Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH zÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 9 (tiếp theo)


Chương II

TRUNG HOA NHÂN DÂN ĐỨNG TRƯỚC CÁC CƯỜNG QUỐC PHƯƠNG TÂY 
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CUỘCKHỦNG HOẢNG ĐÔNG DƯƠNG

SỰ ỦNG HỘ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA
DÀNH CHO VIỆT MINH:
GIÚP ĐỠ TÍCH CỰC NHƯNG KHÔNG TRỰC TIẾP CAN THIỆP

Những quan hệ chính trị giữa Trung Hoa nhân dân và Việt Minh

Khi Trung Quốc tuyên bố thành lập nền Cộng hòa nhân dân, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tồn tại được bốn năm rưỡi. Bốn năm đấu tranh gian khổ, qua những bước đường quanh co, thương lượng, khủng bố, chiến tranh du kích, có thắng lợi và có thất bại nhưng đã chứng minh cho các nhà quan sát khách quan1 rằng cuộc cách mạng Việt Nam có [90] những nguồn gốc sâu xa và vững chắc2. Chúng ta hãy đọc lại Paul Mus. Ông đã nhấn mạnh điều đó ngay từ những trang đầu trong cuốn sách xuất bản năm 1952. Đối với xã thôn Việt Nam là tế bào chủ yếu của đời sống xã hội và chính trị, “thiên mệnh” (+) “mệnh trời” - điều này tôi không biết thế nào vì không có tên gọi trong ngôn ngữ chúng ta, nhưng nó nói về chế độ chính trị đến lúc thích hợp sẽ lập lại sự hài hòa giữa trời và con người - đã đi đến Cộng hòa dân chủ. Vị Hoàng đế cuối cùng đã chẳng trao lại cho nó cái ấn, sau khi thoái vị đó sao?


Cuộc cách mạng mà hiện thân là chế độ Cộng hòa dân chủ, cơ bản là cách mạng dân tộc. Chắc chắn đó là sự nghiệp của những nhà mác xít nhưng là những người mác-xít yêu nước nồng nàn, có thể là những người yêu nước nhiều hơn mác-xít, những người coi “độc lập” là mục đích tối cao. Đối với họ, cuộc cách mạng chỉ có ý nghĩa bởi vì nó tạo điều kiện tất yếu của độc lập. Vì vậy, họ cố gắng giữ cho phong trào có được tính chất dân tộc cao cả. Các nhà lãnh đạo Việt Minh luôn luôn nhấn đến sự cần thiết cấp bách đối với cách mạng Việt Nam là “tự lực cánh sinh” (như kiểu chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa). Sự đòi hỏi [91] càng bức thiết hơn đối với một nước như Việt Nam mà nguy cơ lớn là thấy Trung Quốc lợi dụng thế mạnh của họ để hướng cách mạng Việt Nam phục vụ lợi ích dân tộc của chính họ.

Nhưng, mặc dù có những dè dặt như vậy, chắc hẳn là đối với Việt Minh, việc quân cộng sản Trung Hoa đến sát biên giới làm thay đổi tận gốc những dữ kiện về chiến lược. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này viết:“Năm 1949 là năm cách mạng Trung Quốc đại thắng, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Sự kiện lịch sử vĩ đại đó đã làm thay đổi cục diện ở châu Á và thế giới, nó đã có ảnh hưởng lớn đến cuối cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nước Việt Nam đã thoát khỏi hoàn cảnh chiến đấu trong vòng vây của địch và từ nay về địa lý sẽ được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa.”4

Về mặt chính trị, việc cộng sản nắm chính quyền ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đối với Việt Minh. Một mặt, thế cân bằng trong nội bộ ban lãnh đạo (của Việt Minh) sẽ thay đổi. Từ tháng 7/1949, khuynh hướng của Trường Chinh và những người khác, cũng là khuynh hướng của những người chủ trương đánh đến cùng, áp đặt một phần đường lối thiên về các triển vọng chính trị và quân sự đang được thể hiện ở Trung Quốc5. Cùng với sự giúp đỡ bên ngoài và sự tiến [92] triển của bối cảnh quốc tế, điều đó sẽ giải thích sự cứng rắn một cách mau lẹ về chiến lược của Việt Minh và việc họ mở chiến dịch lớn năm 1950.

Mặt khác, việc thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đồng thời tăng cường vị trí của Việt Minh trên sân khấu quốc tế. Cho đến cuối tháng 12/1949, thái độ của Việt Minh đối với Trung Hoa mới, ít ra về công khai, còn hết sức thận trọng bởi vì mặc dù tình hình xảy ra ở Bắc Kinh, những người ở phe quốc gia còn giữ được chính quyền ở vào vùng phía nam. Khi thất bại của phe quốc gia đã rõ ràng, tình hình hoàn toàn khác hẳn. Đầu tháng 1/1950, Võ Nguyên Giáp bí mật đến Nam Ninh (Quảng Tây); ở đó ông đã gặp nhiều nhân vật quan trọng của Trung Quốc6. Mấy ngày sau, ngày 14/1, Việt Nam dân chủ cộng hòa ra lời kêu gọi các nước bạn dành cho sự ủng hộ về ngoại giao7. Hôm sau, 15/1, Việt Nam dân chủ cộng hòa về phần mình công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa8. Ngày 18, đến lượt Trung Hoa nhân dân công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và mời Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi đến Bắc Kinh một đại biểu để thành lập Đại sứ quán9. Khởi đầu quá trình bình [93] thường hóa với các nước xã hội chủ nghĩa10. Trung Quốc đã dành sự giúp đỡ to lớn cho Việt Minh. Ngoài ra Trung Quốc còn gián tiếp cải chính những tin đồn về những sự bất đồng được coi là có giữa người Việt Nam và Trung Hoa về khả năng có thể có một sự trung lập giữa phương Đông và phương Tây.11

Vả lại, những sự kiện diễn ra rất mau lẹ khẳng định sự nhất trí về quan điểm giữa Trung Hoa mới và Việt Minh về một vài điểm căn bản. Từ tháng 11 đến tháng 12/1949, đại biểu Việt Minh (là Nguyễn Duy Tính tức Lưu Đức Phổ) tại hội nghị các công đoàn châu Á và Australia, họp tại Bắc Kinh, đã ủng hộ mạnh mẽ những quan điểm của Trung Quốc do Lưu Thiếu Kỳ [劉 少奇/Liu Shaoqi] đưa ra về cách mạng tại các nước thuộc địa: “Những nguyên tắc chủ yếu…do đồng chí Lưu Thiếu Kỳ đưa ra trong lời khai mạc (hội nghị)… [94] phải được coi là kim chỉ nam cho hết thảy mọi người lao động ở Đông Nam châu Á”12. Vài tuần sau, hội nghị Công đoàn toàn quốc của Việt Nam, cuối tháng 12/1949 - nửa đầu tháng 1/1950, có đại biểu của Công đoàn Trung Quốc tham dự, tuyên bố nhất trí với những nguyên tắc đề ra tại Bắc Kinh13. Một tháng sau, ngày 11/2/1950, Hội hữu nghị Việt – Trung tuyên bố thành lập, chào mừng “sự giống nhau trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Trung Quốc và ở Việt Nam” và nhấn mạnh những mối quan hệ nồng nhiệt giữa hai dân tộc “hai đồng minh gần gũi nhất ở mặt trận phía đông của cuộc đấu tranh chống đế quốc.”14

Trong những tư tưởng đó, một số đã được nhắc lại thường xuyên hơn. Từ khi Đảng lao động thành lập (tháng 2/1951), được Trung Quốc hoan nghênh như là một sáng kiến thích hợp và quan trọng15. Sự cần thiết có một Đảng mác-xít lênin-nít mạnh (ngoài Mặt trận thống nhất và quân đội) thường được đặt lên hàng đầu. Tuyên truyền của Việt Minh cũng nhấn mạnh đến liên minh giữa công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc.

Nhưng nếu giai đoạn này là một trong những giai đoạn trong đó quan hệ Trung -Việt thân thiết nhất, thì sẽ rất sai lầm khi chỉ thấy rằng đường lối chính [95] trị của Việt Minh những năm đó là sự phỏng theo một cách đơn giản mô hình Trung Quốc.

Viện trợ quân sự của Trung Hoa nhân dân cho Việt Minh

Viện trợ quân sự nhận được của cộng sản Trung Quốc bắt đầu từ trước năm 1949 khá lâu16, tất nhiên đã tăng cường khi Quân Giải phóng nhân dân tiến sát biên giới Việt Nam17.

Từ cuối tháng 12/1949, một phái đoàn quân sự của Việt Minh có lẽ đã đến Bắc Kinh để thương lượng xin thêm viện trợ nhiều hơn nữa. Ngày 18/1/1950, cùng ngày Trung Hoa mới công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa, một hiệp định đầu tiên về viện trợ quân sự được ký kết mà theo những nguồn tin Trung Hoa quốc gia, thì Bắc Kinh sẽ giao 150.000 súng trường tịch thu được của Nhật và 10.000 súng carbin Mỹ với đạn dược tương ứng. Việt Minh bắt đầu nhận được số vũ khí này kể từ mùa xuân18 [96]. Từ thời kỳ này, các đơn vị chủ lực của Việt Minh (20.000 người) được đưa sang Trung Quốc huấn luyện19. Viện trợ này đã đem lại sức nặng đáng kể cho cuộc tiến công lớn của Việt Minh khoảng tháng 9 tháng 10/1950 (chiến dịch Lê Hồng Phong đợt 1). Như mọi người đều biết, cuộc tiến công này đã đưa lại thảm bại cho quân đội Pháp Việt (Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lao Kay đều thất thủ). Cuối năm 1950, khoảng bốn chục tiểu đoàn đã được Trung Quốc trang bị hoàn toàn20.

Cùng thời gian này, quân Trung Quốc vào Triều Tiên: xuất hiện mối lo sợ là “quân chí nguyện” Trung Quốc cũng sẽ tràn ngập Bắc Kỳ. Tháng 12/1950 tướng De Lattre Tassigny thay thế tướng [Marcel Maurice] Carpentier chỉ huy quân đội Pháp Việt21.

Bắt đầu từ năm 1951, viện trợ Trung Quốc được cấp cho Việt Minh theo hiệp định ký kết mùa hè [97] hoặc mùa thu năm đó22. Nam Ninh (Quảng Tây) có lẽ là nơi ký hiệp định, trở thành trung tâm tiếp tế chủ yếu của Việt Minh.

“Sau này tướng R. Salan viết về tình hình mùa thu năm 1951 rằng tướng Võ Nguyên Giáp nhận được của Trung Quốc khối lượng viện trợ quan trọng. Các con đường đi từ Trung Quốc - từ Ninh Minh [宁明], từ Long Châu [龙州] (ở Quảng Tây, phía Bắc Lạng Sơn) tới miền châu thổ (Bắc Kỳ) bằng xe lửa và là những đường tốt. Tôi đã có thể cho thiếu tá [Charles] Latapy bay trên những trung tâm quan trọng đó của Trung Quốc đối diện với Lạng Sơn. Ông ta đã đem về những tấm ảnh chụp không để lại chút nghi ngờ gì về giá trị, khối lượng xe ô tô vận tải của Trung Quốc và phát hiện được những kho hàng lớn ở đó. Các xe vận tải đó đi lại không ngừng trên các con đường đi về hướng Bắc Kỳ (…)”23.

Viện trợ của Trung Quốc còn tăng lên nữa, trong năm 1952, khối lượng đạt khoảng 6.000 tấn24. Bắt đầu từ năm đó, còn có thêm một số lớn vũ khí từ các nước xã hội chủ nghĩa khác đưa tới. Một kho vũ khí từ các nước xã hội chủ nghĩa khác đưa tới. Một kho vũ khí do Trung Quốc cung cấp cho Việt Minh thu được ở Phủ Đoan ngày 9/11/1952, đã cho biết 50% trung liên là do Tiệp Khắc sản xuất, và hơn nữa đa số vũ khí khác có nguồn gốc Mỹ hoặc Nhật Bản25. Cũng trong năm 1952, ngày 7/4, Trung Quốc và Việt Minh ký “Hiệp định trao đổi hàng”, theo đó Chính phủ Bắc Kinh cam kết cung cấp cho Việt Nam [98] dân chủ cộng hòa máy công cụ, dược phẩm vv… và cả thiết bị quân sự, tất cả đổi lấy gỗ và sản phẩm nông nghiệp26.

Các thứ hàng hóa này được ước tính gần 1.000 tấn mỗi tháng trong năm 1953. Nhưng trong tổng số đó, số vũ khí này chiếm phần ngày càng lớn: 4 đại bác cỡ 105 ly, 296 trọng liên phòng không, 152 súng cối (Mortier) 120 ly hoặc 81 ly, vv… Ngoài ra cũng trong năm đó, 500 xe vận tải được giao cho Việt Minh, tăng khối lượng xe vận tải của Việt Minh lên khoảng 1.000 xe, trong đó có một số là xe vận tải Liên Xô kiểu Molotova. Ngoài các thứ đó, có thêm vũ khí nhẹ: 710 trung liên, 1.500 súng tiểu liên, 6.000 súng cá nhân, cùng với đầy đủ đạn dược; 300.000 bộ quân phục, thiết bị thông tin liên lạc; 120 máy thu–phát, 20 tổng đài, 70 máy điện thoại, vv…

Các con đường giao hàng viện trợ đó đều hoàn toàn công khai. Trung tâm phân phối lớn Bằng Tường (Quảng Tây) nơi đây hàng đưa tới bằng xe lửa. Từ đó phần lớn hàng được đưa tới Cao Bằng qua Long Châu rồi về Thái Nguyên (bằng con đường thuộc địa số 3) hoặc Lạng Sơn (bằng đường thuộc địa số 1). Các con đường khác đi từ Vân Nam, bắt đầu từ Vân Sơn (文山/Wenshan) qua Hà Giang rồi Tuyên Quang hoặc qua Lao Kay và sông Hồng hoặc qua đường mòn Lào Kay Lai Châu. Việc chuyên chở từ Bằng Tường hoặc Vân Sơn do xe vận tải Việt Minh đảm nhiệm (hoặc do các xe vận tải Trung Quốc nhưng chỉ đến biên giới thì dừng lại) rồi tùy từng trường hợp, bằng các đoàn ngựa thồ, thuyền [99] ván, xe đạp thồ, hoặc người gánh27. Từ những điểm này, một phần hàng viện trợ ở Trung Quốc được phân phối về miền Trung, nhất là qua ngả Hòa Bình, đến tận miền Bắc Trung Bộ28. Nhưng những hàng này không đi vào tới miền Nam29.

Từ cuối năm 1952, viện trợ quân sự của Trung Quốc bao gồm cả việc đưa sang Việt Nam một số lượng lớn – hàng vạn – kỹ thuật viên nhiều ngành khác nhau: truyền tin, bộc phá, bảo quản vật tư, pháo binh vv…30. Ngoài ra, các cố vấn Trung Quốc cộng tác với bộ tham mưu Việt Minh xây dựng các kế hoạch [100] chiến lược, chuẩn bị chiến tranh tâm lý, hoặc huấn luyện và phát triển quân đội. Tuy vậy, đến cuối năm 1953, không có một chiến binh Trung Quốc nào đứng trong hàng ngũ quân đội Việt Minh và không một huấn luyện viên Trung Quốc nào dính líu trực tiếp đến các trận chiến đấu31.

Ngoài ra, binh lính Việt Minh, các sĩ quan và chính trị viên còn được Trung Quốc dành cho những điều kiện thuận tiện đáng kể cho việc huấn luyện và nghỉ ngơi32 ở “đất thánh”, cần thiết cho họ tránh khỏi các cuộc phản công của lực lượng Pháp Việt.

Bắt đầu từ khi có đình chiến Triều Tiên, nhất là sau hội nghị Berlin mà kết quả là thông báo sẽ có hội nghị Genève, khối lượng viện trợ của Trung Quốc tăng nhiều khoảng gần 4.000 tấn hàng mỗi tháng, gần 2.000 tấn lương thực33. Tháng 4/1954, Tướng H. Navarre đã tóm tắt tình hình mới như sau:
“Chiến tranh bắt đầu gia tăng khi có tin họp hội nghị Genève (…). Nhờ viện trợ Trung Quốc, đây là một “cuộc chiến tranh khác” mà bộ chỉ huy Việt Minh đang tiến hành. Đó là cuộc chiến tranh hiện đại thật sự có sự can thiệp của pháo binh, súng phòng không, vận chuyển bằng ô tô trên [101] những con đường có giá trị, việc thông tin liên lạc không thể coi thường được”34.

(Còn tiếp)

4 Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954) trong tập “Chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân” Paris, Maspero 1966, tr. 21.
5 Ph. Devillers, sđd, tr. 451; Bửu Lộc, Aspects of the Vietnamese problem (Những khía cạnh của vấn đề Việt Nam) Pacific Affairs 25 XXV (1952), No. 3, tháng 9/1952, tr. 239; Ph. Devillers, Vietnam, L’Asie du Sud-Est, Paris, Sirey, 1971, tập II, tr. 848-849.
6 Nguồn tin của Ph. Devillers. Xem K. C. Chen, sđd, tr. 231.
7 Hồ Chí Minh, sđd, tr. 249-250.
8 Việt Nam New agency (Đài phát thanh Việt Minh) 16/1/1950 (tiếng Anh).
9 Tin của đài phát thanh Bắc Kinh ngày 18/1/1950. Xem Nhân dân nhật báo Bắc Kinh ngày 19/1/1950. Cùng ngày Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gửi đến Bộ Ngoại giao Pháp công hàm phản đối việc quân đội Pháp bạc đãi Hoa kiều ở Đông Dương.
10 Đến lượt Liên Xô công nhận chế độ Việt Minh ngày 30/1/1950 (Hãng TASS ngày 31/1/1950), Bắc Triều Tiên ngày 31/1, Tiệp Khắc ngày 2/2, Rumani ngày 3/2, Ba Lan và Hunggari ngày 5/2 và Anbani ngày 13/3.
Đến ngày nay, những sự kiện này còn khó hiểu ở nhiều khía cạnh, khi Trung Hoa quyết định công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa thì Mao Trạch Đông còn ở Moskva và đang thương lượng để ký Hiệp ước Đồng minh tương trợ Trung -Xô. Lưu Thiềếu Kỳ, đảm nhiệm quyền chủ tịch, có phải tham khảo ý kiến Mao trước khi quyết định không? Phải chăng chính sách quyết định của Trung Quốc đã làm Liên Xô chấm dứt sự dè dặt từ bốn năm nay đối với Việt Nam dân chủ cộng hòa để Trung Quốc không thu lợi một mình trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Minh? Xem Ph. Devillers, sđd tr. 454-455.
11 Trong lúc Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố không thể có trung lập giữa hai khối (nhất biên đảo), Hồ Chí Minh đã để cho người ta hiểu rằng Việt Minh có thể đứng trung lập nếu chiến tranh xảy ra giữa Liên Xô và Mỹ.
12 Việt Nam New agency, 8/3/1950 (tiếng Anh).
13 Tân Hoa xã Bắc Kinh 19/11/1949.
14 Việt Nam New agency, 11/9/1950 (tiếng Anh)
15 Nhân dân nhật báo, 27/3/1951. Cương lĩnh của Đảng được đăng trong tạp chí Pepole’s China, 1/5/1951. Jean. Lacouture và Ph. Devillers còn đi xa hơn khi giải thích việc thành lập Đảng Lao động như là kết quả của sức ép Trung Quốc (La fin d’une guerre /Kết thúc một cuộc chiến tranh), sđd, tr. 31.
16 Xem chương I.
17 Nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa không bao giờ nhận đã viện trợ quân sự cho Việt Minh. Ngược lại, một số sách của Liên Xô ngày nay đã có nói đến. Xem Астафьев Т. В., Дубинский A. M. Внешняя политика и международные отношения Китайской Народной Республики (Chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa), Мысль, M., 1974, tập I, tr. 87-88.
18 Chiang Yung-ching, sđd, tr. 14-15. K. C. Chen trích trong sđdsách dẫn tr. 261, vấn đề Trung Quốc viện trợ cho Việt Minh được nghiên cứu chi tiết ở các tr. 260-278. [Edouard] Frederic Dupont, Mission de la France en Asie (Sứ mệnh của nước Pháp ở châu Á), France–Empire, Paris, 1956, tr. 116 nói đến việc xây dựng các con đường quan trọng ở biên giới Trung-Việt kể từ tháng 1/1950. Nói chung, về viện trợ của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho Việt Minh nên tham khảo các sách: Joseph J. Zasloff, The Role of the Sanctuary in Insurgency: Communist China's Support to the Vietminh, 1946-1954 (Vai trò của đất thánh trong cuộc nổi dậy: Ủng hộ cộng sản Trung Quốc cho Việt Minh 1946–1954) Santa Monica, CA: Rand Corporation, 1967, 80 trang (Memorandum RM-4618-PR).
19 R. Salan, sđd, tr. 166. Xem thêm Joseph. Laniel, Le drame indochinois, de Dien Bien Phu au pari de Genève. (Tấn thảm kịch Đông Dương từ Điện Biên Phủ đến trận đánh cuộc ở Genève) Paris, Plon, 1957, tr. 8.
20 B. Fall, Le Viet Minh, sđd, tr. 195.
21 Tướng De Lattre Tassigny giữ quyền Tổng chỉ huy cho đến khi chết tháng 1/1952, sau đó đến lượt tướng R. Salan kế tục đến tháng 5/1953, rồi sau đó đến tướng H. Navarre đến tháng 6/1954.
22 K. C. Chen, sđd tr. 269; Pierre Rocolle: Pourquoi Dien Bien Phu? (Tại sao có trận Điện Biên Phủ?) Paris, Flammation, 1968, tr. 67.
23 R. Salan sđd tập II, tr. 244.
24 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ điện ngoại giao từ Paris gửi đến đoàn đại biểu Berlin/số 991 – -1002, ngày 10/2/1954.
25 . R. Salan sđd, tập II, tr. 340.
26 . Quan hệ bang giao của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bắc Kinh, tập 2, tr. 136 – 137. Tướng R. Salan, sđd, tập 2, tr. 385, nói đến việc thanh toán bằng thuốc phiện của dân Mèo [Hmong] trồng ở Lào?
27 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Điện đã nói ngày 10/2/1954, do R. Salan xác nhận trong sđd, tập 2, tr. 394. Cần lưu ý rằng nhiều tác giả khác đưa con ra con số viện trợ năm 1953 cao hơn nhiều 1000 tấn mỗi tháng. K. C. Chen sđd, tr. 276 (3.000 tấn); B. Fall trong cuốn Le Viet Minh đưa ra con số từ 3.000-5.000 tấn mỗi tháng. Những sự ước tính đó rất gần với sự thật hơn là trong hồ sơ lưu trữ chính thức của Bộ tham mưu ở Đông Dương muốn giảm nhẹ một cách có hệ thống sự đe dọa của Trung Quốc để không làm chính phủ Paris phải lo sợ vì Bộ tham mưu Đông Dương cảm thấy Paris sẵn sàng bỏ rơi họ (nói chuyện với đại tá [Jacques Le?] Bourgeois, ngày 17/10/1974).
28 R. Salan, Hồi ký, sđd, tập 2, tr. 263 và 271.
29 Như trên.
30 Xem Handbook for pPolitical wWorkers gGoing to Vietnam (Sổ tay cho người công tác chính trị đi Việt Nam 15/12/1952 trong Allan B. Cole Confict in indoIndo--cChina and iInternational Repercussions: A dDocumenttary hHistory 1945–1955 (xung đột ở Đông Dương và ảnh hưởng quốc tế. Tư liệu lịch sử 1945–1955). Conrnell uUniversity pPress, 1956, tr. 125 – 130 (Hoàng Hoa, người phát ngôn đoàn đại biểu Trung Quốc tại Genève hôm 14/5 khẳng định rằng tài liệu này là hoàn toàn bịa đặt do Chính phủ Mỹ đưa ra để chuẩn bị dư luận cho việc mở rộng chiến tranh (tin Tân Hoa xã, Genève 14/5/1954).
31 32 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện đã nói ngày 10/2/1954.
Về vấn đề này, người ta ghi nhận những ý kiến táo bạo của Jules Roy: La bataille de Dien Bien Phu (trận Điện Biên Phủ) Paris, René Juliard, 1963, tr. 243 – 244. Có lẽ J. Roy đã đi quá xa khi ông ta viết: “Trung Quốc không có tại chỗ một số cố vấn quân sự nào có thể ra quyết định, không có một pháo thủ nào, một chuyên gia nào (chúng tôi nhấn mạnh).
33 Hồ sơ lưu trữ của J. F. Dulles dự thảo diễn văn ở Overseas press club of America (Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ) đểề ngày 24/3/1954 (xem đoạn sau) do M. GurtovGuốctốp, trích trong sđd, tr. 188 chú thích 58.
34 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp./ Sài Gòn/ 24/4/1954, bản ghi nhớ số 1807 /Genève /C.C “Tình hình quân sự ở Đông Dương trước hội nghị Genève“ (chúng tôi nhấn mạnh).
Xem thêm trả lời của tướng H. Navarre gửi Đại sứ J. Chauven có nói một phần đến viện trợ Trung Quốc (20/4/1954, đoạn 4). Những câu trả lời đó là nội dung của công văn số 1809 trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Viên tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương cho rằng nếu giả định ném bom cắt đường tiếp tế từ Trung Quốc thì Việt Minh “không còn có đủ trang bị cần thiết để mở chiến dịch mới cũng qui mô như vậy trong năm 1954 với những phương tiện như họ đang sử dụng hiện nay”.
Về việc gia tăng viện trợ của Trung Quốc trước khi hội nghị Genève họp, xem thêm H. Navarre, Đông Dương hấp hối 1935-1954, sđd, tr.183, 205 – -208 và 253.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét