Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

VỀ THĂM TOLSTOI Ở ÐIỀN TRANG YASNAYA-POLYANA

PHẠM XUÂN ÐÀI

Ðọc Tolstoi từ thời còn đi học, thấy cuộc đời của ông bá tước này gắn liền với điền trang Yasnaya-Polyana, thì tôi đã hình dung điền trang ấy giống cảnh trí nơi Natacha đã gặp André như đã tả trong Chiến Tranh và Hòa Bình. Nhìn lại cảnh sống ở Việt Nam từ thôn quê đến thành thị, chẳng thấy có một cái gì tương tự như điền trang của bá tước Tolstoi bên Nga. Giới địa chủ giàu có của miền Bắc và Trung Việt Nam giỏi lắm xây dựng một “dinh cơ” trong khu vườn rộng, và nếu khéo chạy một phẩm tước của triều đình thì cũng chỉ đến “bát phẩm, cửu phẩm,” vừa đủ để thỏa mãn thói háo danh nơi chốn làng xã. Các đại điền chủ Nam Kỳ thì thuộc vào đất nhượng cho Pháp, cung cách sống của họ khá xa vời với văn hóa cổ truyền Việt Nam, họ không hề mang những phẩm tước của triều đình, và dinh cơ của họ dù lớn lao cũng chẳng có vẻ gì là “điền trang” của một tầng lớp quý tộc, hiểu như là con đẻ của một định chế quốc gia, và mang nhiều tính cách đại diện cho những gì ưu tú thuộc văn hóa truyền thống của đất nước.

Hai chữ điền trang gợi cảm tưởng thơ mộng êm ả chốn thôn quê, đồng thời cũng làm liên tưởng đến tài sản đất đai rộng lớn và sự giàu sang của giai cấp quý tộc Tây phương trong quá khứ. Ðiền trang không chỉ là một cơ sở nhà cửa của nhà giàu ở thôn quê, mà còn là một cách sống, một quan niệm sống của một giai tầng được ưu đãi, mà lợi tức từ đất đai rất lớn lao, thường là chính yếu trong sự sản của họ.

Tolstoi là một tác giả nổi tiếng khá quen thuộc với người đọc sách Việt Nam. Ông là một văn hào Nga của nửa sau thế kỷ thứ 19 và sống thêm một thập niên đầu thế kỷ 20, tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Pháp và theo người Pháp đi vào Việt Nam. Hồi tôi còn nhỏ, khoảng giữa thập niên 40, tôi thấy sách Tự Lực Văn Ðoàn ở bìa sau thường giới thiệu các tác phẩm đã xuất bản, luôn luôn có một cuốn tên là A-na Kha-Lệ-Ninh, một quyển sách dịch của Vũ Ngọc Phan, nhưng chưa từng được nhìn thấy cuốn ấy bao giờ. Mãi sau lớn lên tôi mới biết đó là cuốn Anna Karénine (lối viết theo tiếng Pháp) của Léon Tolstoi. Có thể đó là tác phẩm lớn đầu tiên của Tolstoi được dịch sang tiếng Việt, tôi không biết thời thập niên 30, 40 của thế kỷ trước có gây tiếng vang nào trong độc giả người Việt không. Nhưng tiểu thuyết Nga nói chung, và riêng Tolstoi, tôi nghĩ là rất có duyên với người đọc Việt Nam, đặc biệt là sau khi đất nước bị chia cắt năm 1954 thì cả miền Nam lẫn miền Bắc đều có phong trào dịch và nghiên cứu tìm hiểu. Tôi nhớ hồi còn đi học, khoảng cuối thập niên 50 tôi đã đọc cuốn Viết Và Ðọc Tiểu Thuyết của Nhất Linh và sau này mới nhận ra là cuốn đó có ảnh hưởng rất lớn đối với tôi. Nhất Linh đặc biệt ca tụng các tác giả tiểu thuyết Nga như Tolstoi, Dostoievsky, và các tác giả của nước Anh như các chị em Bronte. Ông cho rằng hai dân tộc này, đặc biệt là Nga, có biệt tài về tiểu thuyết, các tác giả của họ nhận xét và diễn tả cuộc đời rất trung thực và sâu sắc. Từ đó tôi để tâm tìm đọc các bản dịch Chiến Tranh và Hòa Bình, Anna Karenina của Tolstoi, Anh Em Nhà Karamazov, Tội Ác và Hình Phạt, Thằng Ngố... của Dostoievsky, Ðỉnh Gió Hú của Emily Bronte... Quả nhiên tôi đã bị các tác giả Nga chinh phục, thời thanh niên tôi bị ám ảnh bởi Dostoievsky nhiều hơn là Tolstoi bởi lối đào sâu tâm lý như là phù thủy của ông, nhưng càng lớn lên thì càng cảm nhận được cái lớn lao thênh thang của tâm hồn cũng như tiểu thuyết củaTolstoi. Chiến Tranh và Hòa Bình là một cái gì giống như cả cuộc đời rộng khắp, đó là một cái bầu hồ lô thu tóm mọi sự, từ những cái có kích thước bé tí người thường phải dùng kính hiển vi mới nhìn thấy, đến những cảnh tượng hoành tráng của núi non, ruộng đồng, của biến cố lịch sử và ngay cả lòng người. Dostoievsky cho ta những khoái cảm rợn người của bệnh lý, của những chiều sâu thăm thẳm không thể tìm thấy trên bề mặt của cuộc đời bình thường, trong khi với Tolstoi, ta thưởng thức những bức bích họa tỏa ra đầy đủ hơi thở nồng ấm của mọi cảnh huống trong đời sống. Ðọc ông xong người ta cảm thấy hai chân mình đứng trên mặt đất vững hơn, vì cuộc đời vẫn nồng đượm quanh ta...

Sau năm 1975, khi cuộc đời tù đày đã dần dần “ổn định,” nghĩa là không còn ảo tưởng được thả về trong một thời gian ngắn, hơn nữa, hoàn toàn mịt mù về ngày về và tương lai, đám đi tù bắt đầu tìm sách vở để đọc. Gia đình người đi cải tạo có một khuynh hướng chung rất dễ thương trong việc chọn sách gửi vào trại cho người thân, là chỉ gửi sách dịch của các tác giả cổ điển trên thế giới. Hầu như chẳng có một cuốn sách truyện nào của các tác giả miền Bắc, loại sách mang chủ đề “xây dựng chủ nghĩa xã hội” được sáng tác trong các “trại” viết văn, đọc thì thấy rõ mồn một sự gượng gạo giả dối nhiều khi khiến chính người đọc phải ngượng chín cả người. Một số sách dịch của miền Nam cũ cũng được chấp nhận, như các tác phẩm của Dostoievsky, của nhà văn “tiến bộ” Mỹ John Steinbeck (Chùm Nho Uất Hận...). Nhưng sách dịch của nhà xuất bản Văn Học Hà Nội mới đáng kể, đặc biệt các tác giả Nga và Liên Xô bây giờ được dịch thẳng từ nguyên bản tiếng Nga chứ không qua bản tiếng Pháp hay tiếng Anh như miền Nam trước kia.

Vì Tolstoi được Lenin cho là “viên đá tảng” của văn học Nga nên nhà xuất bản Văn Học ở Hà Nội đã giới thiệu ông rất kỹ. Tôi được đọc cuốn Hồi Ký của Tolstoi, trong đó có một chi tiết tôi nhớ mãi đến bây giờ: khi nhớ về thời thơ ấu, hồi ức của Tolstoi vươn tới một điểm xa không ngờ, ông nhớ được cái cảnh và cái cảm giác người ta tắm cho ông trong một thau nước, khi ông mới được sáu tháng tuổi. Tôi cũng thường hay cố hình dung những gì xa nhất trong đời mình mà mình còn nhớ được, thì tôi đoán ký ức của tôi có thể lộn về giỏi lắm là khoảng tôi lên bốn tuổi, trước đó thì hoàn toàn u mê mịt mờ... Có thể Tolstoi là một trường hợp đặc biệt, não bộ và thần kinh ông được cấu tạo khác thường nên đến khi lớn lên vẫn hiện ra những hình ảnh và cảm giác của con người lúc còn rất non nớt.

Dĩ nhiên là họ dịch Chiến Tranh và Hòa Bình, do một nhóm đến bảy tám người phụ trách, chia nhau mỗi nhóm dịch một phần. Chính vì làm việc riêng rẽ như vậy nên bản dịch không được thống nhất, văn phong mỗi cuốn mỗi khác nhau, chỗ hay chỗ dở không đều, thậm chí có khi cùng một nhân vật mà ở đoạn đầu gọi cha mẹ là “bố mẹ,” đến đoạn sau lại gọi bằng “ba má,” và giọng văn khi thì thiên về ngôn ngữ miền Bắc, khi thì miền Trung vùng Huế. Ðiều này cho thấy đối với các tác phẩm văn học lớn và dài hơi không nên chia ra mỗi người hay mỗi nhóm lãnh dịch một phần, vì khi ráp lại sự khác biệt ở mỗi phần sẽ lộ ra rất rõ, dù là có thể có người nhuận sắc lại toàn bộ nhưng chắc chắn không thể xóa đi bản sắc của từng người dịch. Về phương diện này, tôi thấy bản dịch Chiến Tranh và Hòa Bình của Nguyễn Hiến Lê ở miền Nam nghiêm túc hơn, và chắc đó cũng là lý do cách đây vài năm Sài Gòn in lại tác phẩm này thì chọn bản dịch của Nguyễn Hiến Lê chứ không dùng bản của nhà xuất bản Văn Học.

Vì ảnh hưởng của Tolstoi đối với tôi sâu đậm và dài lâu như vậy nên khi đến Nga vào mùa hè năm 2000, nghe nói có thể đi thăm điền trang của ông thì tôi vội sắp xếp thì giờ để thực hiện chuyến đi mà trong thâm tâm tôi coi như một cuộc “hành hương.”

Từ Mạc Tư Khoa đi về hướng nam độ 200 cây số thì đến thành phố Tula, từ Tula theo một con đường nhỏ rẽ về hướng tây độ vài mươi cây số nữa thì đến Yasnaya Polyana, điền trang của Tolstoi. Chúng tôi thuê một chiếc tắc xi từ ngày hôm trước, hẹn đúng bảy giờ sáng hôm sau đến đón. Tài xế tắc xi là một người đàn ông trung niên Nga cao lớn phương phi, chỉ biết nói vài tiếng Anh, mọi chuyện giao thiệp đều do anh Nguyễn Minh Cần là người “bảo trợ” cho tôi trong chuyến Nga du này. Xe chạy xuyên qua thành phố thủ đô giờ đi làm buổi sáng nhưng không hề bị kẹt đường, xe cộ ở đây chưa đến độ quá tải như nhiều đô thị khác trên thế giới. Ra khỏi thành phố, xa lộ chạy giữa một vùng đồng quê rộng rãi phong quang, đặc biệt ít thấy cảnh làng mạc, có lẽ vì đất ở đây rộng quá, xen vào những cánh đồng thường là rừng.

Anh Cần ngồi phía trước cạnh bác tài, hai người trao đổi chuyện trò suốt chuyến đi, và chỗ nào lý thú thì anh Cần dịch cho chúng tôi nghe, và chúng tôi thỉnh thoảng cũng góp chuyện (“chúng tôi” đây gồm có tôi và một người bạn nữa cùng đi với tôi từ Mỹ sang). Bác tài cho biết ông ta chưa đi đến điền trang của Tolstoi lần nào, nhưng tỏ ra biết về tác giả này khá nhiều. Trong một tuần lễ ở Nga, tôi để ý những hiệu sách vào giờ tan sở buổi chiều thường đông nghẹt người, điều đó chứng tỏ người Nga rất chú ý đến sách vở. Anh Cần cũng cho biết “người Nga họ ham đọc sách lắm, trình độ đọc nói chung khá cao, và họ cũng ham thích các môn nghệ thuật khác.”

Vậy việc ông tài xế tắc xi nói về tác phẩm Tolstoi thì cũng không có gì lạ, cũng giống như một người Việt Nam có học nói về truyện Kiều hay Nhất Linh, Khái Hưng. Nhưng vẫn có điều lạ ở người tài xế này, một chuyện rất thú vị có liên quan đến Tolstoi, và duyên đưa đẩy thế nào hôm nay lại là người lái xe đưa chúng tôi đi thăm nhà của văn hào. Ông ta nguyên là diễn viên điện ảnh, do có vóc dáng rất oai vệ nên thường đóng các vai vua chúa, quý tộc, chức sắc tôn giáo, và chính ông đã thủ vai Nga hoàng trong phim Chiến Tranh và Hòa Bình quay từ tiểu thuyết cùng tên của Tolstoi do Liên Xô sản xuất trước đây. Sau cuộc đổi đời của Liên Xô hồi đầu thập niên 90, ông rời điện ảnh, và bây giờ kiếm sống bằng nghề tắc xi. Tôi hỏi ông đã xem phim này do Mỹ sản xuất chưa, ông trả lời đã xem, và cho rằng phim Mỹ thực hiện khá đầy đủ các hình thức của đời sống Nga, nhưng phần tâm hồn Nga thì không thể hiện được bao nhiêu. Tôi tự nhủ về Mỹ thế nào cũng phải tìm cuốn phim Chiến Tranh và Hòa Bình do Liên Xô sản xuất, để xem có nhận ra ông Nga hoàng lái tắc xi này không, nhưng đã một năm rưỡi trôi qua, ý định của tôi vẫn chưa được thực hiện.

Ðọc tiểu thuyết Nga tôi thường gặp địa danh Tula, hình như trong Chiến Tranh và Hòa Bình cũng có, nên khi xe đến thành phố này tự nhiên tôi có cảm tưởng quen thuộc lắm. Phố xá chẳng lấy gì làm diêm dúa và cũng không mang một phong cách đặc biệt nào, vì thế dễ cho người ta cảm tưởng đã bắt gặp một lần ở đâu đó. Vì tài xế không biết rõ đường về điền trang Yasnaya Polyana nên chúng tôi được dịp đi xuyên theo suốt chiều dài của thành phố, để rồi phải quay trở lại mới tìm ra đúng đường. Ðó là một thành phố kỹ nghệ khá lớn, chuyên về sản xuất vũ khí, đường sá xưa cũ và bụi bặm, và chính điểm này đem lại một cảm giác gần gũi cho một du khách Việt Nam. Nhưng khi vào đường nhỏ về thôn quê thì khác hẳn, cảnh hai bên đường xanh tươi thơ mộng, càng đi càng vào sâu với thiên nhiên, bỏ lại ồn ào bụi bặm phía sau.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét