Thứ Hai, 27 tháng 12, 2010

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 12

(1)

Tổng thống Diệm đã ổn định miền Nam Việt Nam như một tảng đá chủ chốt giữ vững cả một vòm trời. Các lực lượng chính trị đồng quy tụ về ông từ mọi hướng khác biệt, nhưng vì có thể dùng lực lượng này để cân bằng lực lượng kia, ông đặt tất cả các phe đảng vào vị trí của họ. Sự quan trọng của hòn đá chủ chốt này chỉ rõ ràng khi nó bị lấy ra, vai trò tối cần yếu của Tổng Thống Diệm chỉ hiển hiện sau khi ông đã qua đời, khi mà toàn hệ thống chính trị miền Nam Việt Nam hoàn toàn sụp đổ.

Những người ủng hộ cuộc lật đổ Ông Diệm trong chính quyền Kennedy đáng ra phải biết một điều mà hôm nay trở thành một sự thực rõ ràng đau đớn: lựa chọn tại Nam Việt Nam đã không xảy ra giữa Tổng Thống Diệm và người lãnh đạo tài ba hơn, mà giữa Tổng Thống Diệm với những kẻ thiếu tài năng hơn.

Mặc dù có những sai lầm, Tổng Thống Diệm có vị thế vô cùng chính danh. Ông là một người lãnh đạo mạnh mẽ cho đất nước đang rất cần người có khả năng lèo lái con thuyền quốc gia. Khi Ông mất rồi, quyền lực tại Nam Việt Nam bỏ trống cho sự tranh giành. Những nhân vật trong chính quyền đã từng nhiệt tâm hoạch định vụ đảo chánh chống Tổng Thống Diệm đã khám phá ngay ra rằng mọi cộng sự viên của họ đều là các lãnh đạo rất tồi. Khả năng cần có để lật đổ một chính quyền không thể sử dụng vào việc điều hành chính quyền. Đứng đầu một cuộc đảo chánh và lãnh đạo một quốc gia là hai điều hoàn toàn khác xa nhau. Sự khủng hoảng lãnh đạo xảy ra ngay sau đó tại Nam Việt Nam là hậu quả trực tiếp của việc Tổng Thống Diệm bị lật đổ.

Trong hai năm, cánh cửa của Phủ Tổng Thống đóng mở như chong chóng. Miền Nam Việt Nam gánh chịu 10 lần thay đổi chính quyền, ngay cả sự thay đổi một số lãnh đạo quân sự cao cấp. Mưu đồ thoán vị trở thành một hình thức chính quyền tại Sài Gòn. Trong một tuần lễ chộn rộn, một chính quyền mới nhậm chức thì một phần tử của chính quyền ấy mưu đồ lật đổ vị chỉ huy, phần tử khác trấn dẹp toan tính này, rồi chính kẻ vừa đập tan kế hoạch đảo chánh kia tiến lên truất phế vị Tổng Tư Lệnh Quốc Gia. Mỗi lần tôi ghé Việt Nam trong thời gian này, tôi lại thấy có một vị Tổng Thống hay Thủ Tướng mới. Tôi chưa bao giờ gặp những người thiếu khả năng một cách đáng thương hơn.

Quân đội miền Nam đã lật đổ không chỉ Tổng Thống Diệm, mà cả Hiến Pháp quốc gia. Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng đảm trách việc chỉ định chính quyền. Chính trị hoạt đầu xảy ra giữa các thành viên. Thay vì trung thành với tổ quốc, người ta trung thành với địa vị cá nhân. Sự đồng nhất giữa chính sách và mục tiêu hoàn toàn không có. Chủ nghĩa cơ hội là lý tưởng chung duy nhất. Các tướng lãnh đã không hề hợp lực để cùng đưa lên các vị lãnh đạo tài năng rồi hết lòng ủng hộ chính quyền này.

Phóng viên báo chí, những người nghĩ rằng điều họ biết là hay nhất, đã luôn luôn diễn tả chính sách của Hoa Kỳ bằng câu “bơi theo Tổng Thống Diệm hay là chết chìm” [“Sink or Swim with Ngô Đình Diệm”]. Miền Nam Việt Nam đã vài lần chòng chành dưới tay quyền Tổng Thống Diệm. Lần này, Nam Việt Nam chìm theo sự sụp đổ chính trị. Cần tới hai năm sau để quyền lực được tái phục hồi trong tay một vị lãnh đạo mạnh mẽ khác, Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

Trong khi các mưu đồ đoạt chính quyền trở thành việc thường xuyên, thì việc chiến đấu bị ngưng trệ. Hà Nội quá mừng rỡ. Tổng Thống Diệm, người đem hết năng lực cá nhân vào việc kiên cường chống Cộng, nay đã bị loại bỏ khỏi cuộc chiến mà Hà Nội không cần phải đụng một ngón tay. Nguyễn Hữu Thọ, người đứng đầu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nói: “Người Mỹ đã làm được việc mà chúng tôi không thể làm trong 9 năm.” Thọ nói thêm trong sự khó tin rằng cuộc đảo chánh là “món quà của trời ban.”

Hồ nắm ngay lấy cơ hội Hoa Kỳ và các tướng lãnh tạo ra cho ông ta. Tài liệu tịch thu được và lời khai của các sĩ quan Bắc Việt đào ngũ cho thấy Hồ đã tin rằng vào thời điểm này Bắc Việt có thể chiến thắng nhanh chóng. Chỉ trong vài tháng, ông ta cho nhiều đơn vị chính quy Bắc Việt xâm nhập miền Nam. Vào mỗi đầu năm, đài phát thanh Hà Nội đều có thói quen tuyên truyền rằng đây sẽ là “năm của chiến thắng.” Năm 1965, sau các biến động chính trị tại miền Nam Việt Nam, Hà Nội tuyên bố năm 1965 sẽ là năm đại thắng.

Sự sống còn của miền Nam trong suốt thời gian này tùy thuộc vào việc họ có thể xây dựng một thể chế vững vàng và khả năng tự vệ trước khi Bắc Việt có đủ sức tấn công một đòn chí tử. Tổng Thống Diệm đã ít nhất lái con thuyền Việt Nam đi đúng hướng. Nhưng tại thời điểm này, chính quyền và quân đội Sài Gòn đang tuột dốc. Trên mọi tỷ số, sức mạnh của Cộng Sản trên chiến trường tăng vọt. Quân du kích Việt Cộng tràn ngập vùng quê. Các lực lượng Cộng Sản bắt đầu thành lập nhiều đơn vị lớn hơn và mở ra các chiến trận theo chiến tranh quy ước. Bên ngoài Sài Gòn, Đà Nẵng, và những thành phố chính, lực lượng Cộng Sản đánh từng tiểu đoàn dự bị của Nam Việt Nam, và chẳng bao lâu thì không còn một lực lượng trừ bị nào cả.

Thời gian không còn nữa. Hoa Kỳ phải hành động ngay. Tổng Thống Kennedy bị ám sát ba tuần sau cái chết của Tổng Thống Diệm. Trên cương vị Phó Tổng Thống, Lyndon Johnson từng phản đối các quyết định của Hoa Kỳ chống lại Tổng Thống Diệm. Ông nói với các phụ tá rằng việc can thiệp phức tạp của người Mỹ vào cuộc đảo chánh là lỗi lầm lớn nhất của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Tại thời điểm này, trong địa vị Tổng Thống, ông phải cố gắng tiếp nối các việc dang dở.

Khi chúng ta ngạo mạn tự cho phép người Mỹ quyền chọn lựa chính phủ Nam Việt Nam, chúng ta cũng đã tự nhận trách nhiệm về định mệnh của họ. Johnson không muốn tạo ra một cuộc chiến Hoa Kỳ hay một chiến thắng của Cộng Sản. Với sự rã rời tại miền Nam Việt Nam, các chọn lựa trên đã nhanh chóng trở thành lựa chọn duy nhất cho Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có thể để Cộng Sản chiến thắng tại Nam Việt Nam, hay gửi thêm quân vào ngăn chống việc này. Chính quyền Kennedy gieo hạt cho mưu đồ đảo chánh và ám sát Tổng Thống Diệm. Bây giờ Hòa Kỳ phải nhận lấy hậu quả cay đắng.

Đa số người Mỹ tin rằng sự kiện xảy ra tại Tonkin Gulf đã châm ngòi cho việc Hoa Kỳ tham dự chiến tranh Việt Nam. Tuy đây là một điểm quan trọng cho sự chuyển hướng, nó không phải là viên đạn khơi chiến của chúng ta.

Tổng Thống Kennedy đã tăng con số cố vấn quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam lên trên 16.000 người vào năm 1963. Các cố vấn này làm nhiều việc hơn là chỉ cố vấn; Kennedy đã cho phép họ tham chiến theo các lực lượng Nam Việt Nam và bắn trả khi họ bị tấn công. Các danh xưng “huấn luyện viên”, hay “cố vấn chiến trường” chỉ là từ ngữ; vào cuối năm 1963, lực lượng chúng ta đã có 612 người tử vong. Tổng Thống Johnson tăng mức tham dự của Hoa Kỳ vào năm 1964. Ông ra lệnh tăng việc thả bom vào đường mòn Hồ Chí Minh tại Lào, và tăng con số cố vấn Hoa Kỳ thêm 7.000 người.

Cuộc tấn công trực tiếp của Hoa Kỳ vào Bắc Việt là sự đáp trả hai lần Bắc Việt tấn công thuyền chúng ta vào tháng tám, 1964. Ngày 2 tháng 8, trong khi tuần dương vịnh Tonkin để thu thập tin tức và khám phá việc Cộng Sản cho người cùng vũ khí xâm nhập lãnh hải Nam Việt Nam, tàu khu trục Maddox của Hoa Kỳ bị 3 tàu phóng thủy lôi của Bắc Việt tấn công. Thuyền của Hoa Kỳ không hề hấn gì, và Tổng Thống Johnson ra lệnh không trả đũa. Tại thời điểm này, Nam Việt Nam đang tiến hành một loạt những tấn công nhỏ vào các căn cứ ven bờ biển Bắc Việt, khởi điểm của những chương trình xâm nhập miền Nam bằng đường biển. Johnson nghĩ rằng Bắc Việt có thể lầm tưởng rằng chiếc Maddox có can dự vào các cuộc tấn công này, tuy lúc ấy chiếc khu trục nằm cách bờ biển 120 dặm. Do đó, Johnson ra lệnh thuyền Hoa Kỳ đi ra xa khỏi lãnh hải Nam Việt Nam hơn nữa. Nhưng ngày 4 tháng 9, thuyền tuần dương Bắc Việt tấn công chiếc Maddox và chiếc USS C. Turner Joy bằng thủy lôi và súng. Chính quyền Johnson ra lệnh trả đũa bằng cách thả bom lần đầu tiên vào các mục tiêu tại Bắc Việt Nam.

Nhiều năm sau, các phóng viên báo chí phản chiến cho rằng sự kiện ngày 4 tháng 8 không hề xảy ra, và kết án Johnson cùng quân đội đã thêu dệt câu chuyện để trực tiếp tham chiến. Trong lúc vài quan sát viên đáng kính của quân đội nêu lên câu hỏi về sự thực của việc tấn công, tôi đã đi đến kết luận rằng sự việc có xảy ra, và không một bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy Hoa Kỳ khiêu khích sự tấn công của Bắc Việt. Ngay cả lịch sử chiến tranh chính thức của Bắc Việt cũng có ghi lại sự việc này. Đô Đốc Hải Quân Thomas Moorer, người trách nhiệm về tàu bè tuần dương, khi được hỏi rằng việc Bắc Việt tấn công tại vịnh Tonkin có thực sự xảy ra không, đã cho biết các viên đạn do Bắc Việt bắn được lấy ra từ mạn tàu Maddox trông rất thực.
Ngày 7 tháng 8, Tổng Thống Johnson, người từng muốn lôi kéo Quốc Hội Hoa Kỳ vào cuộc chiến trước khi có hành động mạnh tại Việt Nam, gửi đến Quốc Hội Nghị Quyết cho Đông Nam Á, còn được biết dưới tên Nghị Quyết Vịnh Tonkin. Nghị quyết này không phải là thủ đoạn hầu có thêm quyền hạn tham chiến, như một vài người đã nói sau này. Đó là một nỗ lực thật lòng mong được sự ủng hộ của Quốc Hội trước khi dấn sâu vào việc tham chiến bắt buộc của Hoa Kỳ.

Sự kiện xảy tại vịnh Tonkin không phải là lý do khiến chúng ta tham chiến tại Việt Nam, cũng như việc chiếc Lusitania bị đánh đắm không phải nguyên nhân Hoa Kỳ dự phần vào Đệ Nhất Thế Chiến. Giải pháp do Johnson đưa ra nói rằng cuộc tấn công là “một phần của sự cố ý của Bắc Việt trong chiến dịch tấn công các nước láng giềng và đồng minh giúp họ bảo vệ tự do.” Quyết nghị là “Quốc Hội chuẩn nhận và hỗ trợ quyết định của Tổng Thống, trong vai trò Tổng Tư Lệnh Quân Đội, để thực thi mọi biện pháp cần thiết chống lại các gây hấn quân sự nhắm vào Hoa Kỳ để ngăn chặn những tấn công tương tự trong tương lai.”

Hoa Kỳ không tham chiến vì hai cuộc đụng độ nhỏ trên biển nhưng vì Bắc Việt Nam đang cố gắng xâm chiếm toàn cõi Đông Dương.

Nhiều người kết án Johnson rằng ông đã không xin Quốc Hội cho phép tuyên chiến. Hầu như chắc chắn rằng Quốc Hội sẽ chuẩn nhận sau các xô xát tại vịnh Tonkin. Nhưng Johnson có nhiều lý do để tránh chính thức tuyên chiến.

Cả Quốc Hội lẫn Ngũ Giác Đài đều không đòi hỏi một tuyên chiến chính thức, vì không ai nghĩ rằng cuộc tranh chấp có thể kéo dài. Johnson tin rằng việc thả bom có chiến thuật tại miền Nam Việt Nam và chiến lược ném bom giới hạn tại miền Bắc Việt Nam sẽ khiến Cộng Sản nhanh chóng ngưng các hành động gây chiến. Ông sợ rằng Trung Cộng sẽ xen vào chuyện Việt Nam như họ đã làm tại Triều Tiên, và sự tuyên chiến chính thức sẽ giúp Việt Nam có được sự viện trợ của cả Trung Cộng lẫn Nga Xô. Cuối cùng, cũng dễ hiểu là Johnson không muốn chiến tranh xảy ra trong năm có bầu cử.

Quốc Hội đồng lòng chuẩn nhận Quyết Nghi Vịnh Tonkin một cách tuyệt đối. Hạ Viện bầu 416/ 0 chỉ sau 40 phút thảo luận. Thượng Viện tranh luận trong tám tiếng đồng hồ và thông qua với 88 phiếu thuận trên 2 phiếu chống. Số phiếu này cho thấy Johnson có sự ủng hộ mạnh mẽ sau chính sách ông đưa ra. Một nhân vật lập pháp sau này trở thành kẻ phản chiến kịch liệt đã tóm tắt cảm tính chung của Quốc Hội như sau: “Có những lúc chúng ta phải đặt câu hỏi về màu cờ,” Thượng Nghị Sĩ Franh Church nói, “và có những lúc chúng ta phải đồng tâm hợp lực hỗ trợ lá quốc kỳ, quyết không để nó bị coi thường. Đây chính là lúc tất cả chúng ta cần phải hợp nhất, quyết tâm đi theo con đường đã chọn.”

Những người hỗ trợ Quyết Nghị Vịnh Tonkin nhưng sau này quay lại chống chiến tranh đã cố gắng tự biện hộ cho chính họ bằng cách kết án Tổng Thống Johnson lừa bịp Quốc Hội về giới hạn quyền lực mà Quốc Hội trao cho ông, hay đã vượt quá quyền hạn mà ông được cho phép. Cả hai trường hợp đều không đúng với sự việc đã xảy ra. Tài liệu ghi chép lại các cuộc tranh luận của Thượng Viện cho thấy Quốc Hội tham chiến với cái nhìn rõ ràng về thời cuộc. Thượng Nghị Sĩ John Sherman Cooper đặt câu hỏi: “Nếu Tổng Thống quyết định rằng đó là điều cần thiết để chúng ta sử dụng sức mạnh có thể dẫn đến việc Hoa Kỳ tham chiến, thì qua quyết nghị này chúng ta sẽ chính thức cho phép điều ấy?” Thượng Nghị Sĩ J. William Fulbright, người điều hướng biện pháp này qua Thượng Viện, trả lời: “Đó chính là cách tôi giải thích.” Thượng Nghị Sĩ Daniel Brewster hỏi “ Quyết nghị này cho phép sự đổ bộ của một lực lượng to lớn của quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam hay Trung Quốc?” Fullbright trả lời rằng đó là điều cuối cùng chính quyền này muốn xảy ra, nhưng rằng “ngôn ngữ của quyết nghị không chống lại điều ấy. Quyết nghị sẽ cho phép vị Tổng Tư Lệnh làm bất cứ điều gì ông cảm thấy cần thiết.” Một trong hai Thượng Nghị Sĩ đã bỏ phiếu chống quyết nghị này, Ernest Gruening, đã khuyến cáo rằng đó là “một sự ủy quyền tương đương với việc Quốc Hội chính thức tuyên chiến.”

Quyết Nghị Vịnh Tonkin không phải là căn bản luật pháp duy nhất cho phép Tổng Thống tiến hành cuộc chiến. Johnson đã hành động theo các điều khoản về phòng thủ an ninh của Liên Minh Phòng Thủ Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization [SEATO]. Và Quốc Hội đã sử dụng quyền lực trong thời chiến của Quốc Hội trong các kỳ bỏ phiếu hàng năm cho ngân quỹ sử dụng vào chiến tranh Việt Nam.

Quốc Hội tái xác nhận sự hỗ trợ cho cuộc chiến vào tháng 3, 1966, một thời gian khá lâu sau khi quân lính Hoa Kỳ đã tham dự sâu đậm vào cuộc chiến trên lãnh thổ Việt. Thượng Nghị Sĩ Wayne Morse đưa ra một biện pháp nhằm giảm sự sử dụng quyền lực của Tổng Thống mà Quyết Nghị Vịnh Tonkin đã cho phép. Johnson dùng dự luật này như một thử thách cho sự hỗ trợ của Quốc Hội đối với chính sách ông đưa ra. Ông thúc giục: “Quý vị Thượng Nghị Sĩ đã thay đổi ý kiến, muốn đảo ngược Quyết Nghị Vịnh Tonkin, thì hãy bỏ phiếu thuận cho tu chính án do Morse đưa ra.” Thượng Viện bỏ phiếu chống tu chính án này – và hỗ trợ cuộc chiến Việt Nam - với 92 phiếu chống, 5 phiếu thuận.

Tháng 7, 1965, 11 tháng sau khi Quyết Nghị Vịnh Tonkin được chuẩn nhận, chúng ta đã cất bước chân định mệnh bước vào vũng lầy của Chiến tranh Việt Nam. Tổng Thống Johnson phải đương đầu với hai quyết định tối trọng yếu cùng một lúc: Ông phải vận động Quốc Hội thông qua chương trình Great Society do ông đưa ra, đồng thời phải quyết định hành động tránh sự sụp đổ trước mắt của miền Nam Việt Nam. Cách ông giải quyết hai vấn đề này đã tạo một khuôn mẫu cho phương thức ông điều hành cuộc chiến, và đã ảnh hưởng lớn lao đến các lỗi lầm chúng ta vấp phải trong chiến tranh Việt Nam.

Cho đến năm 1965, Johnson đã hy vọng rằng các lời nói, chứ không phải hành động, có đủ sức răn đe sự xâm lược của Bắc Việt Nam. “Chúng ta sẽ ở lại Việt Nam khi nào tình thế còn cần thiết,” ông tuyên bố vào tháng tư, 1964, “Với sức mạnh quân sự mà tình thế đòi hỏi, bất kể giá nào, thách thức nào.” Nhưng cũng như Kennedy tại Lào năm 1961, Johnson, mặc cho các tuyên bố sáo rỗng có lớn lao cách mấy, đã ngần ngại không có những hành động quân sự mạnh mẽ tương ứng đi kèm theo lời nói của ông. Gần một năm trời, ông hầu như không sử dụng quyền lực chiến tranh được Quốc Hội uỷ nhiệm qua Quyết Nghị Vịnh Tonkin. Đầu tiên, ông ra lệnh thả bom có giới hạn trên đất Lào và Bắc Việt Nam, rồi ra lệnh đổ bộ thêm lính vào miền Nam Việt Nam, nhưng chỉ đủ để bảo vệ các căn cứ Không quân của Hoa Kỳ. Johnson phạm phải lỗi lầm chết người là cam kết danh dự Hoa Kỳ mà không đảm bảo sự cam kết này bằng các hành động quân sự tương ứng.

Ông đã hy vọng rằng những hành động giới hạn này không chỉ khiến Bắc Việt Nam tìm giải pháp hòa bình, mà còn giúp tăng hiệu quả trong chiến trận của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và giúp họ lên tinh thần. Hy vọng này của ông trở thành thất vọng. Với miền Nam Việt Nam bên bờ suy sụp, sự lên tinh thần không đủ sức chuyển hướng, và Hồ Chí Minh không bao giờ muốn hòa giải, chỉ nhất tâm đạt cho được chiến thắng quân sự.

Vào mùa hè 1965, Bắc Việt Nam bắt đầu một chiến dịch tổng hợp toàn diện cho chiến thắng sau cùng. Đến lúc này, để thực thi lời hứa bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam, Johnson quyết định ông phải xây dựng một lực lượng quân sự khổng lồ tại miền Nam và ra lệnh cho quân lính Mỹ trực tiếp tham chiến trong cuộc chiến tranh du kích. Quyết định này biến cuộc chiến thành chiến tranh của Hoa Kỳ, không còn là cuộc chiến của miền Nam Việt Nam nữa.

Tuần lễ quan trọng nhất cho nhiệm kỳ của Tổng Thống Johnson bắt đầu ngày 21 tháng 7, 1965. Vị Tổng Thống này từ lâu đã bị giằng xé giữa các nhu cầu trái ngược về chiến tranh Việt Nam và chiến tranh với sự nghèo khó của Hoa Kỳ. Đây là lúc ông phải đặt lại ưu tiên.

Ngày 21 tháng 7, Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara báo cáo với Hội Đồng Bảo An rằng bức tranh quân sự đang xuống dốc một cách nhanh chóng. Ông đề nghị Tổng Thống gửi thêm 100.000 lính sang Việt Nam vào tháng 10, và nói rằng có thể cần thêm 100.000 nữa vào đầu năm 1966. Mc.Namara cũng đề nghị chính quyền xin phép Quốc Hội cho gọi sẵn 235.000 lính từ lực lượng trừ bị.

Chi phí tổng cộng cho tất cả các điều này là 8 tỷ mỹ kim. Tổng Thống Johnson có thể tìm được số tiền này hoặc bằng cách xin Quốc Hội chuẩn nhận ngân quỹ tiếp trợ, hoặc bằng cách thay đổi các ngân khoản chi tiêu trong ngân quỹ của Pentagon. Khi Johnson dự định sự gia tăng nhanh chóng của vai trò Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, ông cũng phải quyết định vận động toàn dân Hoa Kỳ hỗ trợ cho cuộc chiến. Trong khi ấy, dự án Great Society của ông đang bị giằng co tại Quốc Hội. Trong tuần lễ 21 tháng 7, hai phần quan trọng chính của chương trình đối nội do Johnson đề nghị - dự luật dân quyền và Medicare – đang ở giai đoạn cực kỳ quyết định trên bàn Hội Nghị. Sau đó còn thêm 26 dự luật quan trọng khác đang được bàn luận tại Hạ Viện và Thượng Viện, với 11 dự luật đang chờ được đem vào chương trình nghị luận.

Tổng Thống Johnson biết rõ dự án Great Society và Chiến tranh Việt Nam đang ở hai chiều đối nghịch. Ông bị thuyết phục rằng bất cứ hành động nào thiên về cuộc chiến cũng làm giảm hy vọng cho chương trình đối nội ông đưa ra. Sau này, trong sự mệt mỏi tột cùng, Johnson đã nói: “Nếu tôi bỏ người đàn bà tôi thật lòng yêu thương – chương trình Great Society - để theo đuổi con mụ nạ dòng chiến tranh ở tận bên kia địa cầu, tôi sẽ tự đánh mất tất cả mọi thứ tôi đã có tại nhà.” Trên một phương diện, nếu Johnson để mặc cho Bắc Việt thắng trận, cuộc tranh luận gay gắt về ai đã làm mất miền Nam Việt Nam sẽ phá hỏng các chương trình ông vạch sẵn trong “The Great Society” . Mặt khác, nếu ông dồn hết sức vào việc thắng trận trong cuộc chiến, phe bảo thủ sẽ dùng đó như một lý lẽ để phá vỡ dự án đối nội của ông. “Lịch sử có quá nhiều trường hợp mà tiếng la của kẻ phá hoại kết liễu ngay lập tức mọi giấc mơ và hy vọng của những nhà cách mạng tài ba nhất.” Johnson đã nói với một người viết tiểu sử cho mình như vậy. Ông thêm rằng, khi cuộc chiến Việt Nam bắt đầu, “tất cả các nhân vật bảo thủ tại Quốc Hội sẽ dùng nó làm khí giới chống lại chương trình Great Society.”

Thực là một thảm cảnh cho Johnson. Ông không thể để bị thua trong cuộc chiến, và cũng không thể làm mọi điều có thể để thắng trận. Ông đã làm một quyết định tồi tệ nhất: Ông sẽ tiếp tục cuộc chiến – không phải để thắng trận, mà chỉ để không bị thua.

Johnson quyết định theo đuổi chính sách giữa súng đạn và cơm áo. Ông dành cho chương trình đối nội Great Society nhiều ưu tiên hơn cuộc chiến Việt nam, và cố gắng điều khiển cuộc chiến một cách im lặng. Khi ông chuẩn nhận việc tăng thêm các hành động quân sự, ông nói với Hội Đồng Bảo An rằng ông không muốn “làm lớn chuyện và tạo chú ý.” Nỗi lo lắng của ông không phải vì sợ các tuyên bố hung hăng sẽ đưa đến việc đối đầu với các thế lực quốc tế, mà là sợ một cuộc tranh luận trước công chúng sẽ làm hỏng kế hoạch đối nội của ông.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét