Thứ Bảy, 18 tháng 12, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 10 (Tiếp theo)

Sự có mặt của tướng Trung Quốc nào đó tên là Li Chen-hu (?) và khoảng hai chục cố vấn Trung Quốc của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc tại Tổng hành dinh của tướng Giáp còn làm cho bộ chỉ huy Pháp35 lo ngại hơn nữa. Bộ chỉ huy Pháp cũng [102] biết từ đầu năm 1954, Việt Minh đã yêu cầu Trung Quốc viện trợ bổ sung đạn dược, xe, và vũ khí36. Cuối tháng 2, Trung Quốc lại giúp đỡ trang bị cho một trung đoàn pháo phòng không 37 ly 37, mỗi khẩu có 20 pháo thủ Trung Quốc phục vụ (sau này đã được thay thế bằng pháo thủ Việt Minh)37. Đầu tháng 3, có vài máy bay MIG 15 của Trung Quốc xuất hiện trên bầu trời [103] Bắc Kỳ, càng làm tăng thêm nỗi lo ngại của Bộ tham mưu Pháp38.

Khi trận chiến đấu ở Điện Biên Phủ bắt đầu, mức độ viện trợ của Trung Quốc vượt quá mọi dự đoán39.[104]. Tuy nhiên khối lượng hàng giao sang những năm 1951–1954, ước lượng chừng 50.000 tấn và xét cho cùng cũng dưới 100.000 tấn, hãy còn kém xa mức nước Pháp nhận của Mỹ cũng trong thời gian đó40.

Khả năng Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào Đông Dương.

Tới giữa năm 1953, không ai nghĩ đến một cuộc can thiệp trực tiếp của Trung Quốc vào bán đảo Đông Dương. Rõ ràng là những cuộc hành quân của Quân đội liên hiệp Pháp ở Đông Dương không thể coi như một sự đe dọa đối với nền an ninh của Trung Quốc. Nhưng nhất là sự cố gắng lớn lao do cuộc chiến tranh Triều Tiên đòi hỏi, cộng thêm những khó khăn của một chế độ mới thiết lập và của công cuộc phục hồi kinh tế, đã tạm thời ngăn cấm Trung Quốc không nghĩ đến một hành động gì ở sườn phía nam. Chắc chắn nguy cơ chủ yếu là ở trên sông Áp Lục [鴨綠江, Yālǜjiāng / 압록강, Amnokkang – sông biên giới Trung-Triều] chứ không phải trên biên giới Việt Nam. Bởi vậy, lợi ích dân tộc đã buộc Trung Quốc phải dốc hết sức lực ra ngăn cản sức ép tối đa của các lực lượng Mỹ - Nam Triều Tiên.

Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm được ký kết thì vấn đề Trung Quốc thay đổi thái độ có thể được đặt ra. Mặt trận Đông Bắc được giải tỏa, liệu Trung Quốc có xem xét cuộc chiến tranh Đông Dương một cách hoàn toàn khác trước hay không? Nếu Việt Minh gặp khó khăn41, thì như một số người nghĩ, liệu Việt [105] Minh có kêu gọi Trung Quốc vào cuộc xung đột để xoay chuyển cán cân lực lượng có lợi cho họ hay không?42. Và nhất là việc Mỹ tăng thêm viện trợ cho quân đội Liên hiệp Pháp43 ở Đông Dương liệu có nguy cơ bị chính phủ Bắc Kinh từ nay coi đến như một sự đe dọa thực tế mà họ cần phải trả đũa hay không? Đến cuối năm 1953 đầu năm 1954, vấn đề được trình bày ở phương Tây đại thể theo những lời lẽ như vậy.
Không đi vào chi tiết một lập luận không thể có căn cứ vững chắc vì thiếu những nguồn tin đầy đủ về phía Trung Quốc, tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng đến trước hội nghị Genève, có ba loại vấn đề cần xem xét: kinh tế, quân sự và ngoại giao, xem ra loại trừ việc Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào cuộc xung đột.

Về mặt kinh tế, việc triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi những khoản đầu tư lớn lao đến nỗi việc thực hiện kế hoạch chắc chắn sẽ bị trở ngại nếu Trung Quốc dính líu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương mà bất cứ lúc nào cũng có thể mở rộng quy mô [106] như cuộc chiến tranh Triều Tiên. Lập luận này đã gây ra cả một cuộc luận chiến ở phương Tây, nhất là ở Pháp. Một bài diễn văn của Trần Vân [Chen Yun] đọc ngày 5/3/1954 ở Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm một năm ngày Stalin từ trần đã đánh dấu điểm xuất phát của cuộc luận chiến. Trong bài diễn văn, Trần Vân đã giải thích rằng một trong những công trạng lớn lao của Stalin là sự phát triển tiềm lực kinh tế của Liên xô44. Ngày hôm sau phóng viên hãng thông tin Pháp AFP tại Hongkong, bình luận về bài diễn văn đó như sau: “Bài diễn văn đó hình như chỉ ra rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc do dự trước nguy cơ một cuộc xung đột quốc tế, và muốn hoàn thành cuộc cách mạng Trung Quốc trước khi truyền bá chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, cho dù để làm việc đó, phải hy sinh Hồ Chí Minh”45. Báo chí cánh tả, kết tội chính phủ Pháp đã xuyên tạc bài diễn văn của Trần Vân vì lý do chính trị nội bộ, đã phát động cả một cuộc luận chiến46. Ở Mỹ, một phần giới báo chí đã bình luận bài nói của người lãnh đạo Trung Quốc theo cùng một hướng đó. Đặc biệt hai anh em [Joseph and Stewart] Alsop cho rằng có thể Trung Quốc đề nghị đình chỉ viện trợ cho Việt Minh đánh đổi lấy việc các cường quốc phương Tây thừa nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, công nhận Cộng hòa nhân dân Trung hoa gia nhập Liên hợp quốc và lập lại quan hệ kinh tế bình thường với phương Tây47. [107] Với những người khác, trái lại, giả thuyết này tỏ rõ ra không có căn cứ. Đó là trường hợp của các nhà quan sát ở Hongkong, theo họ thì Trung Quốc mong muốn có một thời kỳ hòa bình để thực hiện công cuộc xã hội hóa nhưng không có thể kết luận rằng như vậy chính phủ Bắc Kinh sẵn sàng bỏ rơi Việt Minh48.

Thật ra, hai quan điểm trên đây không phải hoàn toàn không thể dung hòa được. Nếu những mục tiêu kinh tế của Trung Quốc đối lập hoàn toàn với việc quốc tế hóa cuộc xung đột thì cũng không phải vì thế mà chính loại trừ việc duy trì một sự viện trợ có giới hạn cho những du kích Việt Minh.

Việc phân tích tình hình quân sự của Trung Quốc cũng dẫn đến những kết luận tương tự. Một mặt, về phương diện hậu cần, tình hình căn bản khác với cuộc chiến tranh Triều Tiên. Phương tiện giao thông đường bộ và đường sắt ở các tỉnh miền Nam không có nhiều, không thể so sánh được với hệ thống giao thông ở Mãn Châu dùng vào việc chi viện cho mặt trận Triều Tiên bốn năm trước đây. Vả lại, Việt Nam ở xa các trung tâm tiếp tế của Trung Quốc về vật tư cũng như lương ăn cho bộ đội. Có nghĩa là các cuộc hành quân quy mô lớn ở Đông Dương sẽ đặt ra các vấn đề hậu cần lớn hơn nhiều so với Triều Tiên.

Về phương diện chiến lược, những điều kiện cũng rất khác nhau. Một mặt, ngược lại với các tỉnh ở Đông Bắc, các tỉnh miền Nam không có một tiềm lực công nghiệp quan trọng nào. Vì vậy, sự thúc bách phải can thiệp chống lại sự đe dọa có thể xảy ra có lẽ không [108] gay gắt trong trường hợp Đông Dương như trong năm 1950; khi đó, Mãn Châu, ở phía bên kia Triều Tiên, xem ra có thể bị trực tiếp uy hiếp. Mặt khác, ở Đông Dương, Trung Quốc không thể được Liên Xô bảo đảm ủng hộ về hậu cần và về chiến lược với mức độ ngang như trường hợp Triều Tiên. Thực thế, sự cách xa về địa lý có thể dẫn những người có trách nhiệm ở Liên Xô đến chỗ coi vấn đề Đông Dương hoàn toàn khác với vấn đề Triều Tiên. Từ đó, đối với Trung Quốc, nguy cơ bị cô lập về quân sự càng tăng lên. Cuối cùng, từ đầu năm 1954, tình hình căng thẳng ở eo biển Đài Loan49 tăng lên, bắt buộc nước Trung hoa nhân dân phải thận trọng hơn đối với Đông Dương.
Tình hình ngoại giao của Chính phủ Bắc Kinh cũng buộc Trung Quốc phải có một thái độ hết sức dè dặt về đường lối quốc tế. Ý muốn nới lỏng bao vây về kinh tế mà Trung Quốc phải chịu đựng và bình thường hóa quan hệ với càng nhiều quốc gia càng tốt, nhất là ở châu Á tất nhiên cũng buộc Trung Quốc phải tránh một cuộc can thiệp chỉ có thể gặp phải sự chống đối của hầu hết các thủ đô, sau cuộc can thiệp của “chí nguyện quân” ở Triều Tiên. Mấy năm sau, A. Eden viết: “Tôi biết Trung Quốc do dự, ít nhất là trong giai đoạn này trong việc làm cho Ấn Độ chống lại mình và Trung Quốc có những cố gắng lớn lao để hòa giải với dư luận châu Á nói chung”50. Đúng như vậy, vào tháng 4/1954, trước khi khai mạc Hội nghị Genève ít hôm, Liên Xô, Trung Quốc và Việt Minh họp hội nghị trù bị ở Moskva. Theo nguồn tin Liên Xô, tại cuộc họp Chu Ân Lai đã tuyên bố rằng trong trường hợp cuộc xung đột ở Đông Dương mở rộng, chính phủ của ông [109] ta không thể viện trợ thêm cho Việt Minh được nữa, “bởi vì điều đó làm Trung Quốc đối lập với các nước khác ở Đông Nam châu Á và tạo cho Hoa Kỳ khả năng thành lập một khối kéo dài từ Ấn Độ đến Indonesia”. Vậy là, theo Thủ tướng Trung Quốc, “cần phải tìm khả năng tiến hành thương lượng với Pháp”51. Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm đặt nền móng cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa của mình, Trung Quốc phải chú ý đến dư luận quốc tế để hy vọng được nhiều sự thừa nhận về ngoại giao và có nhiều quan hệ kinh tế hơn. Vào mùa xuân năm 1954, Trung Quốc đã lựa chọn “cùng tồn tại hòa bình” mà họ cho rằng chỉ có như thế mới phù hợp với lợi ích dân tộc của mình. Điều đó tuyệt nhiên không hề ngăn cấm Trung Quốc ủng hộ Việt Minh về quân sự và kinh tế chừng nào sự viện trợ đó có khối lượng và tính chất thế nào để phương Tây không thấy ở đó một sự can thiệp công khai trong cuộc xung đột. Nhưng hiển nhiên là điều đó loại trừ sự dính líu trực tiếp của quân đội Trung Hoa trên chiến trường Đông Dương. Đối với Trung Quốc, Đông Dương không được trở thành một Triều Tiên mới.[110]

(Còn tiếp)

35 Hồ sơ lưu trữ Bộ ngoại giao/điện của H. Bonnêet/Washington/ số 2294 – -2296/ 5/4/1954. Xác nhận bằng phiếu số 485/F.T.N.V của Phòng nhì, Ban tham mưu của tướng chỉ huy lục quân Bắc Việt Nam, 7/2/1955, lời khai của tướng H. Navarre trước Ủy ban điều tra, phần thứ nhất, tr. 48 (P. Rocolle trích trong sđd, tr.92).
Không có tập “tiểu sử nhân vật” Who’s Who” (tiểu sử nhân vật) “hồ sơ cá nhân” nào mà chúng tôi có thể tra cứu được, lại đưa ra một tư liệu dù là sơ sài nhất về nhân vật của tướng Li Chen-hu (có lẽ chỉ là một tên mượn). Ngược lại, một vài nguồn khác lại nói đến sự có mặt từ năm 1950 của tướng La Quý Ba [Luo Guibo/罗贵波], bên cạnh các lực lượng Việt Minh (Hoàng Văn Chí, sđd, tr. 65) và cả ở Điện Biên Phủ (Huang Chen-hsia, Tiểu sử cá nhân quân đội Trung cộng, Hongkong, Research institute of contemporarry history, 1968, tr. 725-726). Phải chăng Li Chen-hu chỉ là bí danh của La Quý Ba? Theo một vài nguồn tin La Quý Ba có thể được cử tham gia đoàn đại biểu Trung Quốc tại Genève. Xem Donald W. Klein, Anne B. Clark, Biographic dictionary of Chinese communism, 1921-1965 (Từ điển tiểu sử của Đảng cộng sản Trung Quốc 1921-1965)., Cambridge (Mass). Harvard uUnivertity pressPress, 1971, tr. 649. Từ lúc Hội nghị Genève kết thúc, La Quý Ba được cử làm đại sứ tại Việt Nam dân chủ cộng hoa (xem chương X). Cần lưu ý rằng, một vài nguồn tin nói đến sự có mặt của tướng Lâm Bưu tại mặt trận Điện Biên Phủ (Tạp chí Xuân thu, số 349, 16/1/1972, tr. 26) và những nguồn khác lại nói đến Diệp Kiếm Anh cũng có mặt tại Điện Biên Phủ (Trần Minh, Hongkong, tháng 8/1978, là người có quan hệ với Hồ Chí Minh từ đầu chiến tranh Trung – Nhật).
36 Phiếu tình hình Đông Dương cuối tháng 2/1954 do tướng H. Navarre trình bày để viết chỉ thị số 222/OPS ngày 25/2/1954, tr. 2, P. Rocolle trích trong sđd, tr. 264.
37 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ điện của H. Bon nêet/ ngày 5/4/1954. Cũng xem phiếu số 208/F/EMIFT/2S: của Phòng nhì Bộ tham mưu của Tổng chỉ huy quân đội Pháp ngày 2/3/1954. P. Rocolle trích lại trong sđd, tr. 339-340. Lời khai của tướng H. Navarre trước Ủy ban điều tra. Phần thứ nhất, tr. 52., P. Rocolle trích lại trong sđd, tr. 444.; H. Navarre, sđd tr. 211 – -212, 220 và 243. J. Laniel, Jours de gloire et jours cruels (Những ngày vinh quang và những ngày tàn khốc), Paris, presses de la cite’é, 1971 tr. 235 và Le drame indochinois (Tấm thảm kịch Đông Dương), sđd, tr. 84 (Có đoạn viết: “sự có mặt của pháo thủ Trung Quốc trong chiến đấu đã được xác định”).
38 Về mối lo ngại của Bộ tham mưu liên quan đến sự can thiệp bằng không quân Trung Quốc ở Bắc Kỳ. Xem Dwight D. Eisenhower, The white White house House yearYear. Mandate for change Change 19553–1956 (Những năm ở Nhà trắng. Nhiệm kỳ có những đổi thay 1953–1956)., New York., Double day, 19563, tr. 361- 362. Người ta đã tínhs với 120 máy bay, Trung Quốc có thể ngăn cản quân đội viễn chinh không rút được khỏi vùng châu thổ, nếu cần phải rút.
Về quan điểm này, xin chú ý đến lới khai của tướng H. Navarre trước Ủy ban điều tra, phần thứ 2, tr. 2, như sau:
Tướng Lôduyn [?] đã nói với tôi đến 20 lần rằng nếu máy bay đến bắn phá hoặc ném vài quả bom trên lãnh thổ Bắc Kỳ, không quân của chúng ta sẽ có lẽ bị phá hủy đến hai phần ba lực lượng. Điều đó càng có thể đúng khi các bãi đậu máy bay đã được tổ chức (…) không phải để chống máy bay địch oanh tạc mà lại để chống các đội biệt động, điều này khiến cho đáng lẽ máy bay đậu phân tán thì lại tập trung càng sát với nhau càng tốt, có dây thép gai bao bọc để dễ giám sát. Có một sự bế tắc về không quân. Chúng ta không có một máy radar nào, chúng ta lại không có súng phòng không (…) P. Rocolle trích lại trong sđd, tr. 69.
39 P. Rocolle, sđd, tr. 70. Hồ sơ mật Lầu năm góc, Toronto., New York, London, Bantam Book, 1971, tr. 38 -39. Tướng Navarre sau này viết rằng lịch tấn công Điện Biên Phủ đã quyết định theo ý kiến của cố vấn Trung Quốc (và Nga), xem H. Navarre sđd, tr. 210. [Édouard?] Frédéric-Dupont, sđd, tr. 141 viết rằng đến ngày 10/3/1954 viện trợ Trung Quốc lên tới 15.000 đạn 105, 5.000 đạn 75, 25.000 đạn súng cối và 45.000 đạn pháo phòng không 35 ly. Theo tác giả này, những con số đó chỉ nói lên ½ tổng số hàng được giao trong tháng. Tin về “mỗi khẩu đội pháo phòng không có 200 pháo thủ Trung Quốc” là không đúng: đây là nói mỗi khẩu có 20 pháo thủ. Xem đoạn trước. Về tăng mức viện trợ của Trung Quốc, xem thêm lập luận ít thuyết phục của Thủ tướng J. Lanienl, sđd, tr. 33 – ,34.
40 Xem đoạn sau. Tuy nhiên, cần chú ý rằng viện trợ Trung Quốc, do tích chất thô sơ, phù hợp hơn với điều kiện cách hoạt động của Việt Minh, có hiệu lực hơn là viện trợ của Mỹ cho quân đội Pháp.
41 Xem J. Laniel, Le drame indochinois, sđd, tr. 111.
42 Giả thiết này sẽ hoàn toàn đứng vững được nếu điều nói trong tập “Hồi ký Khrushchev” được xác nhận là có thật. [Nikita Sergeyevich.] Khrushchev kể lại (trong Hồi ký) rằng phong trào kháng chiến của Việt Nam sắp tan rã vì Chu Ân Lai đã tuyên bố với ông ta: “Đồng chí Hồ Chí Minh đã nói với tôi (tức với Chu Ân lai - ND) rằng tình hình Việt Nam là tuyệt vọng và nếu chúng ta không có được một cuộc ngừng bắn thì người Việt Nam sẽ không kháng cự được lâu hơn nữa với Pháp. Cho nên, việc họ quyết định lui đến biên giới Trung Quốc và nếu việc đó là cần thiết, thì họ muốn Trung Quốc sẵn sàng đưa quân vào Việt Nam như Trung Quốc đã làm với Bắc Triều Tiên. Nói một cách khác, người Việt Nam muốn chúng tôi giúp họ đuổi người Pháp”, N. Khrushchev, Souvenirský), Paris, R. Lafont, 1971, tr. 456 – -457).
43 Về vấn đề này, xem đoạn sau.
44 Tin Tân Hoa xã, – Bắc Kinh, ngày 6/3/1954.
45 Pháp tấn xã (AFP), ngày 6/3/1954. Chúng tôi nhấn mạnh.
46 L’observateur d’ aujiourd’hui (Báo Người quan sát ngày nay), ngày 18/3/1954, Libération (Giải phóng) ngày 18/3/1954;, L’Humanité (Nhân đạo), ngày 19/3/1954.
47 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ điện Jean DaridanDari đan/ Washington, số 2027 – -2035/ 26/3/1954.
48 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ – điện Buy đôn [?] / Hongkong/, số 29-92/ 3123/3/1954; hoặc điện Buy đôn/, Hongkong/, số 105-108/ 31/3/1954 kể lại tình cảm của ông Đan tơn [?], cố vấn chính trị của Chính phủ Hongkong.
49 Xem D. Eisenhower, sđd, tr. 462.
50 A. Eden., Hồi ký., Ssđd, tr. 106
51 M.ikhail Stepanovich Kapitsa, “Hai chục năm – Hai chính sách.” Ssđd, tr. 109, Астафьев Т.В., Дубинский A. M., sđd, tập I, tr. 93.
Không ước đoán về tính chân thực của tập Hồi ký Khrushchev, người ta ghi nhận rằng những dòng viết về hội nghị trù bị Moskva nói trên phù hợp hoàn toàn với điều được kể lại hiện nay trong các sách Liên xô. Thủ tướng Trung Quốc có lẽ đã tuyên bố như sau: “Chúng tôi hoàn toàn không có thể đáp ứng yêu cầu (Trung Quốc can thiệp vào Việt Nam) của đồng chí Hồ Chí Minh. Chúng tôi dã mất quá nhiều quân ở Triều Tiên, nơi đây chúng tôi dã trả giá đắt cho cuộc chiến tranh. Trong tình hình hiện nay, chúng tôi không thể lao vào một cuộc xung đột mới được nữa”. (Sđd, tr. 457)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét