Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

THỦ TƯỚNG HUN SEN VỚI THẢM HỌA MÔI SINH LỚN NHẤT KHI “TRÁI TIM BIỂN HỒ” NGƯNG ĐẬP

Gi Nhóm Bn Cu Long
NGÔ THẾ VINH

2 (Tiếp theo)

GIẢI PHÁP NGẮN HẠN ĐỂ SỐNG CÒN

Tuần lễ đầu của tháng 10 vừa qua [2010], trong một email trao đổi với người viết, GS Võ Tòng Xuân cho biết: “Mùa Nước Nổi của Đồng Bằng Sông Cửu Long đến hôm nay / ngày 4 tháng 10, vẫn chưa đạt mức 30 cm, thấp hơn trung bình các năm trước là khoảng 1 mét”. Chưa bao giờ mà nông dân Miền Tây mong lũ về đến như vậy. Họ đã từng chung sống với lũ, với nước tràn đồng và bao nhiêu cái lợi do lũ đem tới. Lũ đem nguồn cá đổ xuống từ Biển Hồ, đem phù sa như nguồn phân bón thiên nhiên, con nước ấy còn có tác dụng rửa phèn, đẩy mặn không cho nước mặn lấn sâu thêm vào vùng châu thổ. Nhịp đập khỏe mạnh của trái tim Biển Hồ cũng là sức sống của hai con Sông Tiền, Sông Hậu và toàn mạng lưới kinh rạch của ĐBSCL.


Rất sớm từ 6 năm trước, trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt / RFI [12/2004] khi được hỏi về tình trạng nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi ĐBSCL từ ngày Trung Quốc không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam, GS Võ Tòng Xuân đã phát biểu :
“Nông dân ĐBSCL thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp: bỏ hẳn giống lúa cổ truyền chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, thay vì trồng lúa thì chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm xú chịu được nước lợ; rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh, người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành cao hơn là trồng lúa. Hiện nay Viện Lúa ĐBSCL đang vận dụng công nghệ sinh học, tìm những genes chịu mặn nhằm lai tạo những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường chứ không phải là chịu nước mặn hoàn toàn”. (5)

BIỂN HỒ TRÁI TIM CỦA CAM BỐT

Với đất nước Cam Bốt, ai cũng biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ còn đập khi sông Mekong trong Mùa Mưa còn đủ nước đổ vào sông Tonle Sap tạo dòng chảy ngược vào Biển Hồ như một hiện tượng thiên nhiên kỳ diệu. Là hồ cạn chỉ với diện tích 2,500 km2 trong Mùa Khô, nhưng từ tháng 5 đến tháng 9 khi bước sang Mùa Mưa, nước con sông Mekong dũng mãnh đổ về, khiến sông Tonle Sap đổi chiều, chảy vào Biển Hồ làm nước hồ dâng cao hơn từ 8 tới 10 mét và tràn bờ; diện tích Biển Hồ tăng gấp 5 lần, khoảng hơn 12,000 km2. Những cánh rừng lũ / flooded forest của Biển Hồ là cái nôi để nuôi dưỡng và tái sinh nguồn thực phẩm khổng lồ chủ yếu là cá, chiếm tới hơn 60% nguồn cá của Cam Bốt. Chính con sông Mekong và Biển Hồ từng là cái nôi của nền văn minh Angkor và nay là cái nôi của nền văn minh xứ Chùa Tháp, và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai bền vững của Biển Hồ khi mà không thiếu những dấu hiệu xấu dồn dập đổ xuống từ ngày có những con đập Vân Nam.

Nhưng với ông Thủ tướng Hun Sen, thì lại chẳng có gì phải lo lắng. Hồi tháng 6 năm 2005, nhân buổi lễ thả cá giống vào một hồ phía đông Cam Bốt, ông Hun Sen đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con sông Mekong lúc bấy giờ, theo ông sẽ chẳng có vấn đề gì phải quan tâm. Trước khi bay sang dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Côn Minh, ông đã công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, cho dù điều ấy đi ngược lại ý kiến quan ngại gần như báo động của các chuyên gia bảo về môi sinh. Đi xa hơn thế nữa, ông Hun Sen còn cho rằng ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ là họ chú ý tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn chặn sự hợp tác nên có giữa 6 quốc gia. [AFP, 6/29/05].

Ông Hoàng Sihanouk tuy không còn quyền lực, nhưng đã có một tầm nhìn xa hơn ông Hun Sen. Từ tháng 11/ 1993, do một sắc lệnh của Hoàng Gia Cam Bốt, quy định Biển Hồ là Khu Đa Dụng Bảo Tồn / Multiple Use Protected Areas. Tiếp theo đó, qua bao vận động của Sihanouk, tới tháng 10/1997, Biển Hồ được UNESCO công nhận là Khu Bảo Tồn Sinh Thái / Biosphere Reserve của Thế Giới.

Lại chỉ mới đây thôi, ngày 17 tháng 11 năm 2010, tại thủ đô Nam Vang bên bờ con sông Tonle Sap, một lần nữa Thủ tướng Hun Sen, sau Hội Nghị Thượng Đỉnh ACMECS [ Ayeyawady-Chao Praya-Mekong Economic Cooperation Strategy ] gồm 5 nước Cam Bốt, Miến Điện, Lào, Thái Lan và Việt Nam, đã phủ nhận và bác bỏ mọi mối quan ngại về ảnh hưởng của các đập thủy điện trên thượng nguồn đối với dòng chảy sông Mekong. Ông khẳng định rằng chu kỳ lũ lụt hay hạn hán mới đây là hậu quả của thay đổi khí hậu chứ chẳng liên hệ gì tới chuỗi những con đập thủy điện của Trung Quốc. (9)

Khi nói chuyện với các phóng viên, Thủ tướng Hun Sen đã “diễu cợt / mocked” họ về các ý tưởng cho rằng các con đập trên thượng nguồn sông Mekong đưa tới hậu quả làm tụt giảm mực nước có tính cách lịch sử trong thời gian vừa qua. Như một thách đố, ông đưa ra câu hỏi: “Liệu mực nước lên xuống dọc theo sông Mekong có phải là do các đập thủy điện hay không?” Rồi cũng rất tự tin, ông Hun Sen tự đưa ra câu trả lời bằng những con số: “Năm 1998, mực nước Sông Mekong tụt thấp tới mức kỷ lục 7.5 mét, nhưng tới năm 2000, mực nước lại cao tới 12 mét.

Cần mở một dấu ngoặc ở đây về hai thời điểm mà ông Hun Sen nêu ra:
_ Năm 1998, đã có con đập thủy điện lớn đầu tiên của Trung Quốc chắn ngang dòng chính sông Mekong: đập Mạn Loan / Manwan 1,500 MW hoàn tất từ 1993, tiếp tục lấy nước và hoạt động toàn công suất từ 1995; lại thêm con đập thứ hai Đại Chiếu Sơn / Dachaoshan 1,350 MW cũng đang được xây cất. Không đủ mưa, lại bị giữ nước trong hồ chứa, đã khiến mực nước hạ lưu sông Mekong xuống rất thấp tới 7.5 mét.

_ Năm 2000, khoảng tháng 8-9 năm đó, do những những trận “mưa gió mùa / monsoon rains”rất lớn và kéo dài bất thường, lại thêm hiện tượng “cường triều / high tides” ngăn lũ thoát ra Biển Đông nên đã đẩy mực nước sông Mekong vùng hạ lưu lên cao tới 12 mét, gây cảnh lũ lụt tệ hại nhất trong nhiều thập niên với nhiều tổn thất cả về vật chất lẫn nhân mạng từ Cam Bốt xuống đến ĐBSCL. (14)

_ Năm 2010, trong mấy tháng đầu của năm nay, mực nước lại xuống thấp tới mức kỷ lục trong vòng 50 năm qua ở vùng đông bắc Thái và Lào, gây bao nhiêu lo ngại về an toàn thực phẩm, nước uống và thủy lộ giao thông. Đây cũng là thời kỳ con đập thứ tư Tiểu Loan/ Xiaowan 4,200 MW, sau con đập Cảnh Hồng / Jinghong, còn được gọi là “con đập mẹ” với dung lượng hồ chứa lên tới 15 tỉ mét khối – bằng tổng số dung lượng tất cả các hồ chứa khác của tỉnh Vân Nam, đang lấy nước vào hồ chứa và bắt đầu hoạt động phát điện.


Nhưng cũng vẫn theo ông Hun Sen, thì đơn giản đó chỉ là do “biến đổi khí hậu và khí thải carbon; chính khí thải carbon đã làm những cơn mưa thay đổi bất thường”. Rồi ông mạnh miệng khuyên nhủ:“Vậy các nhà hoạt động môi sinh đừng có quá đáng / don’t be too extreme, và cũng đừng nói rằng vì các đập thủy điện mà thiếu nước ở hạ nguồn. Đó là một sai lầm”. Thấy như vậy chưa đủ, ông Hun Sen còn hỏi ngược: “Năm qua Trung Quốc cũng bị hạn hán, các anh sẽ lên án Trung Quốc ra sao khi mà chính họ cũng thiếu nước?”(8)


Không ai phủ nhận “thay đổi khí hậu” là một yếu tố quan trọng nhưng không phải là duy nhất. Hiện tượng bất thường ấy không loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng lâu dài khác của các con đập lớn trên sông Mekong.


Trung Quốc không chỉ đang ào ạt [a] Xây thêm những con đập thủy điện khổng lồ chắn ngang dòng chính sông Mekong, mà còn thực hiện kế hoạch; [b] Phá đá và khai thông các khúc sông ghềnh thác để mở thủy lộ cho các con tàu 700 tấn đi về phương Nam và bất chấp hậu quả ra sao trên dòng chảy; [c] Dùng sông Mekong làm con đường vận chuyển dầu khí từ giang cảng Chiang Rai lên Vân Nam. [d] Chưa kể tới nguy cơ vỡ đập, điều mà chính các học giả và chuyên gia môi sinh Trung Quốc đã lên tiếng báo động do vùng Tây Nam Trung Quốc là vùng động đất. (13)


Phải nhìn bức tranh toàn cảnh phức tạp, với những tác hại tích lũy và dây chuyền của các con đập thủy điện trên nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa, lúa gạo, và cả gây ô nhiễm nơi hạ nguồn, chứ không thể như ông Hun Sen giản lược một cách thô thiển bằng “hai con số” và một cụm từ “thay đổi khí hậu” rất thời thượng.


(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét