Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles.

(Nguyên tác : « L’origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l’université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Trương Nhân Tuấn (chuyển ngữ & nghĩa)

Kỳ 2 (Tiếp theo)

Trong lời tựa cho « Tài liệu soạn thảo chung về lịch sử của vấn đề vùng lãnh thổ phía Bắc » (6), lập trường của chính phủ Nhật trình bày như sau:
« Liên Xô cho biết họ đã được phép chiếm quần đảo Kouriles, kể cả Etorofu, Kunashiri, Shikotan và Habomai. Nhưng Nhật Bản cho rằng kết ước Yalta đã không liên quan đến lãnh thổ của Nhật Bản ».
Trên thực tế, vào năm 1945 khi Nhật Bản chấp nhận Tuyên bố Potsdam về việc đầu hàng vô điều kiện, Nhật Bản cho rằng tuyên bố này phản ảnh bản chất của Tuyên bố Caire (1943), nhất là điểm cụ thể « không bành trướng về lãnh thổ ». Tuy nhiên, đối với Roosevelt và Staline, chi tiết này chỉ được xem là một tuyên bố về ý định, không phải là một quy tắc ứng xử.


3/ Các cuộc thảo luận sơ khởi về hiệp ước hòa bình San Francisco và ý nghĩa của « Quần đảo Kouriles ».

Sau năm 1947, tình hình vùng Viễn Đông thay đổi và chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản cũng chuyển biến. Tháng 9 năm 1949, Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Anh đến Washington để thảo luận về hiệp ước hòa bình với Nhật Bản. Hoa Kỳ muốn riêng nước này phụ trách thảo văn bản hòa ước và việc này được Anh chấp nhận. Tài liệu đầu tiên xác định: « Nhật Bản sẽ từ bỏ Okinawa và chấp nhận Okinawa được đặt dưới sự ủy thác của Hoa Kỳ. Nam Sakhaline và quần đảo Kouriles sẽ được chuyển giao cho Liên Xô, nhưng Etorofu, Kunashiri, Habomai và Shikotan vẫn thuộc lãnh thổ Nhật Bản ». Tuy nhiên, phần bình luận bản thảo nói trên, là quy định về bốn hòn đảo làm thành « Vùng lãnh thổ phía Bắc »: « Câu hỏi chưa có câu trả lời: có phải các đảo Etorofu, Kunashiri, Habomai và Shikotan tạo thành một phần của quần đảo Kouriles ? Trong hội nghị Yalta, Hoa Kỳ và Anh đã hứa sẽ chuyển giao Liên Xô quần đảo Kouriles »(7).

Ngoài ra, Hoa Kỳ nhận thức được rằng Liên Xô đã chiếm các đảo này từ năm 1945 và không có ý định từ bỏ chúng. Tại sao Hoa Kỳ vẫn xem bốn đảo này thuộc về Nhật Bản? Lập trường của Hoa Kỳ được trình bày như sau: « Mặc dù thực tế là chúng ta biết những ý định của Liên Xô, chúng ta dám chấp nhận những biện pháp này bởi vì, nếu Liên Xô không từ bỏ các đảo, người Nhật sẽ thấy có cảm tình với Hoa Kỳ và đồng thời, Liên Xô sẽ bớt đi hiềm khích với người Nhật » (8).

Sau đó, Hoa Kỳ quyết định thảo một văn bản mới, vì họ không thể chính thức đưa ra lời giải thích thuyết phục tới Anh về lập trường của mình về bốn đảo. Và lần này, họ tách rời bốn hòn đảo của lãnh thổ Nhật Bản. Trong ý kiến mới, họ cho biết : « Chúng tôi chưa quyết định việc chúng tôi sẽ đề xuất rằng Nhật Bản sẽ giữ Etorofu, Kunashiri và quần đảo Kouriles nhỏ (tức đảo Habomai và Shikotan). Hiện nay không phải là lúc đề nghị việc này. Nhưng nếu Nhật Bản có các đề nghị này thì Hoa Kỳ có thể ủng hộ các yêu cầu đó của Nhật ».

Tại sao Hoa Kỳ nói rằng : Hiện nay không phải là lúc đề nghị việc này ? Haruki Wada (9) đưa ra hai lý do : thứ nhất : « nếu Nhật Bản có thể trình bày các văn bản để chứng minh rằng các quần đảo này không phải là một phần của quần đảo Kouriles, và nếu Hoa Kỳ ủng hộ quan điểm này, tình trạng của Hoa Kỳ sẽ trở thành khó khăn. Liên Xô có thể sẽ lên án hành động bất chính, mà Hoa Kỳ sẽ khó biện minh. (USA [….] would expose itself to charges of bad faith by the Soviets which it would be difficult to refute). Thứ hai, lý do là vấn đề của Ryukyu (Okinawa). Trong khi Mỹ chiếm đóng Okinawa thì họ khó có thể yêu cầu Liên Xô trả lại cho Nhật Bản bốn đảo ở phía Bắc. Hoa Kỳ tin rằng họ có thể đề xuất để đặt những đảo này dưới sự ủy thác, như trường hợp Okinawa ».

Trong lịch sử tranh chấp của « Vùng lãnh thổ phía Bắc » sau chiến tranh, sự mơ hồ về định nghĩa của « quần đảo Kouriles » là một trong những lý do tranh chấp. Đối với Liên Xô, « tất cả các đảo Kouriles » là tất cả các hải đảo giữa bán đảo Kamchatka và Hokkaido, mà không để ý đến bất kỳ sự kiện lịch sử hoặc mối quan hệ giữa hai nước. Các đảo này cũng là những hứa hẹn bồi thường cho Liên Xô tại Yalta để nước này vào cuộc chống lại Nhật Bản.

Đối với Mỹ, định nghĩa về « quần đảo Kouriles » là quan trọng đối với chính sách của họ ở vùng Viễn Đông cũng như với bản dự thảo Hiệp ước hòa bình với Nhật Bản. Năm 1949, họ đã ra lệnh nghiên cứu về vấn đề này. Ngày 25 tháng 11, một báo cáo có tiêu đề « Các đảo Kouriles phía nam và quần đảo Shikotan » được trình bày bởi cố vấn phụ trách các vấn đề pháp lý. Báo cáo kết luận, sau khi viện dẫn các lý do về địa lý, lịch sử và chính trị: « Có thể chấp nhận rằng Habomai và Shikotan có những lý do căn bản pháp lý để khẳng định rằng các đảo này không phải là một phần của quần đảo Kouriles. Đối với các đảo Kunashiri và Etorofu, dường như không có lý do pháp lý hợp lệ để cho rằng các đảo này không phải là một phần của quần đảo Kouriles. Kể từ khi Hiệp ước Shimoda, thỏa thuận năm 1855 giữa Nga và Nhật Bản, các quần đảo này chưa bao giờ thuộc chủ quyền của Nga. Nhưng các hiệp ước năm 1855 và 1875 (10) cho thấy các đảo này là một phần của quần đảo Kouriles (11)».

Sau khi hội nghị hòa bình tại San Francisco, tháng 10 năm 1951, lúc Hội Nghị của Nhật phê chuẩn các hiệp ước, các đại biểu của Hokkaido phản đối và khẳng định Etorofu và Kunashiri không là một phần của quần đảo Kouriles. Một đại biểu đặt vấn đề với Thủ tướng Yoshida: « Quần đảo Kouriles được định nghĩa thế nào trong các hiệp ước hòa bình ? » Yoshida hỏi Kumao Nishimura 西村熊雄 (Tây Thôn Hùng Hùng) giám đốc quản lý về các vấn đề hiệp ước, trả lời: « Về quần đảo Kouriles trong hiệp ước hòa bình, chúng tôi cho rằng nó có hai bộ phận, phần Kouriles bắc và nam Kouriles. Nhưng theo lịch sử, tình hình của Bắc Kouriles và Nam Kouriles rất khác nhau, như Thủ tướng Yoshida đã nói trong bài phát biểu của ông tại hội nghị ở San Francisco... Hơn thế nữa, Hoa Kỳ tuyên bố rằng Habomai và Shikotan không phải là một phần của quần đảo Kouriles (12)». Một đại biểu Hokkaido đáp lại: « Ý nghĩa « Quần đảo Kouriles » rất khác với ý nghĩa « quần đảo Chishima (13)». « Quần đảo Kouriles » chỉ định cho mười tám hòn đảo phía bắc của Uruppu ».

Tuy nhiên, phản ứng của Nishimura đã không gây sự chú ý vào thời điểm đó. Ngay cả các phương tiện truyền thông của Nhật Bản cũng không nhắc tới bởi vì nó không có lý lẽ gì mới. Nhưng sau đó, Liên Xô đã lấy lời nói của Nishimura như là bằng chứng cho thấy Nhật Bản đã đồng ý Etorofu và Kunashiri là một phần của quần đảo Kouriles.

3.1 Các quan điểm khác nhau tại hội nghị của Hiệp ước Hòa bình San Francisco

Năm 1951, trong hội nghị hòa bình tại San Francisco, Gromyko cho biết: « Không hề có vấn đề tranh cãi về quần đảo Kouriles, phía nam Sakhaline, và các đảo lân cận hiện đang thuộc chủ quyền của Nga ». Gromyko đã không đưa ra lý do lịch sử để giải thích quan điểm của ông. Ông chỉ trích một thực tế là hiệp ước hòa bình đã không cấu ước việc công nhận chủ quyền của Liên Xô trên những đảo này. Gromyko tuyên bố rằng việc này vi phạm chủ quyền của Liên Xô, và cũng lưu ý rằng việc này mâu thuẫn với mật ước Yalta. Gromyko đề nghị một tu chính nhưng không thành công, sau đó rời bỏ bàn Hội nghị.

Ngược lại, Thủ tướng Nhật Bản Yoshida Shigeru, 吉田 茂 (Cát Điền Mậu) trong bài phát biểu bằng tiếng Nhật, có đưa giải thích chi tiết về ý nghĩa những gì mà Nhật Bản gọi là « quần đảo Kouriles », nói rõ rằng : « Hiệp ước hòa bình (San Francisco) không phải là một hiệp ước trả thù, mà là một văn kiện về "hòa giải và tin tưởng". Do đó tôi đồng ý hiệp ước vô tư và cao cả này ».

Sau đó, Yoshida thể hiện lập trường của ông về tuyên bố của Gromyko như sau : « Chúng tôi không thể chấp nhận đòi hỏi của đại diện Liên Xô, theo đó cho rằng Nhật Bản đã có xâm lược bằng bạo lực trên đảo Sakhaline và quần đảo Kouriles. Ở thời điểm mở cửa của Nhật Bản, Sa hoàng Nga không phản đối việc hai đảo ở phía nam Kouriles là lãnh thổ Nhật Bản. Dân chúng hai nước cùng sinh sống trên hai đảo này, phía bắc của đảo Tokumu (15) và phía nam đảo Sakhaline. Ngày 7 tháng năm 1875, kết quả từ cuộc thương thảo cho hòa bình giữa hai nước, cả hai chính phủ đạt được thỏa thuận theo đó nam Sakhaline trở thành lãnh thổ của Nga, bù lại, các đảo phía nam Kouriles thuộc lãnh thổ của Nhật. Chúng tôi nói về trao đổi, nhưng trong thực tế, Nhật Bản đã nhượng phía nam đảo Sakhaline để chỉ đạt được một thỏa hiệp với Nga. Sau đó, ngày 5 tháng chín năm 1905, thỏa ước Portsmouth, với trung gian hòa giải là Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt, đã trả lại phần nam đảo Sakhaline cho Nhật Bản. Ngày 20 tháng 9 năm 1945, vừa sau khi Nhật Bản đầu hàng, Liên Xô đơn phương sáp nhập quần đảo Kuriles và phần nam đảo Sakhaline vào lãnh thổ của mình. Hơn nữa, quân đội Nhật có đóng trên đảo Shikotan và Habomai, quân đội Nga xâm chiếm các quần đảo này và chiếm đóng chúng cho đến hôm nay. Những đảo này là một phần của Hokkaido, vì vậy chúng là những bộ phận của lãnh thổ Nhật Bản (16)».

Thủ tướng Nhật Bản Yoshida vì thế phản đối chống lại sự chiếm đóng « Vùng lãnh thổ phía Bắc », việc chiếm đóng trái với Tuyên bố Caire. Bài phát biểu của ông là nhằm chống Liên Xô, nhưng thực tế cũng phản đối Hoa Kỳ.

3.2 Tuyên bố chung Nhật-Liên Xô

Năm 1952, Ichiro Hatoyama 鸠山一郎 (Cưu Sơn Nhất Lang) trở thành Thủ tướng. Một trong các ưu tiên của ông này là khôi phục quan hệ ngoại giao với Liên Xô, bởi vì, chính thức, Nhật Bản vẫn còn có chiến tranh với Nhật. Một mặt, biên giới giữa Liên Xô và Nhật Bản chưa được phân định. Mặt khác, vẫn còn nhiều tù nhân Nhật tại Liên Xô. Hai năm sau, vào tháng hai 1954, Hatoyama chuẩn bị các luận điểm chính sau đây để thương lượng với Liên Xô (17):
« Về vấn đề các đảo phía nam Kouriles Nam và phần phía nam đảo Sakhaline:
a. Nhật Bản có thể chấp nhận từ bỏ quyền của mình trong những lãnh thổ này.
b. Về những gì liên quan đến "Vùng lãnh thổ phía Bắc", Nhật Bản chủ trương ngưng lại, việc tìm giải pháp cho vùng này sẽ thảo luận lại sau.
Cuối cùng, về vấn đề thành viên Liên Hợp Quốc: làm thế nào để Liên Xô không dùng quyền phủ quyết của mình, bởi vì Nhật Bản cần sự hỗ trợ của Liên Xô (để gia nhập tổ chức này). »

Trên thực tế, hai ưu tiên của Nhật là trả tự do cho các tù binh, đặc biệt những người bị giam giữ tại Siberie, và được gia nhập Liên Hợp Quốc. Thủ tướng Hatoyama, trước khi ký kết « Tuyên bố chung » vào tháng 10 năm 1956 giữa Nhật Bản và Liên Xô, có nói rằng: « Tôi đến Liên Xô không chỉ để giải quyết vấn đề lấy lại các hòn đảo phía Bắc, mà trước hết là việc trả tự do cho tất cả tù nhân Nhật tại Siberie. Chúng tôi đảm nhận trách nhiệm chính trị về việc trả tự do cho họ. Phải để cho dân ta có thể bước đi trên mảnh đất quê hương của mình càng sớm càng tốt. Nhưng các vùng lãnh thổ này sẽ không biến mất, mà cuộc sống của con người là giới hạn! » (18). Cũng nên lưu ý rằng, trong lúc đàm phán về nội dung của tuyên bố chung, Liên Xô đã đề nghị trả lại các đảo Habomai và Shikotan. Nhưng phe ủng hộ Yoshida và Hoa Kỳ cản trở việc này vì họ cho rằng việc này có tính cách cục bộ.

(Còn tiếp ngày mai)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét