Chủ Nhật, 12 tháng 12, 2010

Tìm hiểu tranh chấp Nhật - Nga về quần đảo Kouriles.

(Nguyên tác : « L’origine de la question des Territoires du Nord » của Yumiko Yamada, Docteur de l’université de Paris-Sorbonne, Géostratégiques n° 26 - 1er trimestre 2010)

Trương Nhân Tuấn (chuyển ngữ & nghĩa) .

Lời mở đầu của người dịch : Tìm hiểu lịch sử tranh chấp giữa Nhật và Nga về quần đảo Kouriles, thực ra là tìm hiểu lịch sử những nỗ lực bền bỉ đòi hỏi chủ quyền của các chính phủ Nhật Bản nối tiếp từ năm 1945 đến nay, cũng như của nhân dân Nhật Bản, về bốn đảo phía nam quần đảo Kouriles, tạo thành vùng lãnh thổ mang tên « Vùng lãnh thổ phía Bắc », từ lâu là lãnh thổ của Nhật Bản, bị Liên Xô chiếm từ năm 1945. Nỗ lực dài dẵn này lý ra đã được đền bồi từ năm 2000, qua sự hứa hẹn của cố Tổng thống Yeltsin về một hiệp ước hòa bình giữa Nhật và Nga. Tuy nhiên sau đó TT Yeltsin từ chức, vấn đề Kouriles bị Nga dẹp sang một bên. Những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã gượng lên được từ dưới đáy vực – mà nguyên nhân đến từ cuộc sụp đổ hệ thống chính trị vì khủng hoảng nội tại đầu thập niên 90. Nga ngày càng chứng tỏ là một nước có « sức mạnh cơ bắp » đồng thời biểu lộ tham vọng lấy lại vị trí siêu cường đã mất. Mặt khác, Nhật Bản phụ thuộc rất nhiều vào Nga về năng lượng. Do đó vấn đề tranh chấp quần đảo Kouriles sẽ khó có thể giải quyết trong thời gian tới, nhất là lập trường của Nga biểu hiện qua việc mới đây Tổng thống Medvedev chính thức đi thăm các đảo tranh chấp. Việc này gây phản ứng dữ dội nơi chính trường cũng như trong dân chúng Nhật.

Về bản chất của tranh chấp, chúng tôi cho rằng trường hợp « Vùng lãnh thổ phía Bắc » có thể so sánh phần nào với trường hợp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (hơn là tranh chấp Senkaku giữa Nhật và Trung Quốc). Chúng tôi cho rằng điều khó khăn nhất, đối với VN, trong việc giải quyết tranh chấp biển Đông, là vấn đề quần đảo Hoàng Sa chứ không phải Trường Sa như nhiều học giả nước ngoài đã nói. Tại Trường Sa, Việt Nam có ưu thế nếu biết khai thác. Trong khi ở Hoàng Sa VN có một tư thế rất yếu kém, vì đối tác là Trung Quốc, một nước luôn có chính sách bành trướng bá quyền đối với VN. Trường hợp tranh chấp Hoàng Sa của VN giống như tranh chấp « Vùng lãnh thổ phía Bắc » của Nhật ở chỗ Hoàng Sa và « vùng lãnh thổ phía Bắc » đã thuộc về VN cũng như về Nhật Bản từ lâu đời. Điểm tương đồng khác nữa của hai trường hợp là VN và Nhật đều ở tư thế kẻ yếu. Tuy nhiên, Nhật Bản có ưu điểm hơn VN vì là một cường quốc kinh tế, trong khi VN vẫn còn là một nước nghèo (hay đang phải triển). Trong khi đối thủ của Nhật là Nga, xem ra « biết điều » hơn Trung Quốc, đối thủ của VN, vì Nga chưa hề đe dọa chiếm các vùng biển khác của Nhật cũng như chưa bao giờ dùng vũ lực vô căn cứ (như trường hợp TQ đánh VN đến hơn 3 lần – chỉ tính sau năm 1945 – tại Hoàng Sa, biên giới miền Bắc và Trường Sa, tất cả đều có nguyên nhân từ chủ trương bành trướng lãnh thổ).

Trong bài viết này, từ đầu năm 2010, mặc dầu hiện nay chính trường Nhật Bản có nhiều thay đổi, về lãnh tụ chính trị cũng như quan hệ hai bên Nga-Nhật có nhiều căng thẳng mới, nhưng giá trị về học thuật của nó không đổi. Đoạn mà tác giả Yumiko Yamada có ghi lại đề nghị của học giả Iwashita Akihiro 岩下明裕 (Nham Hạ Minh Dụ) về một giải pháp giải quyết (Vùng lãnh thổ phía Bắc). Tôi cho rằng đây có thể là một điều mà các học giả VN nên ghi nhận và nghiên cứu (cho trường hợp Hoàng Sa).

Về sự bền bỉ tranh đấu của người dân cũng như lập trường nhất quán trước sau như một của các thế hệ lãnh đạo Nhật Bản, rõ ràng đây là một bài học, trước hết cho lãnh đạo của Việt Nam, sau đó cho các học giả Việt Nam.

***

Mỗi lần lãnh đạo chính trị thay đổi, thủ tướng Nhật, trong bài diễn văn nhậm chức, luôn xác định những lãnh vực ưu tiên trong chính sách của mình. Vấn đề « Vùng lãnh thổ phía Bắc » - tức vấn đề Nga hiện chiếm đóng 4 đảo « của Nhật » ở phía nam quần đảo Kouriles (1) - là một chủ đề luôn được nhắc đi nhắc lại từ năm 1945. Yukio Hatoyama, thủ tướng từ năm 2009, dường như có ý định giải quyết vấn đề này. Ông này là cháu của Ichirô Hatoyama, trong thời kỳ làm thủ tướng (1952-1956), đã thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Nhật và Liên Xô (tên cũ của Nga), đồng thời ký bản Tuyên bố chung năm 1956 (2).
Thời kỳ Yukio còn là nghị viên, ông đã xuống đường biểu tình, nhất là vào năm 2004, trên bến tàu Hanasaki ở Nemuro, là một thị trấn nhỏ chuyên nghề đánh cá, ở phía chỏm cực tây-bắc của đảo Hokkaidô. Đây là nơi khởi nguồn của phong trào đòi hỏi khôi phục lại 4 đảo phía bắc, cũng là nơi sinh sống của phần lớn dân tị nạn đến từ 4 đảo của Nhật, tức các đảo ở phía nam quần đảo Kouriles, do Nga chiếm đóng từ năm 1945. Yukio Hatoyama đã đến Nemuro nhiều lần để khuyến khích dân tị nạn ở đây trở về thăm các đảo, là nơi chôn nhao cắt rốn của họ.

Nguyên nhân tranh chấp « vùng lãnh thổ phía Bắc »

Vấn đề tranh chấp các đảo mà người Nhật gọi là « lãnh thổ phía Bắc » bắt đầu từ sau khi Thế chiến thứ II kết thúc. Ngày 8 tháng 8 năm 1945 Staline tuyên bố chiến tranh với Nhật Bản. Mặc dầu nước này đã đầu hàng ngày 15 tháng 8 nhưng quân đội Liên Xô tiếp tục tấn công vào quần đảo Kouriles. Ngày 5 tháng 9 quân Nga tiến đến nhóm đảo Habomai, là nhóm đảo ở phía cực nam quần đảo Kouriles (phía bắc đảo Hokkaidô). Nhóm đảo này có diện tích khoảng 165km².



Bản đồ 1: Bản đồ quần đảo Kouriles. Đường kẻ đứt khoảng là đường biên giới hiện nay (giữa Nhật và Nga) theo quan điểm của chính phủ Nhật. Tên Nhật của các đảo và các thành phố chung quanh Hokkaidô. Các số ghi cạnh các đảo thuộc Nga có tên Nhật chiếu theo điều 2 của Hiệp Ước Saint-Pétersbourg (1875).

Tên (Aïnu) của các đảo : 1 Shumushu占守, 2 Araito阿頼度, 3 Parashimuru幌筵,
4 Makanru磨勘留, 5 Neokotan温繭古丹, 6 Harimukotan春牟古丹, 7 Ekaruma
越渇麿, 8 Shasukotan捨子古丹, 9 Chirikotan知林古丹, 10 Mushiru 雷公計,
11 Matsuwa松輪, 12 Rshowa羅處和,
13 Suredonewa et Ushishiru, スレトネワとウシシルル, 14 Ketoi 計吐夷,
15 Shimushiru新知, 16 Bronto 武魯頓,
17 Cherupoi et Buratto Cherupoefu チェルポイとブラットチェルポエフ,
18 Uruppu得撫
Nguồn : Bộ Ngoại Giao, « Lãnh thổ phía Bắc của ta », Hồ sơ, 2006.

Sau khi chiếm các đảo Kouriles, bao gồm luôn bốn đảo thuộc « lãnh thổ phía Bắc » là các đảo Etorofu, Kunashiri, Shikotan và quần đảo Habomai, quân đội Liên Xô trục xuất dân chúng Nhật sinh sống tại đây, sau đó cho dân Nga di cư sang. Tuy nhiên, theo Nhật Bản, bốn hòn đảo này là một phần của lãnh thổ quốc gia kể từ thế kỷ XIX. Ngược lại, theo quan điểm Liên Xô và nay là Nga, các đảo này thuộc các vùng đất đã bị Nhật chiếm hữu mới đây, như thế việc chiếm đóng của Nga là chính đáng, toàn bộ quần đảo Kouriles sẽ là phần nối dài của lãnh thổ Liên Xô tại Thái Bình Dương. Do tranh chấp này, từ năm 1945 đến nay không có hiệp ước hòa bình đã được ký kết giữa hai nước. Mỗi bên đều từ chối mọi thỏa hiệp (về vấn đề Kouriles), các thỏa thuận từng phần được ký kết nhưng trong vấn đề Kouriles thì vẫn ở tình trạng mù mờ. Năm 1951, hội nghị hòa bình tại San Francisco, theo đó Nhật Bản phải từ bỏ tất cả những vùng đất đã chiếm được của các nước sau năm 1905, nhưng biên giới giữa Nga và Nhật Bản thì chưa được xác định rõ ràng. Mặt khác Liên Xô cũng từ chối ký vào hòa ước San Francisco.

Vì phải tìm một thỏa thuận để cho hồi hương tù binh của Nhật bị giam tại Sibérie cũng như Nhật Bản cần sự ủng hộ của Nga để được chấp nhận vào Liên Hiệp Quốc và trở lại trên trường quốc tế… do đó Nhật và Nga ký một tuyên bố chung năm 1956, nhưng lại không đề cập đến vấn đề lãnh thổ. Từ đó, vấn đề tranh chấp « lãnh thổ phía bắc » trở thành một cái gai trong mọi quan hệ ngọai giao giữa hai nước. Tại sao hai nước này vẫn không giải quyết được tranh chấp này ? Hai bên có thể giải quyết trong tương lai?

Để trả lời những câu hỏi này, bốn điểm tham chiếu cần phải được xem xét : 1/ Tuyên bố Caire 1943 (chiếu theo hiến chương Đại Tây Dương 1941), 2/ mật ước Yalta 1945, 3/ hòa ước San Francisco 1951 và 4/ tuyên bố chung giữa Nhật và Liên Xô năm 1956. Sau đó, cũng nên xác định sự tiến hóa của vấn đề này từ khi chấm dứt chiến tranh lạnh đến ngày hôm nay.

1/ Tuyên bố Caire 1943 :
Tháng 10 năm 1943, trong một cuộc họp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của các nước Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô ở Moscow, các nước đồng minh đồng ý về các đòi hỏi của Liên Xô. Staline do đó chấp nhận tham gia cuộc chiến chống Nhật Bản, nhưng chỉ sau khi Đức thất bại. Một tháng sau, tháng 11 năm 1943, ba lãnh tụ Theodore Roosevelt, Winston Churchill và Tưởng Giới Thạch 蒋介石, gặp nhau tại Caire để thảo luận về mục đích của cuộc chiến. Họ tuyên bố: « Mục đích chiến đấu duy nhất của chúng tôi là kết thúc cuộc xâm lược của Nhật Bản, các nước Đồng Minh không hề có mục tiêu mở rộng lãnh thổ. Chúng tôi chỉ giải phóng các vùng lãnh thổ đã bị Nhật Bản chiếm đóng bởi bạo lực. »

Sau đây là nội dung của « Tuyên bố Caire », theo đó các vùng đất mà Nhật Bản phải từ bỏ được ghi rõ ràng, nguyên văn như sau:

Tất cả các đảo thuộc Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến thứ I.
Đất Mãn Châu, đảo Đài Loan và các đảo Bành Hồ mà Nhật đã xâm chiếm.
Tất cả các vùng đất đã bị đế quốc Nhật chiếm bằng vũ lực.
Đại Hàn hiện đang trong “tình trạng nô lệ” phải được độc lập.

Khi ký vào tuyên bố, Liên Xô công nhận các điều lệ của Hiến chương Đại Tây Dương, là không chủ trương chính sách bành trướng lãnh thổ. Trong khi Nhật Bản đã thụ đắc quần đảo Kouriles năm 1875, trong một thời kỳ hòa bình, trong khuôn khổ hiệp ước « trao đổi giữa Sakhaline và quần đảo Kouriles ». Do đó, không thể xem việc thụ đắc các đảo này là kết quả từ việc chinh phục bằng bạo lực. Đối với các đảo phía nam quần đảo Kourils là các đảo: Habomai, Kunashiri, Etorofu và Shikotan, thì Nhật đã thụ đắc năm 1855, với sự đồng thuận của Nga theo Hiệp ước Shimoda. Điều lệ của Hiến chương Đại Tây Dương liên quan đến việc mở rộng lãnh thổ vì vậy không được áp dụng, vì những đảo này vẫn đang bị chiếm đóng của Nga.

2/ Mật ước Yalta:
Tháng hai năm 1945, thỏa ước Yalta được các lãnh tụ đồng minh bí mật ký kết, bao gồm, ngoài những điều khác, 3 điều sau đây (3):
1. Duy trì sự chiếm đóng của Liên Xô ở Ngoại Mông hiện trạng.
2. Trả lại phần phía nam đảo Sakhaline và các đảo phụ cận cho Liên Xô.
3. Nhượng quần đảo Kouriles cho Liên Xô.

Vì điều 3 không xác định thế nào là « quần đảo Kouriles », Liên Xô chiếm đóng năm 1945 toàn thể quần đảo, kể cả 4 đảo phía nam đã thuộc về Nhật từ xa xưa, mà không bị đồng minh cáo giác, mặc dầu các đảo này chiếm hữu bằng bạo lực. Cùng khoảng thời gian đó, ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày Nhật Bản ký vào văn bản đầu hàng, Staline đọc diễn văn chiến thắng trước nhân dân Liên Xô : « Sự thất bại của quân đội Nga trong chiến tranh chiến tranh Nga-Nhật năm 1904 để lại cho chúng ta một kỹ niệm cháy bỏng. Sự thất bại đã ghi khắc vào chúng ta như một điều tủi nhục. Nhân dân chúng ta chờ đợi ngày mà Nhật Bản sẽ thất bại và ngày đó cái tủi nhục này được tẩy xóa. Chúng tôi, những người thuộc thế hệ đi trước, đã chờ đợi ngày này từ bốn mươi năm. Ngày đó đã đến. Hôm nay, Nhật Bản đã nhìn nhận sự thất bại và ký vào văn kiện đầu hàng vô điều kiện… Điều này có nghĩa miền nam đảo Sakhaline và quần đảo Kouriles được nhượng lại cho Liên Xô, và từ nay các đảo này không còn là hàng rào của Nhật Bản chia cách Thái Bình Dương với vùng viễn đông Liên Xô, mà chúng trở thành một đường nối trực tiếp giữa Liên Xô với Thái Bình Dương cũng như các căn cứ quân sự bảo vệ đất nước chúng ta chống lại sự xâm lăng của Nhật Bản » (4).

Từ năm 1945, Liên Xô đã luôn luôn dựa trên các điều ước Yalta và Hòa ước San Francisco để biện minh cho việc chiếm đóng « Vùng lãnh thổ phía Bắc » của Nhật Bản.

Tuy nhiên, theo Kimura Hiroshi, một chuyên gia về nghiên cứu xung đột « Vùng lãnh thổ phía Bắc », đã nhận xét sau đây về các kết ước Yalta (5). Thứ nhất: « Các thỏa thuận Yalta chỉ là một tài liệu trong đó ba nhà lãnh đạo liên minh đã xác định chính sách của họ về những việc cần làm sau chiến tranh. Do đó, thỏa thuận này có thể không thể hiện các chính sách chính thức của tất cả các bên liên quan ». Bản Ghi nhớ Hoa Kỳ về đàm phán giữa Nhật Bản và Nga, ngày 07 tháng chín năm 1956, cũng khẳng định: « Hoa Kỳ công nhận rằng những gì gọi là các kết ước Yalta chỉ là một hồ sơ trong đó được trình bày, vào thời điểm đó, các mục tiêu chung của các nhà lãnh đạo của các nước liên quan, và chúng không dự quyết gì đến quyết định cuối cùng. Ngoài ra, nó không có hiệu lực nào cho việc phân bổ các vùng lãnh thổ ». Thứ hai, Hiroshi cho biết thêm: « Các kết ước Yalta được một thỏa thuận bí mật. Nhật Bản không tham gia và không ký kết. Do đó không có lý do gì Nhật Bản bị áp chế bởi các thỏa thuận này ».



Bản đồ 2 : Trình tự việc tiến quân của quân đội Nga. Từ Sakhaline và Kamtchatka, quân đội Nga xâm chiếm quần đảo Kouriles của Nhật ( 24 tháng 8 – 4 tháng 9 năm 1945), sau khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng và ngưng bắn (15-8-1945)

Nguồn : Association pour prendre les mesures sur les problèmes des Territoires du Nord, Nos Territoires du Nord, 2002.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét