh là tháp thứ mười? Tổng hành dinh Tháp Mười được bao vây che chở từ xa bởi ba đồn: Ðồn Tả, Ðồn Hữu và Ðồn Tiền. Mỗi đồn có thể chứa 200 đến 300 nghĩa binh, trang bị với súng, thớt súng bắn đá, đại bác... Ngày 14 tháng Tư năm 1866, Ðô đốc De Lagrandière đã chia 500 quân làm ba mặt tiến vào Ðồng Tháp, xuất phát từ Gò Bắc Chiên đi xuống để đánh Ðồn Tả, từ Cần Lố đi lên tấn công Ðồn Hữu và cánh thứ Ba từ Cái Nứa để đánh Ðồn Tiền. Nghĩa quân đã chống trả từ ngày 15 cho đến ngày 18 thì các đồn Tả, Hữu thất thủ và Thiên hộ Dương phải bỏ Tháp Mười. Quân Pháp đã đốt phá, bình địa đồn, sau khi đã phải chịu thiệt hại trên 100 lính. Thiên hộ Dương tiếp tục chống Pháp nhưng sau chết vì bịnh. Về sau, trên một gò cao của di tích đồn Tháp Mười này, một ngôi chùa Phật đã được dựng lên, trang hoàng theo lối chùa Miên.

Một người Pháp tên Sylvestre, chức vụ Thanh tra, làm việc ở Cai Lậy và Sa Ðéc từ 1869 đến 1878 đã nhiều lần đến viếng Chùa Tháp Mười. Chùa được xây cất trên một gò đất cao độ bốn thước, rộng khoảng ba mươi thước đường bán kính. Nền chùa cất trên đá ong, tháp hình ngũ giác năm mặt, được người Miên gọi là Prasah Préam Loveng (Tháp Năm Căn). Người Việt thì lại gọi là Tháp Mười, có thể vì xưa tháp có 10 tầng nhưng đã đổ nát? Ông Sylvestre có lấy từ Tháp Mười (Ruines de la tour à cinq faces), một phiến đá có chạm hình bánh xe Pháp Luân còn nguyên vẹn với 12 căm bánh xe, gởi về tặng một viện bảo tàng nhỏ “Musée municipal de Rochefort sur Mer” ở Pháp. Các nhà khảo cổ danh tiếng như Etienne Aymonier và Henri Parmentier thuộc trường Viễn Ðông Bác Cổ đều đã viếng thăm Tháp Mười nhiều lần. Từ chợ Sa Ðéc, dùng ghe máy theo kinh Cái Bèo, Tháp Mười và kinh 4 bis (Cát Bích), đi khoảng bốn giờ sẽ đến Tháp. Một giáo sư Pháp văn trường Petrus Ký, sau làm quản thủ viện Bảo tàng Sài Gòn và được thăng Viện trưởng trường Viễn Ðông Bác Cổ, tên L. Malleret là người có công nghiên cứu nhiều nhất về Tháp Mười. Louis Malleret là tác giả bộ Le Delta du Mékong (Lưu vực sông Cửu Long), trong đó quyển thứ IV (Le Cisbassac) là quyển chuyên khảo về Ðồng Tháp. Các viên gạch di tích Tháp Mười còn được lưu giữ ở Bảo tàng viện Sài Gòn là do công của L. Malleret.

Trước thời Kháng chiến Nam Bộ, dân cư sống trong vùng Ðồng Tháp, gồm người Việt, người Miên và Trung Hoa chỉ vào độ 150.000. Hiện nay, theo các thống kê mới nhất của riêng tỉnh Ðồng Tháp, số dân được trên 1, 6 triệu người. Cách xa thành phố Sài Gòn độ 162 cây số, ngoài một số đường nhỏ, Ðồng Tháp chỉ có 136 cây số Quốc lộ IA.

Thời Việt Nam Cộng Hòa, người có công phát triển Tràm Chim, từ một vùng cỏ lác hoang vu bên bờ kinh Ðồng Tiến, biến thành một trung tâm sung túc hiện nay, phải kể đến linh mục Bạch. Linh mục Bạch đã xin Tổng thống Ngô Ðình Diệm để hướng dẫn một số giáo dân vào khai khẩn lập nghiệp ở nơi đây. Trước thời Cha Bạch, vùng trung tâm Ðồng Tháp này vào mùa nước nổi bao la như một miền biển rộng. Cha Bạch đã xây dựng được nhiều công trình như: nhà thờ, trường học, chợ, phố xá bằng vật liệu nặng, xi măng, bê tông cốt sắt, vôi gạch... nên đến mùa nước nổi, giữa biển nước mênh mông, nhờ có các công trình kiến trúc mới, Tràm Chim đã trở thành một ốc đảo vững chắc cho ghe thuyền dân chúng neo, tụ họp sinh hoạt trong mùa nước lụt. Người viết bài đã có một thời phục vụ ở bộ Xã Hội nên đã có được cơ hội giúp linh mục Bạch trong các chương trình xây cất định cư các gia đình cơ cực trong vùng.

Tràm Chim Tam Nông nay là một địa điểm du lịch đặc biệt vì là nơi để du khách có thể quan sát loại sếu đầu đỏ, một giống chim hiếm có, mình cao trên một thước. Tháng Giêạng đến tháng Năm là mùa mà các hồng hạc này bay trở lại vùng để du khách có được dịp quan sát, chụp ảnh.

Ngoài tên Tràm Chim, nhắc đến Ðồng Tháp, không thể không kể thêm một vài địa danh khác đã đi vào lịch sử như Cù lao Ông Chưởng, nơi danh thần Nguyễn Hữu Cảnh đã chết vì bịnh khi kéo binh trở về, sau chiến thắng vua Chân Lạp vào năm 1699. Gần nhất, phải kể đến rạch Ðốc Vàng Thượng, nơi Việt Minh đã bày mưu đặt kế để ám hại Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ cũng như những vùng xa xôi, sát biên giới Miên là Tân Thành, Cái Cái, nơi Việt Minh đã thủ tiêu, chôn sống tập thể hàng ngàn tín đồ Phật giáo Hòa Hảo.

Phật giáo, một tôn giáo lớn, dạy người đời nên làm lành, lánh dữ, giữ tâm trong sạch, đã được phổ biến ở Việt Nam trên hai ngàn năm. Khi được truyền bá vào Nam nhân cuộc Nam Tiến, Phật giáo đã uyển chuyển hòa hợp vào điều kiện sinh sống mới của dân chúng, vào vùng đất trù phú “làm chơi, ăn thiệt.” Phật giáo Hòa Hảo được Ðức Thầy Huỳnh Phú Sổ phát triển ở đồng bằng sông Cửu theo phương pháp hành đạo của Phật Thầy Tây An, đã được nông dân Nam Bộ hưởng ứng chấp hành. Một nền Phật giáo Thời đại, không chủ trương dựng chùa to, đúc tượng lớn, không hệ thống Tăng ni, Sư sãi, không chuông mõ, đã được hằng triệu tính đồ miền Nam chấp nhận. Thay vì xây các chùa lớn, giáo dân theo chủ trương của Phật Thầy Tây An đã hình thành những trại ruộng là nơi để vừa cấy cày sinh sống, vừa tu học, hành đạo; tự túc không nhờ đến sự cúng dường của dân chúng. Các Trại ruộng lớn như Láng Linh, Cần Lố... cũng là các nơi nuôi dưỡng tinh thần chống thực dân Pháp.

Thời Gia Long phải bôn tẩu ở miền Nam, Sa Ðéc ven biên Ðồng Tháp là nơi Gia Long đã có một thời ẩn trú lâu dài. Vì thế nên ở làng Long Hưng tức Nước Xoáy, có sự tích Cây da bến Ngự là nơi chúa Nguyễn thường ngồi câu cá và suy tính tìm mưu chống Tây Sơn. Năm 1787, Gia Long cho xây một đồn nơi đây, nay còn di tích. Chúa Nguyễn và binh lính cũng đã được một gia chủ tên Nguyễn Văn Hậu ở Long Hưng nuôi cơm. Chúa Nguyễn nhận Ông là cha đỡ đầu, vì thế ở Long Hưng năm 1807 có xây Lăng Ông Bõ (cha đỡ đầu của vua). Bảo Ðại lên ngôi vua năm 1932 nhưng mãi đến năm 1942, lần đầu tiên, chánh quyền thực dân mới đồng ý cho Bảo Ðại vào thăm Nam Kỳ, nhân dịp Bảo Ðại được vua Shihanouk mời viếng Campuchia. Trong thời gian cư ngụ ở Sài Gòn, Bảo Ðại đã ngỏÔ ý muốn đến viếng Lăng Ông Bõ ở Long Hưng. Chánh quyền Sa Ðéc viện cớ là từ Sa Ðéc đến làng Tân Dương có đường bộ nhưng từ đây vô Nước Xoáy, tức Tân Hưng phải đi tàu máy, rất bất tiện để đưa vua Bảo Ðại đi thăm Lăng. Thật sự thì Pháp không muốn cho Bảo Ðại được có cơ hội gây cảm tình và uy tín đối với dân chúng miền Nam. Bằng cớ là trong việc vua Bảo Ðại muốn đến thăm Bến Tre là sinh quán của Ðức bà Từ Dũ, mẫu thân của vua Tự Ðức, Thống Ðốc Ðông Dương là Ðô đốc Decoux chấp nhận, nhưng chánh quyền Pháp ở Nam Kỳ lại ra chỉ thị cấm dân chúng dọc đường không được tụ tập hoan hô!

Cao Lãnh cũng là một địa danh thường được nhắc đến. Dân mê thích đá gà ngày trước đã kháo nhau:
Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân?


Nha Mân, vùng Cái Tàu Hạ, có con rạch Nha Mân êm đẹp, hiền hòa. Theo sử sách Miên, nơi đây vốn là nơi có các thiếu nữ đẹp khiến các vua Miên thường chọn hoàng hậu.

Cao Lãnh nằm vào ven biên Ðồng Tháp, một vùng ruộng vườn xanh tốt nhưng vì ngày xưa không có đường lộ giao thông như con đường nối liền An Hữu đến Hồng Ngự hiện nay, nên là nơi đất lành chim đậu, nơi nương náu của nhiều nhà cách mạng chống Pháp. Nơi đây đã từng là nơi có những cuộc biểu tình của dân chúng chống thực dân. Người viết bài còn nhớ chỉ hôm sau ngày 9 tháng Ba năm 1945, ngày quân Nhật đảo chánh thực dân Pháp ở Sài Gòn, thì ngay sáng hôm đó đã có truyền đơn rải ở vùng Cao Lãnh để thông báo cho dân chúng tình hình chánh trị mới!

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét