Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles

(Nguyên tác : « L’origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l’université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Trương Nhân Tuấn (chuyển ngữ & nghĩa)

Kỳ 3 (Tiếp theo và hết)

4/ Từ Chiến tranh lạnh đến ngày hôm nay
Trong thực tế, các vấn đề lãnh thổ giữa Nga và Nhật Bản chỉ một trong những tranh chấp của Chiến tranh Lạnh. Trong thời kỳ này, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ, có hai ưu tiên chính: quan hệ ngoại giao chặt chẽ với Hoa Kỳ, và mối giao hảo tốt đẹp với LHQ. Tầm quan trọng của Hoa Kỳ trong ngoại giao Nhật Bản là rất lớn. Bất cứ khi nào quan hệ giữa Nhật Bản và Nga có xu hướng cải thiện, Hoa Kỳ can thiệp vào vấn đề "vùng lãnh thổ phía bắc", gây gia tăng căng thẳng giữa hai nước. Cũng nên nhớ rằng vị trí của Hoa Kỳ cũng tế nhị: họ vừa là đồng minh của Nhật Bản, nhưng lại chiếm Okinawa.


Khi chiến tranh lạnh kết thúc, vấn đề « Vùng lãnh thổ phía Bắc » đáng lẽ đã có thể được giải quyết qua các cuộc đàm phán giữa Nhật Bản và Nga.

Các nhà lãnh đạo mới xuất hiện trên trường quốc tế, như Gorbachev và Yeltsin ở Nga, hay thủ tướng Hashimoto ở Nhật. Năm 1997, lần cuộc họp lần đầu tiên giữa Yeltsin và Hashimoto ở Krasnoyarsk, Nga và vào năm 1998, họp lần thứ hai tại Kawano, Nhật Bản. Các việc này làm cho hy vọng được hưng chấn về giải pháp cho các vấn đề của "vùng lãnh thổ phía Bắc. "

Tại Krasnoyarsk, ông Togo Kazuhiko, thành viên chính phủ Nhật Bản, người chuẩn bị các cuộc gặp gỡ giữa hai lãnh tụ Nga-Nhật, nhận được một cú điện thoại của Sato Mamoru, là người đi theo Thủ tướng Hashimoto (19):
« Ông Togo, xong rồi! »

« Cái gì xong ? »

« Hiệp ước hòa bình! Yeltsin đã thông báo rằng ông sẽ ký hiệp ước hòa bình trước năm 2000! »

« Aaah! Các đảo thì sao? »

« Ông ta dường như có ý định nhượng! »

Hội nghị thượng đỉnh Krasnoyarsk (20) đưa đến hai thỏa thuận quan trọng: 1/ Hai bên Nhật-Nga tận dụng mọi nỗ lực để trước năm 2000 một thỏa thuận hòa bình được ký kết dựa trên các « thông báo ở Tokyo năm 1993 ». 2/ Thực hiện kế hoạch « Hashimoto & Yeltsin » để mở rộng hợp tác kinh tế giữa hai nước trong các lĩnh vực khác nhau. Để thực hiện mục tiêu này, Nhật Bản quyết định tài trợ lên tới một tỷ năm trăm triệu đô la.

« Hiệp ước hòa bình trước năm 2000 », đề nghị bất ngờ của Yeltsin, là một ngạc nhiên thú vị cho Nhật Bản. Yeltsin chứng minh vì vậy khả năng đề xướng và động lực giải quyết vấn đề này. Nhưng sau đó, phía Nga đã không đưa ra đề nghị cụ thể nào để chuẩn bị cho hiệp ước hòa bình như đã hứa.

Ngày 31 tháng 12 năm 1999, Tổng thống Yeltsin tuyên bố từ chức. Điều này làm cho tinh thần của người tị nạn từ Nemuro suy sụp. Kawada Hitoshi 河田弘登志 (Hà Điền Hoằng Đăng Chí), Chủ tịch « Hiệp hội những người tị nạn vùng lãnh thổ phía Bắc, phân hội Nemuro », nói : « Quả thật ngày 31 tháng 12, tôi đã chuẩn bị « Sự kiện lớn của thế kỷ » ở mũi Nosappu dưới sự chỉ đạo của Văn phòng Du lịch Nemuro. Chúng tôi đón năm mới với lòng mong mỏi "vùng lãnh thổ phía Bắc" được trở về đất tổ sau nhiều năm chờ đợi. Tôi đã tham gia, với tư cách đại diện của những người tị nạn, trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình phát thanh của đài NHK, về những ấn tượng đối với việc lấy lại các hòn đảo phía Bắc. Tôi đã sẵn sàng. Nhưng khi tôi nghe tin tức [về sự từ chức của Yeltsin], tôi không thể tin được, nó không phải là một cơn ác mộng! Tôi không nói được lời nào trong một lúc lâu. Tôi hoàn toàn như người chết đứng (21)».

Sau khi Putin lên nắm quyền ở Nga vào năm 2000 và Koizumi ở Nhật năm 2002, các cuộc đàm phán đã bị chậm lại và quan hệ ngoại giao hai nước xấu đi. Mặc dầu, phía Nhật Bản nỗ lực để khai triển một chiến lược nhằm mục đích « lấy lại lần hồi các đảo: hai hòn đảo đầu tiên, sau đó tiếp tục đàm phán với các đảo khác ». Nhưng một vụ bê bối bị nổ ra tại Bộ Ngoại giao, những người phụ trách chiến lược này bị loại trừ.

Tháng mười hai năm 2006, Ngoại trưởng Aso Taro, 麻生太郎 (Ma Sinh TháiLang), trình bày một dự án nghị quyết mới cho vấn đề của « vùng lãnh thổ miền Bắc ». Hai tháng trước, ông Aso đã trình bày phương pháp tiếp cận của ông tại buổi họp báo lần đầu tiên ra mắt chính phủ Shinzo Abe, 安倍晋三 (An Bội Tấn Tam). Vấn đề đang trong bế tắc, với lập trường « khôi phục lại 4 đảo », ông đã cố gắng thoát ra tình trạng này bằng đề nghị « « trước hết khôi phục lại hai đảo ». Nhưng đề nghị này khác với lập trường chính phủ Nhật Bản « khôi phục lại bốn đảo » cũng như « trước hết khôi phục lại hai đảo » với việc đặt căn bản trên bản Tuyên bố chung năm 1956. Aso trình bày phương pháp giải quyết : « Tính tổng số diện tích bốn đảo và khôi phục lại một nửa ». Aso như thế đã dựa vào phương pháp đã sử dụng năm 2004 giữa Nga và Trung Quốc để giải quyết vấn đề lãnh thổ của họ. « Diện tích hai đảo Habomai và Shikotan chỉ có 7% tổng số diện tích bốn đảo, thêm vào đảo Kunashiri thì tất cả chỉ có 36%, vì vậy chúng ta có thể đưa vào một phần của đảo Etorofu để đạt 50% tổng diện tích của bốn hòn đảo! Điều này có nghĩa là 50% diện tích các đảo là bao gồm ba hòn đảo và 25% diện tích của Etorofu ! (22) »

Hai ngày sau, nhân trả lời phỏng vấn, ông Aso nói rằng đó là đề nghị của cá nhân, không phải là chính phủ Nhật Bản, và chưa được phân tích cụ thể. Thật vậy, nguồn gốc của ý tưởng « khôi phục một nửa diện tích của bốn đảo » là của Iwashita Akihiro, 岩下明裕 (Nham Hạ Minh Dụ), như đã viết ở một tờ báo: « Giáo sư Iwashita theo sát quá trình đã dẫn đến thỏa hiệp về các vấn đề biên giới giữa Nga và Trung Quốc. Do tranh chấp này có cùng tính phức tạp với vấn đề Nhật Bản và Nga. Iwashita Akihiro đề nghị, so sánh Trung Quốc và Nhật Bản, việc này đưa đến các biện pháp để mà giải quyết vấn đề « vùng lãnh thổ phía bắc ». Thật vậy, các biện pháp nào được đưa ra nhằm giải quyết các vấn đề giữa Trung Quốc và Nga? Iwashita giải thích trong cuốn sách của mình:
1. Nga và Trung Quốc đã tiến hành các cuộc đàm phán tiệm tiến (graduelles).
2. Nga và Trung Quốc đạt đến một thỏa hiệp chính trị táo bạo ở giai đoạn cuối của cuộc đàm phán, năm mươi năm mươi (theo lối chia hai, chú thích người dịch).
3. Nga và Trung Quốc quyết định khai thác chung chuyển tiếp ở những vùng lãnh thổ tranh chấp trong lúc đàm phán.

Iwashita vì thế đề nghị Nhật Bản thực hiện điểm số 2, vì ông cho rằng Nhật Bản đã cố gắng không thành công ở các điểm 1 và 3 (23).

Nhưng khi nói đến vấn đề lãnh thổ, chúng ta thường nghĩ về đất đai. Tuy nhiên, đặc biệt trong trường hợp của Nga và Nhật Bản, mọi người nên nghĩ về hải phận. Từ khi Nga chiếm đóng, một vấn đề quan trọng trong các cuộc đàm phán chính trị luôn luôn là việc đánh cá trong khu vực của « Vùng lãnh thổ phía Bắc ». Các giới hạn của vùng nước lãnh thổ Nhật Bản sẽ thay đổi lớn lao tùy theo mức độ việc khôi phục các đảo thuộc « Vùng lãnh thổ miền Bắc ».


Bản đồ 3 : Bản đồ xác định hải phận của Nhật tùy theo các trường hợp khôi phục các đảo thuộc « Vùng lãnh thổ miền Bắc ».

Nguồn : Iwashita Akihiro, Những vấn đề « Vùng lãnh thổ miền bắc ». Không 4 hoặc zéro, không 2 (Ni quatre ou zéro, ni deux), NXB Chûo Shinsho, p. 165.

Trong trường hợp chỉ khôi phục được Habomai và Shikotan, vùng hải phận kinh tế độc quyền (ZEE) của Nhật cũng là đã quan trọng. Nếu sau đó, thêm vào đảo Kunashiri thì vùng ZEE sẽ tăng hơn nhiều. Iwashita đã dẫn đòi hỏi của Hidekichi Koizumi, 小泉秀吉 (Tiểu Tuyền Tú Cát , là một người tị tạn Shikotan, đã khởi xướng phong trào khôi phục với thị trưởng Nemuro : « Chúng ta đòi hỏi việc hoàn trả các đảo vì chúng ta đặt căn bản trên bốn đảo là lãnh thổ Nhật Bản không thể tách rời và công lý chỉ thể hiện nếu 4 đảo này được trả lại cho chúng ta. Trong chiều hướng đó, chúng ta không thể bằng lòng chỉ với hai đảo Habomai và Shikotan… Chúng tôi hy vọng ít nhất là phải lấy lại đảo Kunashiri ».

Trên thực tế hồ sơ này dặm chân tại chỗ. Tháng 8 năm 2006, một thuyền đánh cá Nhật bị lực lượng biên phòng cura Nga bắt giữ. Một trong bốn thủy thủ trên tàu này bị bắn chết. Thảm kịch này có nghĩa là người Nhật đầu tiên bị chết bằng súng đạn từ khi hai bên Nhật-Nga thiết lập ngoại giao chính thức từ tháng 12 năm 1956. Dân Nhật cảm thấy bị tổn thuơng và họ thất vọng do việc Nga không xin lỗi cũng như việc không có phản ứng thích hợp nơi chính phủ Nhật.

Gần đây hơn, 15 tháng 11 năm 2009 tại Singapour, trong buổi họp thuợng đỉnh với Tổng Thống Nga Dimitri Medvedev, thủ tướng Nhật Hatoyama Yukio đã từ chối đề nghị chỉ trả lại hai đảo, nhưng vấn đề 4 đảo đã không được đề cập đến (24). Cần nhắc thêm rằng Nhật cần dầu và khí đốt của Nga, do việc này Nga luôn ở thế mạnh lúc đàm phán, vì thế rất ít khi để ý đến các đòi hỏi về lãnh thổ của Nhật. Vì vậy phía Nhật, ngay từ bây giờ, phải hình dung một lối tiếp cận mới về chính trị đối với Nga.




Các bản đồ số 4 A, B, C và D mô tả những thay đổi về biên giới qua 4 hiệp ước Nhật-Nga.
Bản đồ 4A : biên giới theo hiệp ước Shimoda năm 1855

Bản đồ 4B : biên giới theo hiệp ước trao đổi Sakhaline với quần đảo Kouriles năm 1875


Bản đồ 4C : biên giới theo hiệp ước Portsmouth năm 1905

Bản đồ 4D : biên giới theo hòa ước San Francisco năm 1951

Ghi chú
màu xám đậm : lãnh thổ Nhật.
xám lợt: lãnh thổ Nga
xám trung bình : lãnh thổ quản lý chung
để trắng : lãnh thổ theo đó Nhật Bản từ bỏ chủ quyền nhưng không giao lại cho nước nào vì hiệp ước hòa bình chưa được ký kết, mặc dầu vùng lãnh thổ này hiện do Nga chiếm đóng.
Nguồn : Bộ Ngoại giao, hồ sơ « Vùng lãnh thổ phía bắc của chúng ta », 2006.

Chú thích
1. Quần đảo Kouriles có khoảng 30 đảo và nhiều đá, diện tích tổng cộng khoảng 10 600 km².
2. Tôi cám ơn ông viện trưởng Gérard-François Dumont về những lời chỉ bảo trong lúc hướng dẫn soạn thảo bài viết này. Về những chi tiết khác, tôi xin dẫn luận án của tôi « Tranh chấp biên giới giữa Nhật và Nga trong « Vùng lãnh thổ phía Bắc » và các hậu quả của nó lên thành phần dân chúng liên quan », dưới sự hướng dẫn của Pr. Michel Korinman, Đại Học Paris-Sorbonne, ngày 3 tháng 11 năm 2008.
3. Bộ Ngoại Giao, tài liệu « Vùng lãnh thổ phía Bắc của chúng ta », 2006, p. 16.
4. Wada Haruki, « Những vấn đề của Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », NXB Asahi Shinbun, 1999, p. 183.
5. Kimura Hiroshi, « Bản mới về lịch sử thuơng lượng biên giới giữa Nga và Nhật : con đường dẫn đến sự khôi phục Vùng lãnh thổ phía Bắc », éditeur Sekai, Shisôsha, 2002, p. 120.
6. Các bộ Ngoại giao Nhật và Nga, Hồ sơ soạn thảo chung về lịch sử vấn đề Vùng lãnh thổ phía Bắc, 1992.
7. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 198.
8. Ibid. p. 198.
9. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 200.
10. Hiệp ước trao đổi giữa Sakhaline cà các đảo Kouriles : hiệp ước Saint-Pétersbourg.
11. FRUS, 1949, vol. VII ; Wada Haruki dẫn trong « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 201.
12. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 225.
13. Chishima 千島、có nghĩa theo tiếng Nhật là hàng ngàn đảo.
14. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 222.
15. tức là đảo Etorofu.
16. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 222-223.
17. Wada Haruki, « Những vấn đề về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và tương lai », op. cit., p. 230.
18. Kimura Hiroshi, « Vùng lãnh thổ phía Bắc. Lịch sử và chuẩn bị cho việc khôi phục, NXB Jijitsûshin, in lần thứ 5, 1991, p. 49.
19. Tôgô Kazuhiko, Ghi nhớ những thuơng lượng về Vùng lãnh thổ phía Bắc. Năm cơ hội đánh mất. op. cit., p. 238.
20. Ibid., p. 241, và Kimura Hiroshi, « Bản mới về lịch sử thuơng lượng biên giới giữa Nga và Nhật : con đường dẫn đến sự khôi phục Vùng lãnh thổ phía Bắc », op. cit., p. 230.
21. Saitô Tsutomu, Naitô Yasuo, « Nước mắt Vùng lãnh thổ phía Bắc », NXB báo Sankei,
2007, p. 14
22. Giáo sư viện Đại học Hokkaidô, Trung tâm nghiên cứu về người Tư Lạp Phu (Slaves).
23. Ngày xưa người Nhật và Nga cùng sống chung trên đảo Sakhaline.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét