Chủ Nhật, 26 tháng 12, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENEVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 11

PHẢN ỨNG CỦA PHƯƠNG TÂY52

Tới năm 1949, nước Mỹ còn chia rẽ ý kiến về vấn đề Đông Dương. Một mặt, Mỹ từ chối tỏ một thái độ có thể gây cảm tưởng rằng Mỹ ủng hộ sự có mặt của thực dân Pháp ở bán đảo Đông Dương53. Nhưng mặt khác, Mỹ rất lo ngại về những khuynh hướng đang trở thành cộng sản của Việt Minh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao George C. Marshall đã xác định sự bối rối của Mỹ trong một bức điện gửi Đại sứ Mỹ tại Paris:

“Chúng ta hoàn toàn thừa nhận lập trường tự chủ của nước Pháp và chúng ta không muốn tỏ ra bằng bất cứ cách nào là chúng ta đang thay đổi lập trường đó. Đồng thời, chúng ta không thể làm ngơ trước sự thực rằng đây là một vấn đề có hai mặt. Các tin tức của chúng ta nói đến việc Pháp vừa thiếu hiểu biết đối phương vừa duy trì ở vùng này những biện pháp và cách nhìn có tính cách thực dân đã lỗi thời một cách nguy hiểm. Mặt khác, chúng ta không được quên rằng Hồ Chí Minh gắn bó trực tiếp với những người cộng sản và hiển nhiên là chúng ta chẳng có lợi ích gì khi thấy các chính quyền ở các thuộc địa được thay thế bằng một triết lý và tổ chức chính trị ở Kremli và do Kremli trực tiếp kiểm soát. Thật thà mà nói, chúng ta chẳng có giải pháp nào để gợi ý về vấn đề này”54 [111]

Ngăn cản Trung Hoa nhân dân can thiệp vào Đông Dương

Nhưng khi cộng sản giành được thắng lợi ở Trung Hoa lục địa, lập trường của Mỹ được xác định rất nhanh chóng. Từ ngày 30/12/1949 - quân cộng sản vừa mới đến sát biên giới Trung-Việt - tổng thống H. Truman thông qua một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải ngăn chặn cộng sản bành trướng xuống Đông Dương bằng cách cung cấp viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự cho các chính phủ hữu quan55. Sau đó, khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên Xô công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 1/1950, Mỹ trả đũa lại bằng cách cùng với Anh, công nhận quốc gia Việt Nam ngày 7/2. Cùng trong tháng đó, một văn kiện mới của Hội đồng an ninh quốc gia trình bày rõ ràng cái sau này gọi là “thuyết Domino” và nhấn mạnh rằng Mỹ cần khẩn thiết bảo vệ Đông Dương nếu muốn tránh cho cán cân lực lượng ở Đông Nam Á không ngả về phía những người cộng sản56.

Từ đầu năm 1952, Mỹ bắt đầu tính đến một số biện pháp quân sự chống lại Trung Quốc trong trường hợp Trung Quốc can thiệp trực tiếp hơn nữa vào cuộc xung đột Đông Dương. Một bản nghiên cứu của Hội đồng an ninh quốc gia vào thời kỳ này đã nêu ra khả năng về một hành động chung chống Trung Quốc, hoặc dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc, hoặc ít nhất hợp tác [112] với Pháp và Anh57. Một hành động như vậy có thể bao gồm một cuộc bao vây đường biển đối với Trung Quốc (đoạn 11a), những hoạt động du kích chống cộng ở ngay trên lãnh thổ Trung Quốc để phá hoại đường giao thông và quấy rối việc Trung Quốc tiếp tế quân sự cho Việt Minh (đoạn 11b), sử dụng các lực lượng của người Trung Quốc chống cộng hoặc theo chủ nghĩa quốc gia ở Đông Nam Á, ở Triều Tiên và ở ngay trên đất Trung Quốc (đoạn 11c), thậm chí, trong trường hợp xung đột mở rộng, mở những cuộc hành quân trên biển và trên không của Mỹ-Anh-Pháp nhằm vào mục tiêu quân sự của Trung Quốc, trừ những mục tiêu nào ở quá gần biên giới Liên Xô (đoạn 12). Nếu Pháp và Anh từ chối thì lúc đó Mỹ có thể tính đến hành động một mình (đoạn 13).

Chính là vừa để chuẩn bị đối phó với mọi tình huống, vừa để cân đối với việc Trung Quốc đưa vũ khí và dụng cụ vào Đông Dương và để tăng cường cuộc chiến đấu chống Việt Minh mà bắt đầu từ tháng 5/1950, Mỹ đã quyết định cung cấp dụng cụ quân sự cho Pháp với số lượng ngày càng tăng58. Từ năm 1950 đến năm 1953, những dụng cụ quân sự chuyển giao không phải trả tiền tăng gấp 10 lần, từ 11.000 lên 117.000 tấn. [113]


Song song với việc trên, Mỹ không ngừng tăng mức viện trợ tài chính cho Pháp. Năm 1952, viện trợ tài chính là 115 tỷ franc chiếm gần 40% chi phí cho các cuộc hành quân59. Năm 1954, viện trợ tài chính của Mỹ đạt khoảng 300 tỷ franc (905 triệu US$) trong đó 135 tỷ franc (bị vong lục ngày 29/9/1953) để chi phí cho các kế hoạch mà Chính phủ Pháp đã xây dựng nhằm tăng cường các cuộc hành quân chống Việt Minh60. [114]
Có nghĩa là, cuối năm 1953, - đầu năm 1954, viện trợ Mỹ chiếm ưu thế trong chi phí của cuộc chiến tranh. Điều đó giải thích rộng rãi tại sao Việt Minh đã tố cáo gay gắt viện trợ đó61 và tại sao Trung Quốc lại tỏ ra lo ngại. Các cuộc hội nghị quân sự của đồng minh nối tiếp nhau ở Singapore và Trân Châu Cảng từ đầu năm 1951 còn củng cố thêm mối lo ngại của Trung Quốc về khả năng quốc tế hóa cuộc xung đột theo qui mô đã xảy ra ở Triều Tiên. Thực thế, Bộ tham mưu đồng minh (Staff Agency) được thành lập ở Trân Châu Cảng tháng 4/1953 giữa Mỹ, Anh, Pháp, Australia và New Zealand,62 lần thứ nhất đã họp một phiên làm việc, tiếp đó lại họp ở Trân Châu cảng từ 15 đến 30/5. Sau nhiều cuộc thảo luận dài, hội nghị đã kiến nghị là trong trường hợp Trung Quốc xâm lược sẽ có một phản ứng kép của phương Tây. Một mặt là có thể yểm hộ bằng không quân và thủy quân cho quân đội liên hiệp Pháp. Nhằm mục đích đó, Bộ tham mưu trên đã đề nghị phân chia ngay sự chỉ huy giữa một vùng phòng thủ Đông Dương đặt dưới quyền trách nhiệm của Pháp và ở bên ngoài vùng đó, một ban chỉ huy hành quân của Mỹ, cũng như cây xây dựng một cơ sở hạ tầng thích đáng (sân bay, radar, v.v…). Mặt khác, đề nghị phong tỏa các bờ biển Trung Quốc kèm theo ném bom chiến lược và hoạt động du kích ở lục địa. Mọi người cũng thỏa thuận [115] rằng Chính phủ Pháp sẽ cộng tác xây dựng kế hoạch và sẽ là người duy nhất đánh giá thời cơ thuận lợi cho việc triển khai kế hoạch đó63.

Một cuộc họp thứ hai cũng ở Trân Châu Cảng ngày 21/9 đến 2 tháng /10 năm /1953. còn cụ thể hóa thêm nữa những kiến nghị đầu tiên ấy. Trong cuộc họp, người Anglo-Saxon đã nêu bật ý muốn duy trì một đầu cầu ở Bắc Kỳ, trong trường hợp Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Mã Lai [Malaya], lấy điểm tựa của việc phòng thủ (Mã Lai) trên eo biển đất Kra, và chiếm đảo Hải Nam để sau này dùng vào việc đổ bộ lên lục địa Trung Quốc (nếu cần)64. Sau cuộc họp đó, ngày 7 tháng /10, các đại sứ Pháp, Anh và Mỹ có nhiệm vụ hỏi Bộ Ngoại giao Anh và Mỹ xem bắt đầu lúc nào các Cchính phủ Anh và Mỹ nghĩ rằng có cuộc xâm lược thực sự của Trung Quốc65.

Mấy hôm sau, G. Bidault trở lại ý kiến này trong cuộc hội đàm Pháp-Anh-Mỹ tại London (từ 16 đến 18/10). Trước hết, Bộ trưởng Bộ ngoại giao [116] Pháp đã trình bày rằng những tin tức nhận được ở Paris đã làm cho người ta nghĩ rằng có thể khẳng định được khả năng một cuộc xâm lược như vậy. Một nguồn tin chắc chắn nói đến việc thành lập một trường dạy lái máy bay ở Nam Ninh (Quảng Tây). Một nguồn tin khác kém tin cậy hơn, từ Đài Loan đưa về66., Nnói đến việc tập trung máy bay phản lực ở miền Nam Trung Quốc67. Một đường bay có lẽ được được xây dựng ở ngay Lạng Sơn. Như vậy, G. Bidault nói tiếp, có lẽ đến lúc các nhà quân sự nghiên cứu những tiêu chuẩn của một cuộc xâm lược của Trung Quốc có thể xảy ra, để áp dụng các biện pháp do Bộ tham mưu đồng minh đề ra, ví dụ như cung cấp một số dụng cụ nhất định và nhất là việc sử dụng không quân.

Hai vị Bộ trưởng (Anh và Mỹ) đã đáp ứng tích cực các đề nghị đó. A. Eden đã nhấn mạnh sự phát triển của tình hình Đông Dương đã ảnh hưởng trực tiếp đến Mã Lai68. Và do đó, ông ta đồng ý sẽ tiến hành việc nghiên cứu các vấn đề đó. Đồng thời J. Dulles cũng tuyên bố sẵn sàng xem xét giới hạn của việc Trung Quốc viện trợ, vượt qua giới hạn đó thì sẽ phải có biện pháp can thiệp mà chắn chắn người Mỹ sẽ là những người đứng ra tổ chức chủ yếu. [117]


___________________

52 Tiểu đề mục này không bao gồm một sự phán xét đáng giá nào. Đồng ý là thái độ của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng có thể hiểu là sự “phản ứng” đối với chính sách của phương Tây.
53 Từ năm 1944, Tổng thống Franklin Roosevelt đã cho rằng không nên giữ nguyên trạng các thuộc địa ở Đông Dương, nhất là do chính sách lạc hậu Pháp đang tiến hành ở đó. Bộ Ngoại giao Mỹ: Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, hồ sơ ngoại giao: Các cuộc Hội nghị Manta và Yanta, 1945. Washington D. C. 1955, tr. 770.
54 Tài liệu mật Bộ quốc phòng, sđd, tr. 7-8 (không nói rõ ngày gửi điện). Tuy nhiên, cần nhắc lại vài thời kỳ về chính sách Mỹ ở Việt Nam đối với người Pháp năm 1945. Xem B. Fall, sđd, tr. 89-91.
55 Tài liệu NSC., 48/2 ., Xem tài liệu mật Bộ quốc phòng, sđd, tr. 9.
56 Như trên, tr. 6.
57 Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sđd, tr. 27-32. Khó mà nghe theo R. F. Ran đơdon [?], sđd, tr. 31, khi ông ta viết rằng tháng 1-/1954, Mỹ không có chính sách ở Đông Nam Á. Nhưng tác phẩm của ông đã hoàn thành trước khi công bố tài liệu mật Bộ Quốc phòng. Cũng xem A. Eden, Hồi ký, sđd, tr. 93.
58 Tập san Bộ Ngoại giao Mỹ, 22/5/1950, tr. 821. Tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dean Acheson ngày 8/5/1950. Phái đoàn cố vấn quân sự (MAAG) ở Đông Dương được thành lập tháng 8/1950.
59 Theo một nguồn tin Mỹ, năm 1952, viện trợ tài chính của Mỹ chiếm 65% chi phí chiến tranh. Đó là do có sự khác nhau trong phương pháp tính toán, do sự phức tạp của các thủ tục viện trợ của Mỹ cho nước ngoài. Tường trình trước Ủy ban đối ngoại nghị viện Mỹ - Quốc hội khóa 83, phiên họp thứ 2 về luật viện trợ vì an ninh chung, năm 1954. Washington, 1954, tr. 35. Cũng xem B. Cole, sđd, tr. 260-261.
60 Hồ sơ lưu trựcữ Bộ Ngoại giao Pháp, vViện trợ Mỹ cho Đông Dương, bản ghi nhớ đã nêu ở trên, bảng VII.
61 Xem tTrả lời phỏng vấn của các nhà báo về sự can thiệp của Mỹ ở Đông Dương, ngày 25/7/1950 trong Hồ Chí Minh, Ssđd, tr. 251-252, trong đó Hồ Chí Minh viết “thực dân Pháp theo đuổi chiến tranh ở Việt Nam, Campuchia và Lào theo chỉ thị của Mỹ và nhờ đô Đô la, vũ khí Mỹ, nhưng đồng thời đế quốc Mỹ cũng tìm cách hất cẳng thực dân Pháp để độc quyền thống trị Đông Dương”.
62 Xem đoạn trước, chương I.
63 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Hội nghị Luân ĐônLondon, lời ghi do ông Rút [?] chuẩn bị và ông G. Bidault đọc tại hội nghị tháng 10/1953. Cũng xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giap Pháp / châu Á-châu Đại dương/- Bản ghi nhớ về: “Biện pháp dự kiến trong trường hợp Trung Quốc xêâm lược Đông Dương. Tiêu chuẩn của sự xâm lược đó”. / 15/10/1953.
64 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp /châu Á-châu Đại dương./ Bản ghi nhớ “Chiến lược chung ở Đông Nam Á”/ 30/11/1953. Ý kiến chiếm đảo Hải Nam có từ trước vì trong cuộc nói chuyện của tổng thống Vincent. Auriol ngày 2-/2-/1953. Xem V. Auriol, Journal du Septennat 1947-1954 (Nhật ký 7 năm, 1947-1954)., Paris,, 1971, tr. 44). Cần lưu ý rằng ai cũng biết kế hoạch này vì chính một nhà báo của AFP đã trình bày ý kiến đó lên tổng thống V. Auriol.
65 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Bản ghi nhớ chuẩn bị cho…, Sđd.
66 Thực ra, Bộ ngoại giao Pháp ít chú ý đến các nguồn tin nhận được từ Đài Loan, kể cả những báo cáo của đại sứ quán Pháp tại Đài Bắc gửi về vì cho rằng những tin tức đó quá thiên về tuyên truyền (nói chuyện với một nhân vật Pháp ngày 5/7/1973)
67 Ở Đông Dương, Pháp không có một chiếc máy bay phản lực nào.
68 Sự quan tâm đó đến an ninh ở Mã Lai là do các cuộc nổi dậy mới đây của cộng sản mà Anh đang phải đối phó. Về vấn đề này, xem chương V.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét