Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

TƯỜNG THUẬT CUỘC HỘI THẢO “VĂN HỌC HẢI NGOẠI: THÀNH TỰU VÀ TIỀM NĂNG”

Tại nhật báo Việt Báo, Little Saigon, Nam California ngày 27.01.2007

Cam Vũ

Sau hơn 30 năm người Việt Nam ra nước ngoài sinh sống và xây dựng được những cộng đồng vững mạnh về kinh tế và văn hóa, trong đó sinh hoạt viết lách và xuất bản có lúc khá phồn thịnh, có lẽ không ai thấy cần phải đặt vấn đề “có một nền văn học Việt Nam hải ngoại” không, mà chỉ nên hỏi nền văn học ấy như thế nào.


Có người nghĩ rằng văn học là văn học, sao lại phân chia văn học trong nước và văn học hải ngoại. Trong một cái nhìn tổng quát, điều đó đúng. Ðầu thế kỷ trước, một người Pháp sang làm việc tại thuộc địa Ðông Dương, hay một người Anh tại thuộc địa Ấn Ðộ, mà viết tiểu thuyết, thì tác phẩm của các người ấy thuộc về nền văn học Pháp và Anh tại mẫu quốc, chứ không hề có “nền văn học thuộc địa.” Thế tại sao người Việt Nam đi ra nước ngoài thì cứ khư khư đòi khẳng định một nền văn học của riêng mình? Vì hoàn cảnh của chúng ta khác. Chúng ta hoặc bị đuổi chạy, bị đẩy đi, hoặc trốn khỏi nước đểợ ăn nhờ ở đậu xứ người với tư cách những kẻ mất quê hương, vì quê hương bị chiếm đoạt bởi những người theo chủ nghĩa cộng sản là thứ chế độ mà chúng ta, giống như phần nhân loại văn minh của thế giới, không thể chấp nhận về mọi mặt. Người Việt Nam đi tị nạn là để thoát ra khỏi sự áp bức tuyệt đối về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của chế độ cộng sản, vậy sự ra đi đó tự nó bao hàm một nội dung khác về con người và cuộc đời, xây dựng từ hai bàn tay trắng trên đất lạ một loại tinh thần Việt Nam khác với trong nước. Tinh thần đó có thể là nối tiếp truyền thống Việt Nam, có thể là sáng tạo nên cái mới dựa trên cái nền cũ, nhưng chắc chắn chúng ta không phải là những con ngựa bị che hai bên mắt chỉ biết cắm cổ chạy theo cái roi chỉ đường của đảng cộng sản. Chúng ta sống, sáng tác, với tư cách là những con người tự do. Chúng ta có nền văn học của chúng ta, dù hay dù dở dứt khoát đó không phải là văn học dưới cây gậy chỉ huy của bất cứ ai. Người cầm bút hải ngoại biết chắc chắn rằng những điều mình viết chỉ bắt nguồn từ chính trái tim của mình, khối óc của mình, cái nhìn của riêng mình, cảm hứng thẳm sâu từ lòng mình; mình không nhận mệnh lệnh hay giáo điều từ bất cứ nơi đâu, không phải né tránh điều gì. Vì thế rất khác với hoàn cảnh văn học trong nước. Vì thế, ít nhất trong tình hình hiện nay (năm thứ 32 sau 1975) không thể đánh đồng hai luồng văn học trong và ngoài nước Việt Nam với kiểu nhận định rất chung chung “văn học nào cũng là văn học.”

Và, vì thế, chúng ta mới nói rằng có một nền văn học Việt Nam hải ngoại.

Những mức độ gọi là “cởi trói” của giới cầm quyền cộng sản chỉ là hành động “nới lỏng giây,” anh chị em viết văn trong nước chưa bao giờ được cởi khỏi hẳn các vòng giây quấn quanh mình. Tự thâm tâm, người cầm bút chân chính trong hay ngoài nước có lẽ có những ước vọng không khác nhau trong việc sáng tác những tác phẩm cho văn học Việt Nam, nhưng trong thực tế những khác biệt về khí hậu chính trị lẫn nếp sống chắc chắn đóng vai trò rất lớn để tạm thời tạo nên tình trạng giống như câu hát của Ðặng Thế Phong ngày xưa: “Trên con sông Thương nước chảy đôi dòng...” Cùng một con sông mà có hai dòng nước, chúng ta không nói bên nào đục bên nào trong theo cái nghĩa đánh giá hơn thua, mà chỉ nói là có hai dòng nước tính chất khác nhau cùng chảy song song, và có thể, có những đoạn chảy ngược nhau nữa.

Văn học Việt Nam hải ngoại là một trong hai luồng nước ấy. Ngày 27 tháng Giêng năm 2007, tại Quận Cam, California Hoa Kỳ, bốn tạp chí Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 cùng với diễn đàn văn học nghệ thuật trên mạng www.damau.org và hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) cùng đứng ra tổ chức một cuộc hội thảo mang tên “Văn Học Hải Ngoại: Thành Tựu và Tiềm Năng,” với sự tham gia của khoảng một trăm người thuộc giới văn học tại địa phương Quận Cam và từ xa tới.

Từ nước ngoài, có Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn, Hoàng Ngọc Diệp (Úc), Lê Quỳnh Mai (Canada), Từ các địa phương khác trong nước Mỹ có Trần Hữu Thục tức Trần Doãn Nho (Boston), Nguyễn Thị Thanh Bình (Washington DC), ông bà Trần Hoài Thư (Virginia), Nguyễn Tường Thiết (Seattle), Nguyễn Xuân Hoàng, Lê Thị Thấm Vân, Lê Quế Hương, Trương Thị Thịnh (San Jose), Hoàng Ðình Bình (Alabama)...

Các văn hữu sống trong vùng Quận Cam thì có ông bà Võ Phiến, ông bà Nguyễn Mộng Giác, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Ðỗ Quý Toàn, Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Thị Ngọc Dung, Nguyễn Xuân Nghĩa, Quỳnh Giao, Nguyễn Chí Thiện, Trịnh Thanh Thủy, Cao Xuân Huy, Hoàng Vinh, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hương, Ðặng Phú Phong, Lương Văn Tỷ, Phụng Nghi, Trần Văn Nam, Lữ Quỳnh, Xuân Ðỗ, Trúc Chi, Phan Nhật Nam, ông bà Trần Huy Bích, Chân Huyền, Trần Văn Chi, Ðặng Hiền, Lê Ðình Nhất Lang, Ðỗ Lê Anh Ðào, Lê Ðình Y-Sa, Phùng Nguyễn, Võ Thắng Tiết, Nguyễn Mạnh, Ðặng Thơ Thơ, Phạm Xuân Ðài...

Diễn tiến hội thảo
Cô Lê Ðình Y-Sa, Chủ tịch Hội VAALA, đại diện Ban tổ chức chào mừng tất cả hội thảo viên, ngỏ lời cám ơn sự hỗ trợ của nhật báo Việt Báo đã cho mượn phòng sinh hoạt, một gian phòng đã trưng bày đầy tranh của họa sĩ Ðằng Giao từ Việt Nam mang sang triển lãm, cảm ơn sự giúp đỡ của nhật báo Người Việt về một số phương tiện khác để thực hiện buổi hội thảo. Cô Y-Sa giới thiệu nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca, với tư cách là chủ nhà, lên nói lời chào đón tất cả anh chị em có mặt.

Cũng thuộc ban tổ chức, nhà báo Phạm Phú Minh nói về một cái duyên may, đó là nhân dịp ra mắt Tuyển Tập Võ Phiến vào ngày 28.01.2007, “quần hào” khắp nơi quy tụ về khá đông, nên sáu đơn vị nói trên mới đồng ý với nhau tạo nên buổi gặp gỡ và thảo luận này. Ông giới thiệu các anh chị thành viên của ban tổ chức gồm Nguyễn Xuân Hoàng (tạp chí Văn), Cao Xuân Huy (tạp chí Văn Học), Ðặng Hiền (tạp chí Hợp Lưu), Ðặng Thơ Thơ (website Damau.org), Lê Ðình Y-Sa (VAALA) và chính ông, Phạm Phú Minh (tạp chí Thế Kỷ 21). Ban điều hợp buổi hội thảo được mời, gồm nhà báo Ðỗ Quý Toàn, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, và cô Ðỗ Lê Anh Ðào, một nhà thơ trẻ đang hoạt động trong hội VAALA.

Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc từ Úc sang, được ban điều hợp mời đầu tiên để trình bày phần đề dẫn cho buổi hội thảo. Với cái nhìn của một người nghiên cứu văn học, ông khẳng định nền văn học hải ngoại đã đạt nhiều bước tiến mới mẻ so với trong nước, và sự tự do sáng tác chính là một trong các tiềm năng to lớn mà người cầm bút hải ngoại đang có (xin xem toàn văn bài đề dẫn trong số báo này.)

Các tham luận và ý kiến
(Trích một số ý chính)

Trở lại với cử tọa đang tham dự hội thảo, Ban điều hợp mời người phát biểu đầu tiên, nhà văn lão thành Võ Phiến. Sau đây là nguyên văn bài nói của nhà văn:


“Nói về nền văn học hải ngoại không khỏi có sự liên tưởng đến một nền văn học khác: quốc nội. Thật ra không phải chỉ từ khi có vài ba triệu người Việt Nam thoát nước ra đi dân tộc mới có cùng lúc hai nền văn học khác biệt tồn tại song song.


Từ 1946 đến 2006 là sáu mươi năm. Trong thời gian 30 năm đầu, trên cùng một nước có hai phía: phía cộng sản, phía dân chủ. Mỗi phía một nền văn học khác nhau. Ngẫu nhiên mà cánh cộng sản luôn ở bên ngoài: ngoài khu (trước hiệp định Genève), ngoài Bắc (sau hiệp định Genève). Còn cánh dân chủ lại luôn ở bên trong: trong thành (trước Genève), trong Nam (sau Genève). Rồi trong thời khoảng 30 năm sau đó - từ 1976 đến 2006 - thì phía cộng sản ở trong nước, phía chống cộng có một số thoát được ra ngoài nước.
Thành thử trong vòng 60 năm lúc ta ở trong thì họ ở ngoài, lúc ta văng ra ngoài thì họ tung hoành trong nước. Mỗi lần đổi vị trí phía cộng sản đều được hưởng thuận lợi. Họ kéo theo đông đảo nhân tài, nắm trong tay một lực lượng văn nghệ sĩ hùng hậu vượt hơn hẳn phía dân chủ.


Vào thời khoảng 1946-1955 bao nhiêu danh nhân nghệ sĩ Việt Nam đều ra khu cả, số còn lại trong thành được mấy đâu. Rồi sau 1955, đất nước chia hai, số văn nghệ sĩ thoát được vào Nam thấm gì so với số ở lại ngoài Bắc? Sau cùng khi Miền Nam sụp đổ vào năm 1975, văn nhân tài tử mấy ai thoát thân kịp thời? Ðại đa số kẹt lại cả.


Trong hơn nửa thế kỷ, trải qua ba biến cố lớn (1946, 1954, 1975) lần nào phía cộng sản cũng tóm thu được phần đông đảo nhất, giỏi giang nhất của giới văn học nghệ thuật. Thế mà rốt cuộc thành quả hoạt động thì... Trường phái hiện thực xã hội chủ nghĩa được ca ngợi hết lời, được đem ra nghiên cứu ứng dụng ráo riết, rốt cuộc có được những tác giả và tác phẩm nào có giá trị? Ưu việt bậc nhất một thời là Tố Hữu: tác phẩm của ông đã chết theo tác giả.


Sáu mươi năm văn học cộng sản không có thành tựu lớn. Trái lại, cánh cộng sản đã để xảy ra một biến cố xấu xa: vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Tai tiếng về vụ này có hi vọng được nhắc nhở muôn đời.


Sự việc ở Việt Nam từ 1945 đến nay giữa hai bên cộng sản và dân chủ diễn ra như thể giữa hai tay chơi trên một chiếu bạc. Trên chiếu có một bên ván bài nào thoạt tiên cũng bắt được những lá bài tốt nhất mà rốt cuộc ván nào cũng thua.


Lý do thất bại liên tiếp của phía cộng sản là vì văn học nghệ thuật đố kỵ độc tài.
Văn nghệ không thể phát triển tốt đẹp dưới chế độ độc tài, điều ấy được chứng minh nhiều lần - như đã thấy - ở tại Việt Nam. Văn nghệ kỵ độc tài: nói chung thì vậy, nhưng có thể xét riêng từng mức độ độc tài. Hồi Pháp thuộc có trấn áp, có hạn chế tự do, có kiểm duyệt sách báo, tuy vậy bấy giờ các bộ môn văn học nghệ thuật vẫn phát triển: báo chí ra đời nhiều, các phái nhóm Tự Lực văn đoàn, Hàn Thuyên hoạt động mạnh, văn tài xuất hiện đông đảo. Ðến thời đại cộng sản: có hò hét cổ võ tưng bừng mà hoạt động sáng tạo lại xoàng xĩnh.


Thực dân và cộng sản đều độc tài, nhưng một bên tiêu cực một bên tích cực. Thực dân độc tài bằng cách cấm đoán, cắt xén nghệ phẩm, chứ thực dân không điều khiển, không qui hướng sáng tác, không bắt buộc sáng tác phải theo đúng đường lối nào, trường phái nào. Có thể gọi đó là lối độc tài tiêu cực. Còn cộng sản thì tích cực: Không những cấm làm theo lối này, mà họ còn buộc văn nghệ sĩ phải làm theo cung cách kia đường lối nọ. Nói toạc ra, là phải sáng tác đúng theo hiện thực xã hội chủ nghĩa, một chủ nghĩa được quốc hội Nga xô chấp nhận!


Qua sự tình đã diễn ra, có thể nhận thấy: Ðể văn nghệ tự do tìm đường lối phát triển là tốt nhất. Hạn chế, cấm cản, tất nhiên có ngăn trở sự phát triển; nhưng tệ nhất là khi chính trị ra tay dìu dắt, uốn nắn, lèo lái thì đó là lúc... rồi đời văn nghệ.


Văn nghệ hải ngoại thì được tự do, đó là cái thuận lợi, ta mừng cho nó.


Nhưng ở văn nghệ hải ngoại, yếu tố “hải ngoại” còn đặt thêm những vấn đề cần suy nghĩ. Ðây là chuyện mới mẻ, hi vọng rồi từ từ chúng ta sẽ thấy rõ dần.”

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét