Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

ĐỪNG LẶP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAMS)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 10 (Tiếp theo)

Sự thất bại của chúng ta trong việc ngăn ngừa Bắc Việt Nam thành lập đường mòn Hồ Chí Minh tạo ra nhiều hậu quả chết người. Hà Nội đáng lẽ đã không thể nào theo đuổi cuộc xâm lăng như họ đã tiến hành tại miền Nam Việt Nam nếu không thể tự tung tự tác tràn xuống dọc theo lãnh thổ Lào. Nếu Cộng Sản bị ngăn chặn không thể dùng Lào và Cao Miên làm trạm chuyển quân cho sự xâm lăng, họ đã phải tấn công vượt qua 40 dặm vùng phi quân sự giữa Bắc và Nam Việt Nam. Trên mặt trận giới hạn này, Nam Việt Nam sẽ dễ dàng tự phòng thủ mà không cần đến sự trợ giúp của lực lượng quân sự Hoa Kỳ.


Sự vi phạm trắng trợn của Hà Nội với Hiệp ước Geneva năm 1962 đã gia tăng chiều dài của tiền tuyến mà Sài Gòn phải chống trả từ 40 dặm lên đến 640 dặm. Sự giới hạn đơn phương của chúng ta đưa vào tay Bắc Việt một nơi ẩn náu an toàn để từ đó họ có thể tấn công các lực lượng Nam Việt Nam.

Ban đầu, khi Cộng Sản chiến đấu theo các đơn vị du kích, họ có thể chọn tiêu điểm, theo kế hoạch đánh rồi chạy, và rút lui vào các rừng núi dọc biên giới để chờ tiếp viện. Sau này, khi họ dùng cả sư đoàn theo chiến tranh quy ước, họ có thể tập trung những lực lượng tấn công vô cùng mạnh mẽ phía sau biên giới Việt Lào để tấn công các đồn binh Nam Việt Nam đang phải hết sức tử thủ. Sự thất bại của chúng ta trong chiến lược tại Lào đã cho phép Hà Nội có thế thượng phong về chiến lược và chiến thuật.

Giá như Hiệp định Geneva thực sự biến Lào thành một xứ trung lập như trái độn, các vấn đề của chiến tranh Việt Nam đã được thu nhỏ thành những điều dễ giải quyết. Điều ấy đã không xảy ra, nhưng chúng ta cứ làm bộ như đó là sự thực. Chúng ta xem định mệnh của Lào đứng hạng nhì so với Nam Việt Nam. Nhưng cả hai vùng đất này không thể tách rời. Chiến tranh du kích bùng nổ tại miền Nam Việt Nam. Cộng sản Bắc Việt là kẻ chủ mưu và lực lượng chính quy đằng sau Mặt Trận Giải Phóng, và bộ đội cùng vũ khí được tiếp vận qua đường Lào.

Vì chúng ta cho phép đường mòn Hồ Chí Minh ngang nhiên trở thành xa lộ cho Hà Nội tấn công và xâm lăng miền Nam, chúng ta cho phép Hồ Chí Minh ngồi vào thế thượng phong trong cuộc chiến Việt Nam.

Hoa Kỳ phạm lỗi lầm trọng yếu thứ ba tại Nam Việt Nam vào năm 1963. Chính quyền Kennedy, ngày càng bực bội với Tổng Thống Diệm, đã khuyến khích và hỗ trợ cuộc đảo chánh quân sự nhằm lật đổ chính quyền Diệm. Sự việc đáng xấu hổ này đưa đến kết quả là Tổng Thống Diệm bị ám sát và mở đầu cho một giai đoạn hỗn loạn về chính trị tại miền Nam, buộc người Mỹ phải đem quân vào tham gia chiến cuộc Việt Nam.

Vai trò lãnh đạo của một nước trong Thế giới thứ ba thường có nghĩa là trở thành thù nghịch với nhiều thế lực khác nhau. Tổng Thống Diệm không phải là biệt lệ cho hoàn cảnh này. Ông ta là một người rất cương quyết, đưa ra nhiều chương trình cải tổ sâu rộng cho đất nước. Điều này thường làm mất cảm tình của những phe theo đuổi đường hướng khác vốn xem các cải tổ của Ông là sự đe dọa cho quyền lợi của họ và muốn giữ nguyên tình trạng xã hội.

Như tất cả các lãnh đạo khác, Diệm vấp phải vài quyết định sai lầm. Ông thay các tiên chỉ theo truyền thống làng xã tự trị của Việt Nam với hệ thống Ấp trưởng do chính quyền trung ương bổ nhiệm, xem thường tinh thần xã thôn tự trị vốn là căn bản cho nền dân chủ. Ông triệt hạ nhiều lãnh tụ quân sự và dân sự quan trọng sau cuộc đảo chánh hụt vào năm 1960. Ông bắt đầu cho phép chế độ “gia đình trị” lớn dần trong chính quyền. Và khi nền móng hỗ trợ chính trị mạnh mẽ của dân dành cho ông bắt đầu bị xói mòn, thì ông càng trở nên độc đoán.

Tổng Thống Diệm cương quyết giữ vững các tư tưởng điều hành độc lập của ông, và thường bác bỏ các lời khuyên của cố vấn Hoa Kỳ. Dù sao, ông cũng là một người Việt Nam yêu nước chân chính đầy kiêu hãnh, không chịu “nhận lệnh” từ người Mỹ hay người Pháp. “Hoa Kỳ có một nền kinh tế đáng khâm phục với nhiều điểm hay,” Ông từng nói với một phóng viên. “Nhưng sức mạnh của các ông có đương nhiên cho phép Hoa Kỳ ra lệnh cho mọi vấn đề tại Việt Nam, nơi đang xảy ra một cuộc chiến mà đất nước ông chưa bao giờ có kinh nghiệm?”

Diệm tưởng rằng mặc dù thỉnh thoảng ông có những bất đồng ý kiến với các nhà soạn chính sách Hoa Kỳ, người Mỹ vẫn luôn là một đồng minh đáng tin cậy cho đến phút chót. Ông cũng tưởng rằng Hoa Kỳ không tìm ra được một ai khác có khả năng thay thế sự lãnh đạo của ông. Ông đã lầm trên cả hai phương diện.

Khi Kennedy và các cố vấn của ông ngày càng khó chịu với vị đồng minh cứng cỏi, họ bắt đầu quên mất điểm chính rằng vấn đề không phải Nam Việt Nam có được một nền dân chủ lập hiến hay không, mà sự cần thiết là phải có một chính quyền đủ khả năng đương đầu với sự bành trướng của Cộng Sản, vốn sẽ tiêu diệt mọi nền dân chủ. Vào đầu thập niên 1960, Nam Việt Nam đã bị Bắc Việt tấn công bằng quân sự. Trong lúc các vụ ám sát, bắt cóc, khủng bố, và du kích chiến gia tăng không ngừng, các quan Mỹ lại hành xử như thể quan tâm chính là những gian lận về bầu cử tại phòng phiếu.

Cuộc khủng hoảng đã thuyết phục chính quyền Kennedy bỏ rơi Diệm xảy ra vào tháng Năm, 1963. Sau khi Giáo dân Công Giáo treo hàng chục lá cờ của Vatican trong một buổi lễ cộng đồng tại Đà Nẵng, Diệm, bản thân theo Công Giáo, đã ban hành lật cấm treo cờ quốc gia dưới cờ tôn giáo hay các phe nhóm. Luật này cấm mọi nhóm không được treo cờ riêng cao hơn quốc kỳ trong những sinh hoạt cộng đồng; việc treo cờ của một tôn giáo hay một phe nhóm trong nơi thờ tự riêng biệt thì không bị cấm đoán. Lễ Phật Đản xảy ra 2 ngày sau đó, với nhiều chương trình lễ hội mừng ngày Phật Đản khắp nơi trong nước. Diệm biết rằng nhiều Phật Tử sẽ treo cờ Phật Giáo vì chưa kịp biết đến đạo luật mới, do đó ông ra lệnh không tiến hành đạo luật mới này.
Tiếc thay, lệnh của Tổng Thống Diệm truyền đến Huế quá muộn, và hậu quả là cuộc “Khủng hoảng Phật Giáo” xảy ra. Cảnh sát địa phương hạ nhiều cờ Phật Giáo treo trên Quốc kỳ Việt Nam. Thích Trí Quang, một Thượng Tọa có nhiều hoạt động chính trị hơn tôn giáo và luôn sẵn sàng gây hấn với vị Tổng Thống Công Giáo, đọc một bài diễn văn dài chỉ trích chính phủ Diệm tại chùa của ông trong dịp Lễ Phật Đản.

Phật Tử tại Huế trở thành lực lượng chống đối chính. Ngô Đình Thục, anh ruột Tổng Thống Diệm, mang tiếng là một người cuồng tín. Thượng Tọa Trí Quang đem một băng thu âm bài diễn thuyết chống chính phủ Diệm của ông đến đài phát thanh và đòi hỏi phải được truyền thanh đến dân chúng. Trong lúc ấy, bên ngoài đài phát thanh, một quả lựu đạn nổ giữa đám đông đi theo Thượng Tọa Trí Quang, làm 8 người thiệt mạng. Lãnh đạo Phật giáo kết án quân đội chính phủ đã cho nổ quả lựu đạn do Hoa Kỳ làm ra. Tổng Thống Diệm bác bỏ luận thuyết này, và một nhóm đại diện Hội đồng Liên Hiệp Quốc sau khi điều tra đã xác định rằng vụ nổ không từ một trái lựu đạn, mà từ một loại chất nổ tự chế đựng trong bình nhựa, vũ khí thông dụng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Nhưng nhóm Phật tử do Thích Trí Quang lãnh đạo tiếp tục gia tăng các tấn công chính trị và đòi hỏi Tổng Thống Diệm phải đích thân nhận trách nhiệm cho vụ nổ này.

Tiếp theo, ngày 11 tháng 6, một nhà sư Phật Giáo tự tẩm xăng và hỏa thiêu để phản đối chính quyền Diệm. Ngày sau đó, tấm hình khủng khiếp này - một vị sư tay chắp trước ngực trong tư thế kiết già ngồi giữa biển lửa - chạy trên khắp các trang đầu của mọi báo chí Hoa Kỳ.

Sự tự thiêu của nhà sư là một thủ đoạn xếp đặt sẵn cho truyền thông Hoa Kỳ. Những nhà lãnh đạo Phật Giáo đã đưa tin trước cho giới báo chí và sau khi vụ việc xảy ra đã nhanh chóng chuyển đến giới truyền thông nhiều ảnh chụp và bản sao của lá thư phản kháng chính quyền đồn rằng do chính tay nhà sư viết. Những dàn xếp này không được đăng lên báo. Chỉ duy nhất tấm hình và một hàng chữ xuyên vào óc nhiều người Mỹ: Đàn áp.
Tại thời điểm này một nhóm nhỏ phóng viên Hoa Kỳ nhiều thế lực tại Sài gòn, tất cả đều chống đối Tổng Thống Diệm, đã có khả năng quyết định trên tầm ảnh hưởng của sự việc. Vài người làm cho những tờ báo lớn nhất Hoa Kỳ. Họ chấp nhận mọi cáo buộc chống đối Diệm như tin thánh kinh, và gặp gỡ trao đổi bài viết với nhau cho câu chuyện có sự đồng nhất. Thích Trí Quang đã xem họ như đồng minh, đến nỗi ông ta phổ biến bản sao các bài báo họ viết cho quần chúng để thu hút người theo. Sự kiện vị Tổng Thống miền Nam Việt Nam là một tín đồ Công Giáo khiến ông dễ trở thành kẻ bị họ bôi bác là người đàn áp Phật Giáo. Trong cuộc khủng hoảng này, những phóng viên đã nhất nhất tuân lời và tả Tổng Thống Diệm như kẻ thù của dân tộc, một tàn dư của thực dân Pháp quen thói đàn áp người yêu nước và Phật tử miền Nam. Họ viết rằng 70% dân Việt theo Phật giáo. Sự thực là chỉ có khoảng 30%. (Con số này có thể dựa trên thống kê hay tài liệu chính thức của chính phủ, nhưng trên thực tế, người Việt không kê khai mình theo đạo gì, và đa số người Việt theo Phật Giáo - lời người dịch).

Sự thật, tuy nhiên, không quan trọng đối với các phóng viên này. Tìm cách chê bai chỉ trích Diệm, ngay cả triệt hạ ông, là tất cả ý đồ của họ. Đây là một trong số ít thời điểm của chiến tranh Việt Nam mà chính quyền và truyền thông Hoa Kỳ nhận thấy đang có chung một mục đích.

Vấn đề đàn áp tôn giáo là một sự thêu dệt phức tạp. Diệm bổ nhiệm các nhân viên cao cấp không vì ảnh hưởng của tôn giáo. Trong số 18 Bộ Trưởng, 5 theo Công Giáo, 5 theo Khổng Giáo, và 8 theo Phật Giáo, gồm cả Phó Tổng Thống và Bộ Trưởng Ngoại Vụ. Trong số 38 Tỉnh trưởng, 12 theo Công Giáo, 26 người hoặc theo Khổng Giáo hoặc Phật Giáo. Trong số 19 vị Tướng Lãnh hàng đầu của ông, 3 là người Công Giáo, 16 người kia theo đạo Lão, Khổng, hay Phật. Ông cho phép những Phật Tử được hoãn dịch để hành đạo, trong khi Công Giáo và các đạo khác bị bắt buộc phải thi hành nghĩa vụ quân dịch. Chưa một Phật tử nào bị bắt vì hành đạo, và chưa có một bằng chứng cụ thể nào cho thấy rằng Diệm đàn áp Phật giáo vì kỳ thị tôn giáo.

Chính trị, chứ không phải tôn giáo, là điều trong trí óc của những người tạo ra cuộc náo loạn. Vài người Việt Nam nhiều tham vọng đã đi cạo đầu, khoác áo tu hành, và dàn dựng cuộc khủng hoảng để đẩy mạnh mục tiêu chính trị của họ. Đứng đầu nhóm này là Trí Quang, và họ hoạt động ngay tại chùa Xá Lợi ở Sài gòn. Nơi đây đã mất hẳn vẻ tôn kính. Các máy quay roneo liên tiếp sản xuất các tờ truyền đơn. Những người tổ chức gào to các lời chỉ dẫn và địa điểm để tập họp biểu tình cho ngày hôm ấy. Kẻ đưa tin vội vã tới lui mang theo các biểu ngữ vừa vẽ xong. Nhà báo và nhiếp ảnh gia chạy quanh với hy vọng nghe lóm được địa điểm của nơi tự thiêu kế tiếp. Bất cứ ai nhìn vào cửa chùa có thể thấy ngay Chùa Xá Lợi không còn là nơi thờ phượng hay giảng kinh, mà là một trung tâm chính trị của một phong trào muốn lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét