Thứ Sáu, 31 tháng 12, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENEVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 12

An ninh tập thể ở Đông Nam Á và việc Mỹ không can thiệp vào Đông Dương.

Từ tháng 1/1951, trong một cuộc họp giữa ba nước Anh, Pháp, Mỹ ở Washington, đại biểu Pháp đã đề nghị nên tính “làm một cái gì đó để Trung Quốc hiểu rằng một cuộc xâm lược vào Đông Dương sẽ gây ra một cuộc trả đũa tập thể”. Còn đại biểu Mỹ thì đề nghị công bố một lời cảnh cáo long trọng với chính phủ Bắc Kinh mà Pháp cho rằng có lợi cho việc đánh dấu tình đoàn kết giữa các nước đồng minh nhưng cũng “bất lợi là Bắc Kinh có thể giải thích rằng đó là một sự khiêu khích”69.

Một năm sau, tháng 5/1952, Phủ cao ủy Pháp tại Đông Dương và Bộ phụ trách quan hệ với các quốc gia liên kết đã nêu lại vấn đề và đưa ra ý kiến về một bản tuyên bố Anh-Pháp-Mỹ “trong đó ba cường quốc trình bày những mục đích hành động của họ ở Đông Nam Á và nhất là khẳng định lại ý chí kiên quyết giúp đỡ các quốc gia trong vùng được độc lập hoàn toàn, bảo vệ họ chống sự đe dọa của bên ngoài và bên trong và cuối cùng, xây dựng lại nền kinh tế của họ”70. Mục đích dài hạn của dự án là giành được việc ký kết một hiệp ước tương trợ giữa các cường quốc hữu quan về Đông Nam Á và mở rộng sang khu vực này nhưng nghĩa vụ và [118] bảo đảm đã có đối với khu vực Bắc Đại Tây Dương”. Nhưng trước mắt có lẽ thực tế hơn nếu ấn định một mục tiêu ít tham vọng hơn dưới hình thức một tuyên bố, tương tự như Hiến chương Đại Tây Dương năm 1940, có thể gọi là Hiến chương Thái Bình Dương. Australia và New Zealand phải được mời tham gia. Giữa năm cường quốc có thể thành lập một cơ quan liên lạc quân sự, kinh tế và chính trị71.

Cuối tháng 5/1952, trong cuộc họp ba bên ngày 28, Bộ trưởng ngoại giao [Dean Gooderham] Acheson đã giải thích rằng chính phủ Mỹ đang định rõ chính sách nhằm ngăn ngừa mọi sự mở rộng mối đe dọa quân sự của Trung Quốc ở Viễn đông. Mỹ luôn luôn nghĩ đến việc gửi một lời cảnh cáo chung của ba nước đồng minh72. Từ đó đối với chính phủ Paris, những ý muốn của Washington có lẽ có thể điều hòa được với dự án của Pháp. Lúc bấy giờ, Vụ chính trị Bộ Ngoại giao Pháp nhận xét “theo cách nào đó, chúng ta hãy thử quy tụ vào một hướng những ý định cùng Mỹ đối với Trung Quốc, trút bỏ cái mũi nhọn hiếu chiến và thay bằng một bản tuyên bố long trọng về viện trợ quân sự, chính trị và kinh tế cho các quốc gia Đông Nam Á (…)”73. Giữa tháng 6, hội đồng chính phủ Pháp đã xác nhận những đề nghị của Bộ ngoại giao và, từ cuộc họp các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ba nước Anh, Pháp, Mỹ ngày 27/6/1952 ở London, Robert Schuman đã báo [119] cho các đồng nghiệp của ông về ý muốn của Pháp74. Các cuộc thăm dò đã được tiến hành ở London và Washington bằng con đường ngoại giao, người ta nhấn mạnh cần phải ngăn ngừa tuyên truyền cộng sản có nguy cơ phát triển nhân có Đại hội hòa bình sẽ họp ở Bắc Kinh75.

Nhưng London, tuy có thiện cảm với gợi ý của Pháp, lại đánh giá rằng thời cơ chưa thuận lợi và muốn đợi kết quả hội nghị quân sự giữa các nước đồng minh, dự kiến sẽ họp ở Washington vào tháng 10. Về phần Mỹ, họ mong muốn được giải thích rõ ràng dự án của Pháp và trước hết cần nghiên cứu tường tận tình hình quân sự ở Đông Nam Á trước khi dính líu vào76.

Cuối cùng, vào tháng 9/1953, Pháp ngả theo ý kiến của Anh và quyết định chờ xem kết quả của các cuộc hội đàm quân sự tại Washington77. Chỉ đến cuối năm 1952, người ta mới mở lại hồ sơ đó. Nhưng việc J. Dulles thay D. Acheson ở Bộ Ngoại giao Mỹ và G. Bidault thay R. Schuman ở Bộ ngoại giao Pháp vào tháng 1/1953, rồi những triển vọng về đình chiến ở Triều Tiên, nhất là diễn biến tình hình Đông Dương và kèm theo là sự mệt mỏi của dư luận Pháp, rốt cuộc đã dẫn [120] đến việc bỏ rơi dự án đó vào mùa xuân năm 195378. Tuy nhiên, đến tháng 7, Bộ tham mưu Pháp nghĩ rằng những lực lượng nước ngoài được Trung Quốc ủng hộ tấn công vào Lào phải được khai thác về mặt ngoại giao bằng cách yêu cầu Mỹ và Anh cam kết có những biện pháp trả đũa lại Bắc Kinh trong trường hợp xảy ra xâm lăng Vương quốc Lào và Khmer79.

Nhưng từ lúc này, tình hình quân sự “ruỗng nát” đòi phải có những giải pháp căn bản khác trước. Từ đầu năm 1954, tướng P. Ely Tổng tham mưu trưởng lục quân đã được phép qua trung gian của tướng Jean Étienne Valluy, yêu cầu Washington tăng cường viện trợ cho Đông Dương, nhất là dưới hình thức bổ sung thêm những phương tiện không quân80. Ngoài ra, Mỹ còn nhận đáp ứng một phần yêu cầu của Pháp đặc biệt là máy bay B.26, cùng với thợ máy bảo [121] dưỡng và phi công81. Chính là để phối hợp việc sử dụng sự viện trợ từ nay rất quan trọng đó mà mấy tuần sau, tướng John W. O'Daniel thay thế tướng Thomas J. H. Trapnell đứng đầu phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) tại Sài Gòn82.

Cuộc tiến công căn cứ Điện Biên Phủ, bắt đầu từ ngày 13/3, nhất là việc đánh chiếm nhanh chóng các đồn tiền tiêu của cứ điểm83. Điện Biên Phủ từ những ngày đầu chiến sự, đã làm các giới hữu trách trong chính phủ Paris ngạc nhiên84. Trong mấy tuần, các giới chính trị và quân sự ở Pháp cũng như ở Mỹ và ở Anh đều trải qua một cơn sốt đặc biệt. Ngày 20/3, tướng P. Ely, có nhiệm vụ đi cầu cứu, đã tới Washington và hội đàm nhiều ngày với Tổng thống D. Eisenhower, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao J. Dulles và đô đốc Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng [Chairman of the Joint Chiefs of Staff)] (nguyên văn: Chủ tịch Ủy ban các tham mưu trưởng) Arthur W. Radford giải thích cho họ rằng nếu không có sự can thiệp ồ ạt của không quân Mỹ thì sẽ không thể thắng được ở Điện Biên Phủ, nơi quyết [122] định số phận Đông Dương. Ngay lúc đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đô đốc Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng tỏ ý rất tán thành một hành động như vậy và tướng P. Ely trở về Paris ngày 26/3 khá lạc quan về khả năng Mỹ có thể sẽ hành động trong trường hợp ít nhất là có sự can thiệp bằng không quân của Trung Quốc85.

Chính lúc đó, Bộ Ngoại giao Mỹ lại tung ra ý kiến về một hiệp ước an ninh tập thể ở Đông Nam Á. Theo ý của Mỹ, liên minh đó phải vừa làm xoa dịu dư luận (nhất là Quốc hội Mỹ) đang lo ngại một cuộc phiêu lưu quân sự có thể xẩy ra ở Viễn đông mà không được Anh và các đồng minh khác ủng hộ, vừa ngăn đe phe cộng sản, đặc biệt là Trung Quốc không được can thiệp trực tiếp vào Đông Dương86. Ngày 29/3, trong một diễn văn quan trọng đọc tại “Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ”, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao J. Dulles kịch liệt tố cáo Trung Quốc can thiệp vào Đông Dương:
“Một phần lớn những người lính đang chiến đấu dưới lá cờ của Hồ Chí Minh đã được Trung Hoa cộng sản huấn luyện và trang bị (…) khoảng 2.000 cộng sản Trung Quốc đóng vai trò cố vấn quân sự và kỹ thuật. Họ giữ những vị trí then chốt trong các lực lượng của Hồ Chí Minh, nhất là ban tham mưu của Bộ Tổng tư lệnh, ở cấp sư đoàn và trong các binh chủng chuyên môn: thông tin liên lạc, công binh, pháo binh và vận [123] tải (…). Cộng sản Trung Quốc tránh sử dụng công khai quân đội của chính họ để tiến hành xâm lược trực tiếp Đông Dương. Tuy nhiên họ đã tăng cường đáng kể sự ủng hộ đối với cuộc xâm lược vào vùng này của thế giới. Thực tế, họ tạo phương tiện dễ dàng cho cuộc xâm lược đó trừ sự xâm lược thuần túy (…)87.

Để đối phó với sự đe dọa của Liên Xô và Trung Hoa nhân dân, đối với thế giới tự do như vậy, theo J. Dulles, chỉ có một giải pháp, đó là “hành động chung” (united action).

Bài diễn văn này còn xác nhận sự lạc quan đã được tướng P. Ely bày tỏ ở Paris. Người ta nói đến các ý kiến của Phó tổng thống Richard Nixon về một chiến lược mới của Mỹ: “Thà trông vào sức mạnh cơ động ghê gớm sẽ được sử dụng kín đáo để trả đũa chống lại nguyên nhân chính của sự xâm lược, vào thời gian và địa điểm do chính chúng ta lựa chọn, còn hơn là để cộng sản đưa chúng ta vào chỗ chết bằng những cuộc chiến tranh nhỏ, nhen lên ở khắp mọi nơi trên thế giới”88. Trong các giới chính phủ Pháp, người ta gợi lên việc sử dụng “sức mạnh hải quân và không quân và có lẽ cả sức mạnh nguyên tử (của Mỹ) chống lại Trung Quốc”89. Người ta cũng cho là tự nhiên khi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, trong diễn văn ngày 22 [124] đã ám chỉ đến những “nguy cơ nghiêm trọng” do “hành động chung” đem lại vì “người ta đương nhiên nghĩ đến việc sử dụng vũ khí nguyên tử”90.

Điều đó hình như là kết quả logic của cái lúc đó người ta gọi là “cách nhìn mới” về chiến lược của Mỹ, được hiểu chủ yếu là giảm lục quân Mỹ và đương nhiên ám chỉ một khả năng có nhiều hơn là việc sử dụng vũ khí nguyên tử91. Đứng trước một sự đe dọa như vậy, có lẽ Trung Quốc sẽ nhượng bộ. Vì Trung Quốc không chắc chắn được sự ủng hộ của Liên Xô. Đó có lẽ là con chủ bài lớn của Pháp tại Hội nghị Genève.92
Nhưng, cùng lúc đó, những người lãnh đạo của Mỹ tiếp tục tự hỏi về khả năng sử dụng lực lượng Mỹ ở Đông Dương. Đã có nhiều sự dè dặt kể cả trong nội bộ lục quân, ví như của bản thân tướng M. Ridgway93. Nhiều người sợ rằng một hành động của [125] hải quân và không quân sẽ nhanh chóng lôi kéo theo một sự can thiệp trên bộ và không chắc chắn được sự ủng hộ của đồng minh Anh, Mỹ sẽ phải dính líu vào một cuộc chiến tranh mới ở Đông Dương chống Trung Quốc theo kiểu chiến tranh Triều Tiên. Vậy, một cuộc chiến tranh như vậy đòi hỏi một số lớn sư đoàn, điều đó không phù hợp với “cách nhìn mới” về chiến lược. Theo họ, người ta không thể vừa giảm lục quân Mỹ, lại vừa tăng những cuộc can thiệp hoặc ngay cả tăng nguy cơ can thiệp ở hải ngoại.

Cuối cùng, ngày 3/4, những người đứng đầu Quốc hội từ chối không ủng hộ một cuộc hành động do J. Dulles và đô đốc M. Ridgway đưa ra như vậy. Hay đúng hơn là họ đặt ra ba điều kiện: các đồng minh, nhất là Anh, phải đồng tình và tham gia; Pháp phải trao trả độc lập thật sự cho các quốc gia liên kết và chính phủ Paris cam kết duy trì quân đội viễn chinh ở Đông Dương94.

(Còn tiếp)

_____________________
69 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ bản ghi nhớ liên quan đến dự thảo tuyên bố chung về Đông Nam Á. 1/12/1952, tr. 6-7. Vấn đề được đề cập ngay từ hội nghị London (5/1950), nhưng với những lời lẽ mơ hồ hơn nhiều. Xem Paul. Ely, Sđd, tr. 18.
70 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Sài Gòn,/ Bản ghi nhớ về “Lịch sử vấn đề dự thảo tuyên bố giữa các nước đồng minh gọi là “Hiến chương Thái Bình Dương” / 23/6/1953.
71 Như trên.
72 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Vụ chính trị/Bản ghi nhớ về vấn đểề “Hiến chương Đông Nam Á”/12/6/1952.
73 Như trên.
74 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ Bản ghi nhớ đã kể trên, ngày 23/6/1953.
75 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Ngoại giao Paris gửi các đại sứ quán Pháp tại London và Washington/16/9/1952.
76 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ đã trích dẫn trên/ ngày 23/6/1953.
77 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện đã trích dẫn trên/ngày 19/9/1952.
78 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ đã dẫn trên, ngày 23/5/1953. Hồ sơ chỉ sẽ được mở lại sau khi ký Hiệp nghị Genève khi Pháp sẵn sàng ký hiệp ước Manila thành lập Tổ chức liên phòng thủ chung Đông Nam Á (SEATO) (Hồ sơ lữu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Bản ghi nhớ về vấn đề “Tuyên bố quốc tế liên quan đến Đông Dương” 21/7/1954.


79 Thông báo số 3430/12-OM ngày 17/7/1953, dưới đóng dấu Bộ tham mưu đồng minh các lực lượng vũ trang. Ký tên: Blanc, Fay, Nomay. P. Rocolle trích trong sách đã dẫn, tr. 52-53. H. H. Navarrerre, sđd, tr. 86-87.
80 Về quan hệ Pháp-Mỹ trong giai đoạn này, có thể chủ yếu xem Ph. Devillers, La Fin d’une guerre, sđd, tr. 70-108. R. Ph. Ran đơn [?], Sđd, tr. 53-135 và Coral Bell, Survey of International Affairs, 1954 (Điểm lại các vấn đề quốc tế) London, New York và Toronto, Oxford University Press, 1957., 329 trang, tr. 21-42.
81 Về những vấn đề này, xem những đoạn trích trong Bị vong lục của Ủy ban đặc biệt về Đông Dương gửi Tổng thống D. Eisenhower, ngày 30/1/1954. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, Ssđd, tr. 32-35. Quyết định này được công bố bằn một thông cáo của Hội quốc phòng Mỹ ngày 6/2. Về phản ứng của Trung Quốc., Xxem bản tin ngày 8/2/1954 của Tân Hoa Xã đưa lại trong Surprise of China Mainland Press. (Điểm lại báo chí Trung hoa lục địa). Tổng lãnh sự Mỹ, Hongkong, số 744, ngày 10/2/1954.
82 Sự có mặt của tướng J. O'Daniel tại Sài Gòn không thể không giống sự có mặt của tướng Trung cộng Li Chen-hu bên cạnh Bộ tham mưu của Việt Minh.
83 Xem P. Rocole, Sđd, chương VII (La surprise tactique- Chiến thuật bất ngờ), tr. 343-390.
84 J. Chauven, Sđd, tr. 44. Về thời kỳ này, xem thêm M. Gurốc tốpov, Sđd, tr. 68-115.
85 Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, Ssđd, tr. 11 (Opération Vautour - Chiến dịch Chim ưng), và nhất là xem P. Ely, Ssđd, tr. 51-81 (Mission à Washington - Sứ mệnh ở Washington). Tướng P. Ely chú thích rằng… đô đốc A. Radford không tin Trung Quốc sẽ can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương (tr. 63). Xem thêm J. Laniel, Le drame Indochinois, Ssđd, tr. 83-84.
86 P. Ely, Sđd, tr. 66.
87 P. Ely, “Diễn văn của J. Dulles về các vấn đề Viễn đông” USA (bản tin hàng ngày của các cơ quan thông tin Mỹ), Paris, 30/3/1954, Bản tiếng Anh trong New York Times 30/3/1954, tr. 4. Về điểm này xem thêm H. Navarre, Ssđd, tr. 243, và J. Laniel, Le drame Indochinois, Ssđd, tr. 84.
88 Hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp/Sài Gòn/bản ghi nhớ về Chiến lược mới của Mỹ và việc quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương,/ 5/4/1954, tr. 2-3.
89 Hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp (như trên), tr. 3. Chúng tôi nhấn mạnh.
90 Hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp/như trên. Chúng tôi nhấn mạnh. Cần nhận xét rằng tướng P. Ely trong chương nói về nhiệm vụ của ông ta sang Washington (tháng 3/1954) không nói gì đến một khả năng như thế.
91 Về chính sách “cách nhìn mới”, xem D. Eisenhower, Sđdsđd, tr. 445-458, cũng như GM. Gurốc tốpov, Ssđd, tr. 53-55 (Strategy, the New Look and Massive Retaliation/Chiến lược, cách nhìn mới và trả đũa ồ ạt). Về phản ứng của Trung Quốc đối với chiến lược đó, xem chương VIII ở đoạn sau.
92 Hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ đã dẫn/, ngày 5/4/1954, tr. 5-6.
93 Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sSđd, tr. 11. Tướng M. Ridway, tổng tham mưu trưởng lục quân, là một trong những người chống lại “cách nhìn mới” về chiến lược của Mỹ (xem Matthew B. Ridgway as told to Harold H. Martin, Soldier: memoirs of Matthew B,. Ridgway, người lính chiến: Hồi ký của M. B. Ridway), New York Harper and Brothers, 1956, tr. 274-278.
94 D. Eisenhower, Ssđd, tr. 347. Tổng thống D. Eisenhower nhận xét rằng sự tham gia của các nước đồng minh lại càng cần thiết hơn, nếu người ta muốn tránh cho hành động đó khỏi mang tính chất đế quốc, khi “không có chứng cỡớ rõ rệt là Trung Hoa đỏ tham gia công khai vào cuộc xung đột Đông Dương”. (như trên, tr. 340)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét