Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 11 (Tiếp theo)

Trong một cuộc điều tra của Liên Hiệp Quốc về lời cáo buộc Tổng Thống Diệm, hai phật tử trẻ đã được ngăn không cho tự thiêu cho biết Thượng Tọa Trí Quang và Giáo Hội Phật Giáo đã chiêu mộ họ như thế nào. Cả hai được kể cho nghe những câu chuyện kinh sợ rằng chính quyền Diệm đốt phá chùa chiền, đánh đập, tra khảo, moi ruột người theo đạo Phật. Một phật tử kể rằng kẻ chiêu dụ họ đã cho biết “Hội Phật Giáo phụng sự cho Cộng Sản và cần có 10 thiện nam tín nữ tình nguyện tự thiêu”. Sau khi gia nhập, phật tử này được cho biết “ban tổ chức tự thiêu sẽ lo liệu hết mọi việc.” Điều này gồm có đưa cho em một áo cà sa tẩm xăng, lái xe đưa em đến một địa điểm thật đông người để việc tự thiêu được nhiều sự chú ý nhất, và viết hộ em thư phản kháng chính quyền để sau khi em tự thiêu thì họ sẽ tận tay phân phối cho báo chí.

Phật tử kia, đến từ vùng làng quê xa xôi, nói anh rất kinh hãi khi người chiêu dụ cho biết chính quyền Diệm đã đốt cháy các chùa tại Sài Gòn. Anh tình nguyện tự thiêu vì được cho biết rằng khi tử vì đạo như vậy, anh sẽ được đản sinh lại thành Phật. Anh được đưa đến thành phố, chỉ dẫn tường tận các lộ trình không có chùa dẫn đến địa điểm tự thiêu. Khi phải thay đổi lộ trình vào phút chót vì đường bị chặn lại, anh đi ngang qua một ngôi chùa nơi đông đảo tín đồ đang dự lễ một cách bình an. Anh đã tỉnh ngộ và tự đến trình diện cảnh sát.

Y như đã lừa dối thế giới, Trí Quang đánh lừa ngay cả các nạn nhân tự thiêu để đạt được mục tiêu chính trị cuối cùng. Sau khi Tổng Thống Diệm đáp ứng mọi yêu cầu, Trí Quang tiếp tục gia tăng các đòi hỏi vô lý chỉ cốt kéo dài cơn khủng hoảng. Ông ta chỉ cố tình tạo tranh chấp, chứ không chủ trương hòa giải. Một vị sư tại Xá Lợi hỏi phóng viên báo chí: “Cần có bao nhiêu vụ tự thiêu để có thể lật đổ Ngô Đình Diệm?”

Trí Quang không che đậy mục đích của mình. Ông ta đã bị người Pháp bắt hai lần vì cộng tác với Việt Minh. Ông xác nhận rằng sau 1945, ông đã làm việc cho các hội đoàn Phật Tử gồm toàn những tổ chức mặt trận Cộng Sản để hỗ trợ cho quân đội của Hồ. Ông là đồ đệ của Thích Trí Độ, nhà sư trụ trì một chùa do Cộng Sản kiểm soát tại miền Bắc Việt Nam, và từng tuyên bố Phật Giáo hoàn toàn có thể sống chung hòa bình với chủ nghĩa Cộng Sản. Có lần, một phóng viên hỏi Trí Quang việc dẫn dụ các vị sư trẻ tự thiêu một cách đau đớn có ngược với lương tâm và đạo đức không. Trí Quang rùn vai trả lời rất thẳng thắn: “rất nhiều điều cần phải làm cho công cuộc cách mạng.”

Nhiều cơn cuồng nộ của quần chúng bùng nổ tại Mỹ và Âu Châu khi các vụ tự thiêu xảy ra. Các tường thuật ly kỳ đầy cảm tính của truyền thông làm tình trạng càng thêm bi thảm. Những vụ tự thiêu này là các thủ đoạn chính trị do vài kẻ cực đoan dàn dựng, thế nhưng truyền thông đã lớn tiếng thổi phồng lên rằng đó là tiếng nói chính thức của tất cả phật tử miền Nam Việt Nam. Báo chí tôn sùng Phật tử là những thánh nhân bị đàn áp, trong khi thế giới kết án nạn nhân chính trị của họ: Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Đa số bình luận gia gán liền những vụ tự thiêu này với sự đàn áp của chính quyền Diệm. Không ai để ý đến việc con số tự thiêu vẫn tiếp tục gia tăng sau khi Tổng Thống Diệm đã bị lật đổ. Những Phật Tử quá khích đã tìm cách triệt hạ ông Diệm không phải vì bị đàn áp tôn giáo, nhưng vì Tổng Thống Diệm đã cản đường không cho Cộng Sản xâm lăng miền Nam Việt Nam.

Tin tức truyền thông về các đàn áp Phật giáo đạt được hiệu quả của nó: làm cho người Mỹ có ác cảm với Tổng Thống Diệm. Một trong ba lý do Bộ Trưởng Ngoại Giao Dean Rusk vâng lệnh khi chính quyền Kennedy quyết định bỏ rơi Tổng Thống Diệm lần đầu tiêu vào tháng 8, 1963 là do áp lực của dân chúng Hoa Kỳ.

Khủng hoảng Phật Giáo gia tăng nhanh chóng vào ngày 21/8/1963, khi Tổng Thống Diệm cho Lực lượng đặc biệt của ông đến khám các chùa là trung tâm của sự phản kháng Phật Giáo. Tổng Thống Diệm không nhằm vào một cá nhân Phật tử nào; ông có thừa khả năng dẹp tan bất kỳ một nhóm nào công khai muốn lật đổ chính phủ. Lực lượng của ông không làm tổn hại đến sự linh thiêng của chùa chiền. Không một ai bị giết. Họ chỉ tạm đóng cửa Chùa Xá Lợi, trung tâm chỉ huy chính trị của nhóm phản kháng. Tổng cộng có 12 chùa trong số 4.776 chùa tại miền Nam Việt Nam bị thanh trừng. Tại đây, quân đội chính phủ thu nhặt được giáo, mác, súng, khuôn nhựa để chế tạo bom, cùng với nhiều tài liệu cho thấy nhóm Phật Giáo quá khích có liên hệ mật thiết với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Lúc này các cố vấn của Kennedy đã hoàn toàn lầm lẫn. Họ kết án Tổng Thống Diệm là đàn áp. Ngay cả đến gần đây một viên chức cao cấp của Hoa Kỳ vào thời ấy đã cho thấy sự thiếu hiểu biết của ông khi nói về cơn khủng hoảng Phật Giáo năm 1963 như sau: “Vị Tổng Thống theo đạo Công Giáo của Pháp đã tấn công vào các chùa chiền, giết các nhà sư và ni cô Phật Giáo”. Cái nhìn này thật điển hình và hoàn toàn sai lạc so với mọi dữ kiện đã xảy ra trong thực tế. Nhóm cố vấn chống đối Diệm của Kennedy đã không chịu tin vào các tường trình có đầy đủ dữ kiện cân bằng cả hai phía trong cơn khủng hoảng do chính Đại Sứ Frederick Nolting gửi về, mà thay vào đó, lại dựa vào các báo cáo của phe phóng viên chống đối Diệm. Roger Hilsman, phụ tá tiểu ban đối ngoại Đông Á, tổng kết thái độ của chính quyền Kennedy khi ông tuyên bố: “Sau việc đóng cửa chùa chiền ngày 21 tháng 08, tất cả các dữ kiện khác đều không đáng để ý nữa.”

Với sự thật không còn đáng để ý cho giới làm chính sách, chính quyền Kennedy bước vào việc soạn ra cách chiến lược tạo đầy thảm họa. Chính sách chống đối Tổng Thống Diệm không hoàn toàn được đồng thuận. Phó Tổng Thống Johnson, Tổng Giám Đốc CIA John McCone, và Đại Tướng Maxwell Taylor lên tiếng phản đối chính sách này. Nhưng 3 ngày sau khi các chùa bị kiểm soát, một liên minh quan trọng gồm nhiều nhân vật cao cấp hàng đầu bắt tay vào việc làm đưa đến kết quả là cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, một hành động quá vội vàng thiếu cân nhắc đến các hậu quả. Không ai để ý đến sự thiếu khả năng và kém tư chất của những nhân vật họ sử dụng trong cuộc đảo chính. Không một vị tướng nào trong nhóm này có thể sánh được với Tổng Thống Diệm về tài lãnh đạo.

Vào ngày 24/08/1963, Harriman, Hilsman, Rusk, và Phụ tá Bộ Trưởng Ngoại Giao George Ball cùng soạn một điện văn đến Henry Cabot Lodge, Đại sứ Hoa Kỳ tân nhiệm tại Sàigon. Kennedy đồng thuận qua điện thoại từ nhà nghỉ mát của ông tại Hyannisport. Điện tín đại ý tình trạng tại thời điểm này đã đi đến chỗ không thể chấp nhận được, và em ruột cũng là cố vấn thân cận nhất với Tổng Thống Diệm, Ngô Đình Nhu, người mà nhóm của Kennedy cho rằng trực tiếp trách nhiệm trong vụ thanh trừng chùa chiền, phải được thay thế. “Chúng ta mong muốn đưa cho Diệm một cơ hội hợp lý để thay thế Nhu,” điện văn nói, “nhưng nếu ông ta vẫn ngoan cố, thì chúng ta sẵn sàng chấp nhận hậu quả rõ ràng là chúng ta không còn có thể tiếp tục hỗ trợ Diệm. Đại Sứ có thể cho các lãnh đạo quân sự biết là chúng ta sẽ trực tiếp hỗ trợ họ vào bất cứ lúc nào trong lúc guồng máy chính quyền bị gián đoạn.” Điện tín cũng thêm rằng Lodge nên: “Cấp tốc nghiên cứu mọi khả năng lãnh đạo khác và soạn thảo chương trình chi tiết cho việc thay thế Diệm nếu trường hợp này trở nên cần thiết.”

Nội dung của điện văn không thể nhầm lẫn được. Vì tất cả mọi người đều biết Diệm sẽ không bao giờ sa thải bào đệ Nhu, Lodge đã hiểu rằng đây là một lệnh trực tiếp từ cấp cao nhất để sửa soạn cuộc đảo chánh Tổng Thống Diệm. Một điện tín khác có tính cách làm rõ nghĩa điện tín đầu tiên được gửi đến Lodge vài ngày sau đó, nhưng đã quá muộn để giảm vận tốc các biến chuyển đang xảy ra tại Saigon. Nòng súng kề vào đầu Tổng Thống Diệm đã nổ, và viên đạn đã bắn đi không thể thu hồi. Lodge là một đại sứ có hiệu quả, và ông ta đã thi hành mệnh lệnh. Ông ra lệnh cho CIA tại Saigon liên lạc với thành phần lãnh đạo quân đội. Nhiều tướng miền Nam sau này chứng thực rằng họ đã được viên chức Hoa Kỳ đánh tiếng về việc có thể lãnh đạo cuộc đảo chánh vào mùa Hè 1963.

Ngày 29 tháng 08, Kennedy bảo nhân viên Hội Đồng Bảo An rằng ông tán đồng ý tưởng một cuộc đảo chánh nếu chắc chắn sẽ thành công. Lodge đã báo cáo diễn biến cuộc đảo chánh. Trong một điện tín cho Rusk, Lodge viết: “Chúng ta đã khởi động một ngã quành không thể nào quay lại trong danh dự: cuộc lật đổ chính quyền Diệm.” Ông thêm, “Khả năng thành công trong việc tạo ra một cuộc đảo chánh của các Tướng lãnh tùy thuộc vào họ một phần, nhưng cũng tùy thuộc vào chúng ta một phần không kém quan trọng.” Rusk cho Lodge toàn quyền quyết định ngưng viện trợ cho Diệm bất kỳ lúc nào Lodge thấy thích hợp, và ra lệnh cho Lodge làm bất cứ chuyện gì cần thiết để “gia tăng khả năng thành công của cuộc đảo chánh.” Rusk cũng ra lệnh cho Tư Lệnh quân sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn thành lập liên lạc với các vị chỉ huy cuộc đảo chánh và duyệt lại kế hoạch của họ. Một kế hoạch bị hỏng vào cuối tháng tám, nhưng các tướng lãnh nhanh chóng tái phối trí.

Trong khi đó, Hoa Kỳ không ngừng gia tăng áp lực thẳng lên Tổng Thống Diệm. Các dân biểu Hoa Kỳ đến Việt Nam mà không thèm đếm xỉa gì đến vị Tổng Thống. Lodge cho phép Trí Quang “tỵ nạn chính trị” tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. CIA ngưng hỗ trợ cho các lực lượng quân sự của Việt Nam Cộng Hòa. Nhà Trắng chính thức công bố ngưng viện trợ cho việc tài trợ các nhập cảng thương mại của Nam Việt Nam. Trong một cuộc phỏng vấn, Kennedy nói chính quyền miền Nam Việt Nam cần thay đổi chính sách và “có lẽ nên” thay đổi nhân sự. Chính quyền Kennedy làm đủ mọi cách để biểu lộ sự bất tín nhiệm của họ đối với Tổng Thống Diệm, và tránh mọi hành động có thể giảm ấn tượng rằng họ đón chờ một thay đổi trong chính quyền miền Nam.

Ngày 1 tháng 11, 1963, lính của Đại Tướng Trần Văn Đôn và Đại Tướng Dương Văn Minh chiếm Dinh Độc Lập. Bốn ngày trước đó, Lodge đã hỏi những người hoạch định cuộc đảo chính rằng họ có cần gi không, và trấn an họ rằng người Mỹ sẽ hỗ trợ họ sau khi sự việc xảy ra. Xuyên suốt cuộc giao tranh, một viên chức CIA giữ liên lạc thường trực với Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đã luôn luôn có mặt tại trung tâm đầu não của lực lượng quân sự. Diệm và Nhu tạm thời trốn tránh các tướng lãnh và chỉ đầu hàng khi Lodge và các tướng cam kết sẽ đảm bảo an ninh cho họ. Nhưng sau khi họ đầu thú, các tướng đã ám sát họ không thương tiếc với vũ khí của Hoa Kỳ ngay bên trong chiếc xe bọc sắt do chính Hoa Kỳ sản xuất.

Chính quyền Kennedy đã kết luận rằng phải lật đổ Tổng Thống Diệm vì ông ta đã hoàn toàn không biết ý dân. Nhưng trên thực tế, chính Kennedy và các cố vấn của ông là những người bị lầm lạc. Kennedy đã giật mình khi nghe tin Tổng Thống Diệm bị các tướng ám sát, nhưng đáng ra ông không nên ngạc nhiên. Việc Tổng Thống Diệm bị ám sát không phải là một tai nạn ngẫu nhiên. Những kẻ mưu phản người lãnh đạo được dân chúng yêu thích thường thường “bắt buộc phải” giết vị lãnh đạo này để phòng trường hợp họ tái thu hồi quyền lực. Đại Tướng Minh sau này giải thích: “Không thể để cho ông Diệm sống được, vì ông ta được sự yêu kính của quá nhiều người dân thường tại vùng quê, nhất là các giáo dân công giáo và những người Bắc di cư.”

Phó Thủ Tướng Trần Văn Hương, người cầm quyền vỏn vẹn 3 tháng giữa những biến động chính trị cuối năm 1964, đồng ý với Minh, tuyên bố: “Các tướng lãnh biết rất rõ rằng họ không có tài, không có đức, và không được quần chúng ủng hộ, họ không thể ngăn chặn một cuộc trở lại ngôi vị ngoạn mục của Tổng Tống và ông cố vấn Nhu nếu hai người này còn sống sót.”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét