Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

ÐỐT LỬA (TO BUILD A FIRE)

Truyện ngắn của JACK LONDON
HÀ KỲ LAM dịch

Lời người dịch
Jack London, tác giả cổ điển Mỹ, sinh tại San Francisco, California, ngày 12-1-1876. Ông làm nhiều nghề, khai thác sò lậu, tìm vàng, tha phương theo từng mùa công việc, phóng viên chiến tranh, khai thác nông trại, v.v. Vì không có được tuổi thơ êm ấm, nên năm mười chín tuổi ông đã phải nhồi nhét chương trình bốn năm trung học trong một năm học gấp rút rồi ghi danh vào đại học tại University of California at Berkerley.

Nhưng chỉ sau một mùa học ông bỏ cuộc, theo đuổi mộng làm giàu trong cơn sốt tìm vàng của năm 1897 trên vùng băng giá Klondike, bắc Canada. Năm sau ông trở về, vẫn trắng tay, và quyết định thử thời vận bằng văn chương. Cuốn sách đầu tay của ông, “The Son of the Wolf” (1900) lập tức được độc giả tán thưởng. Trong vòng mười bảy năm còn lại của đời ông, Jack London đã hoàn tất năm mươi cuốn sách. Văn chương đã đem lại cho ông danh vọng và tiền tài. Ông mất ở tuổi bốn mươi do một căn bệnh về thận, trên bàn còn bản thảo một truyện vừa (novelette), dang dở phần cuối, truyện “Eyes of Asia”, mà bà Charmian London đã cầm bút thay chồng viết tiếp, vì ông đã thường bàn luận với bà về đoạn kết của câu chuyện. Truyện “Eyes of Asia” được đăng hai kỳ liên tiếp trên hai số báo Cosmopolitan năm 1924 rồi thôi, không in thành sách, cho nên ngày nay có lẽ không mấy độc giả được đọc truyện đó.

Ông nghiên cứu Darwin, Marx, Nietzsche để tự dựng cho mình một thuyết tổng hợp của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa da trắng tối thượng, tuy sau này ông không còn thích lý thuyết đối kháng giai cấp. Truyện của Jack London táo bạo như chính cuộc đời của ông. Không gian trong tiểu thuyết của London trải rộng từ vùng băng giá Yukon gần Bắc Cực đến những bờ biển Thái Bình Dương ấm áp. Truyện ngắn sau đây mô tả sự mong manh, dòn ải của con người trước cái man dã của thiên nhiên. Một điều mỉa mai là ông đã ngồi dưới ánh mặt trời bán nhiệt đới Hawaii để viết truyện này. HKL.

***

NGÀY ÐÃ TRỞ nên lạnh và xám xịt, cực kỳ lạnh và xám, trước khi người đàn ông rẽ khỏi con đường mòn chính của vùng Yukon và leo lên vùng đất cao, từ đó có một con đường mòn mờ nhạt, ít được sử dụng, dẫn về đông, xuyên cánh rừng sam. Ðó là một bờ đất dốc đứng, và anh ta dừng lại trên đỉnh để thở, tự dung thứ hành động của mình bằng cách nhìn đồng hồ. Ðã chín giờ. Tuyệt nhiên không có mặt trời, dù bầu trời không có một vẩn mây. Một ngày trong trẻo, tuy nhiên dường như trên mặt mọi vật có một bức màn vô hình phủ lên, một thứ bóng tối mỏng manh làm cho ngày trở nên u tối, và đó là do không có ánh mặt trời. Sự kiện này chẳng làm bận tâm gã đàn ông. Anh ta đã quen với tình trạng không có mặt trời. Ðã bao nhiêu ngày rồi anh ta không trông thấy mặt trời, và anh ta biết phải mất mấy ngày nữa thì cái thiên thể tươi thắm đó từ hướng chính nam mới ló dạng khỏi chân trời rồi lại biến mất ngay.

Người đàn ông quay nhìn lại con đường anh ta đã đi. Giòng sông Yukon trải dài với chiều ngang một dặm, chìm lấp dưới lớp băng dày cả ba bộ. Trên lớp băng đó là lớp tuyết dày cả mấy bộ nữa. Tất cả là một màu trắng tinh khôi, khẽ gợn sóng ở những chỗ mặt băng bị đẩy lúc đông giá bắt đầu. Bắc và nam là một nền trắng ngút ngàn, ngoại trừ một đường nhỏ như sợi tóc đen thẫm viền quanh một đảo rừng sam ở phí nam, và lại ngoằn ngoèo chạy về phía bắc rồi biến mất đằng sau một đảo rừng sam khác. Cái đường như sợi tóc đen thẫm đó là một đường mòn ố con đường chính - dẫn về nam năm trăm dặm đến đèo Chilcoot, Dyea, và vùng hồ muối, và dẫn về bắc bảy mươi dặm đến thị trấn Dawson, và tiếp tục đi về bắc một nghìn dặm đến Nulato, rồi cuối cùng đến St. Michael bên bờ biển Bering, một nghìn rưỡi dặm nữa.

Nhưng tất cả các điều đó - con đường thiên lý bí hiểm, nhỏ như sợi tóc, không trung không có ánh mặt trời, cái lạnh khủng khiếp, sự lạ lùng kỳ quặc của mọi vật - chẳng gây một ấn tượng nào trong trí gã đàn ông. Chẳng phải vì anh ta đã quen với sự vật ở đây. Anh ta là dân mới trong vùng, một chechaquo, và đây là mùa đông đầu tiên của anh ta. Ðiều phiền toái là anh ta không có óc tưởng tượng. Anh ta nhanh nhẹn, nhạy bén với sự vật của đời sống, nhưng chỉ với sự vật thôi, không phải với ý nghĩa của chúng. Năm mươi độ dưới số không có nghĩa là tám mươi mấy độ băng giá. Sự kiện đó chỉ cho anh ta ấn tượng là lạnh và khó chịu, và chỉ có thế thôi. Sự việc đó chẳng gợi anh ta suy tư về sự mong manh của chính mình như một sinh vật tùy thuộc vào một hạn độ của lạnh, nóng, suy tư về sự mong manh, dòn ải của con người nói chung, chỉ có thể sống còn trong một giới hạn nhỏ hẹp nào đó của nóng và lạnh; và từ đó nó cũng chẳng gợi anh ta hồ nghi sự vĩnh cửu và vị trí của con người trong vũ trụ. Năm mươi độ dưới số không có nghĩa là cái lạnh tê cóng gây đau đớn và phải chống đỡ bằng bao tay, che lỗ tai và giày ấm, vớ dày. Năm mươi độ dưới số không đối với anh ta chỉ chính xác là năm mươi độ dưới số không. Rằng sẽ có điều nào khác hơn thế là một ý nghĩ không hề có trong đầu anh ta.

Khi anh ta quay lại để tiếp tục cuộc hành trình, anh thử nhổ một bãi nước bọt. Có một âm thanh vỡ nghe sắc và lớn làm anh ta sửng sốt. Anh ta nhổ nước bọt một lần nữa. Và lại cũng nghe trong không khí một tiếng vỡ trước khi bãi nước bọt rơi xuống mặt tuyết. Anh ta biết rằng ở năm mươi độ dưới không độ nước bọt nổ khi chạm mặt tuyết, nhưng nước bọt đã nổ trên không trung. Chắc chắn trời đang lạnh hơn mức năm mươi độ dưới không - lạnh hơn bao nhiêu, anh ta không biết. Nhưng nhiệt độ không quan trọng. Anh ta đang trên đường đi đến vùng khai thác cũ của mình ở nhánh bên trái của con suối Henderson, nơi bọn trẻ đã có mặt rồi. Chúng đến từ vùng Indian Creek, vượt qua ngã ba suối, trong khi đó anh ta đi vòng để đến nơi hẹn, mục đích nghiên cứu xem có thể chuyển gỗ vào mùa xuân từ các đảo trong vùng Yukon ra. Anh ta sẽ đến nơi trễ lắm vào khoảng sáu giờ, sau khi trời tối một lát, chắc chắn như vậy; nhưng bọn trẻ sẽ có mặt ở đó, một đống lửa sẽ bừng bừng cháy, và một bữa ăn chiều nóng sốt sẽ sẵn sàng. Nghĩ đến bữa ăn trưa, anh ấn tay vào cái bao cộm lên dưới áo jacket. Nó cũng nằm dưới lần áo trong, gói trong chiếc khăn tay và áp sát vào làn da trần của anh ta. Ðó là cách duy nhất để giữ cho bánh khỏi bị đông đặc. Anh ta mỉm cười nghĩ đến những mẩu bánh đó, mỗi chiếc bánh xẻ đôi, nhúng mỡ heo, và ôm lấy lát thịt heo rán “hào phóng” ở giữa.

Anh ta luồn lách giữa những cây sam to. Con đường muốn mất lối. Tuyết dày đến một bộ đã đổ xuống từ khi chiếc xe đi tuyết cuối cùng đi ngang qua vùng, và anh ta lấy làm hài lòng mình đã không sử dụng xe tuyết, mà di chuyển bộ nhẹ nhàng. Thực ra, anh ta chẳng mang theo đồ đạc gì, ngoại trừ phần ăn trưa gói trong khăn tay. Tuy vậy anh ta thấy bất ngờ với cái lạnh này. Trời lạnh thật, anh ta nghĩ thế, lúc đưa bàn tay trong bao tay lên xoa cái mũi và hai gò má tê cóng. Anh ta có râu quai nón xồm xoàm giữ ấm, nhưng những sợi lông trên mặt không che chở nỗi đôi gò má nhô cao và chiếc mũi cứ chường phơi trong không khí băng giá.

Theo sau gã đàn ông, một con chó chạy chầm chậm, một con chó bản xứ Eskimo to lớn, giống chó thích hợp chống lại chó sói, lông xám, bề ngoài chẳng có một khác biệt nào với anh em nó, loài chó sói hoang. Con vật cảm thấy nhụt chí vì cái lạnh ghê gớm. Nó biết đây không phải lúc để đi đường trường. Bản năng mách bảo nó chính xác hơn phán đoán của con người. Trên thực tế trời không chỉ lạnh hơn năm mươi độ dưới không. Trời đang lạnh bảy mươi lăm độ dưới không độ. Vì điểm đông đặc ở ba mươi hai độ trên không độ, điều đó có nghĩa là một trăm lẻ bảy độ băng giá. Con chó không biết gì về hàn thử biểu. Có thể trong đầu nó không có một cảm thức sắc bén về một tình trạng rất lạnh như trong đầu một con người. Nhưng con vật có bản năng của nó. Nó cảm thấy một nỗi bồn chồn mơ hồ nhưng đầy đe dọa xâm chiếm nó, khiến nó rón rén theo gót gã đàn ông, và khiến nó hết sức thắc mắc ở mỗi động tác di chuyển khác thường của anh ta, dường như nó đang mong anh ta dừng lại nghỉ chân, hay tìm chỗ trú và đốt lửa. Con chó đã hiểu biết về lửa, và nó muốn có lửa, nếu không thì cũng muốn nằm chôn trong tuyết để gìn giữ hơi ấm của thân nhiệt ngăn cách với khí lạnh.

Hơi nước nó thở ra bị đông đặc đã đóng trên lông một lớp bụi trắng mịn, và đặc biệt là phần dưới cổ, mõm và lông mi đã nhuộm trắng vì hơi thở kết tinh. Bộ râu và ria mép đỏ của gã đàn ông cũng bị phủ một lớp giá, nhưng cứng hơn, đã thành đá và cứ tăng dần với mỗi làn hơi ẩm và ấm anh ta thở ra. Lại nữa, gã đàn ông nhai thuốc lá, và cái vòng đóng băng viền quanh mồm đã khóa miệng anh ta cứng đơ, không làm sao phun mớ nước bọt qua khỏi cằm. Kết quả là một hàm râu thủy tinh với màu và độ cứng của hổ phách cứ dài dần dưới cằm. Nếu anh ta té ngã nó sẽ vỡ từng mảnh như thủy tinh. Nhưng anh ta chẳng thấy phiền hà vì cái vật tùy tùng đó. Ðó là cái hình phạt các tay nhai thuốc lá vùng này phải chịu, và anh ta đã trải qua hai đợt lạnh ngoài trời ở đây. Những đợt lạnh đó không dữ dội như lần này, nhưng anh ta biết hàn thử biểu ở Sixty Mile đã ghi năm mươi và năm mươi lăm độ dưới không.

Anh ta vẫn tiếp tục đi xuyên qua dải rừng bằng phẳng một quãng nhiều dặm, vượt qua một vùng bằng, rộng mọc toàn loại cây đầu mọi, rồi đổ dốc xuống một lòng suối nhỏ đã đông đặc. Ðó là Suối Henderson, và anh ta biết mình chỉ còn cách ngã ba suối mười dặm. Anh ta nhìn đồng hồ. Ðã mười giờ. Anh ta đã đi với tốc độ bốn dặm một giờ, và dự tính sẽ tới ngã ba suối lúc mười hai giờ rưỡi. Anh ta dự tính sẽ dùng bữa trưa tại đó để ăn mừng công khó kia.

Con chó lại theo bén gót anh ta, cụp đuôi xuống chán nản, trong khi gã đàn ông đi dọc theo lòng suối. Vệt cày cũ của đường xe tuyết còn thấy lờ mờ, nhưng cả chục phân Anh tuyết đã phủ kín dấu vết những người di chuyển cuối cùng. Cả tháng trời không ai lai vãng trên con suối lặng lẽ này. Gã đàn ông tiếp tục tiến bước. Anh ta không hay nghĩ ngợi, và đặc biệt là ngay lúc này anh ta chẳng có điều gì để suy nghĩ, ngoại trừ việc sẽ ăn trưa tại ngã ba suối, và sáu giờ chiều sẽ dừng chân với bọn trẻ. Chẳng có ai để chuyện trò, và nếu có đi chăng nữa cũng không thể nói chuyện, vì cái vòng siết mồm bằng nước đá quanh miệng. Như vậy anh ta tiếp tục nhai thuốc lá và tiếp tục tăng chiều dài của bộ râu màu hổ phách.

Thỉnh thoảng trong đầu anh ta lại trở về cái ý nghĩ là trời lạnh thật và mình chưa hề nếm trải cái độ lạnh này bao giờ. Vừa đi anh ta vừa đưa lưng bàn tay lên xoa gò má và mũi. Anh ta làm công việc đó một cách tự phát và cách khoảng, luân phiên hai bàn tay. Nhưng dù có sờ xoa cách gì đi nữa, ngay khi anh ngưng tay đôi gò má lại tê cóng ngay, rồi đến chóp mũi tê dại. Gò má anh ta trước sau gì rồi cũng sẽ bị đông lạnh, một điều chắc chắn, anh ta biết thế và cảm thấy tiếc đã không chế ra một cái bao mũi giống như món đồ Bud vẫn mang trong các đợt lạnh. Cái bao như thế choàng ngang qua má nữa và bảo vệ được hai gò má. Nhưng cũng chẳng hề gì. Má bị băng lạnh thì đã sao? Hơi đau đớn một tí, thế thôi; chẳng có chi trầm trọng.

Dù cho đầu óc gã đàn ông trống rỗng chẳng có tư tưởng gì ráo, anh ta lại quan sát rất sắc bén và thấy ngay mọi thay đổi trong con suối, những đường vòng, đường quanh, những khúc gỗ vướng kẹt, và anh ta luôn chú ý kỹ chỗ nào anh ta đặt chân xuống. Một lần vòng qua một khúc quanh, thình lình anh ta nhảy qua một bên như con ngựa hoảng sợ, vòng ra xa nơi anh ta vừa bước lên, và lui mấy bước theo con đường mòn. Anh ta biết con suối đã đóng băng trong suốt đến tận đáy - không một con suối nào còn nước lỏng trong mùa đông bắc cực đó - nhưng anh ta cũng biết có những nguồn nước sủi bọt từ lưng đồi và chảy ngầm dưới lớp tuyết và trên mặt băng của con suối. Anh ta biết những đợt lạnh nhất cũng không làm đông nổi những nguồn nước ngầm này, và anh ta hiểu cái hiểm nghèo của chúng. Chúng là những cái bẫy. Chúng giấu những vũng nước dưới lớp tuyết có khi dày ba phân Anh hoặc ba bộ. Ðôi khi một lớp băng dày nửa phân Anh che phủ chúng, rồi lớp băng đó lại được một lớp tuyết phủ lên. Ðôi khi có nhiều tầng nước và băng xen kẽ nhau hóa cho nên khi một người dẫm vỡ một lớp cứ tiếp tục lún xuyên như vậy một lúc, lắm khi bị ướt sũng đến ngang hông.
Chính vì thế anh ta mới hoảng hốt nhảy sang một bên. Anh ta cảm thấy sự đàn hồi dưới chân và nghe tiếng vỡ của lớp băng có tuyết phủ lên trên. Và để chân bị ướt trong độ lạnh như thế này tức là bị rắc rối và nguy hiểm. Ít nhất tai nạn đó có nghĩa là bị trì hoãn, bởi vì anh ta bị buộc phải dừng lại, và gầy một ngọn lửa, rồi nhờ sự che chở của lửa tháo giày ra hong vớ và giày cho khô. Anh ta đứng xem xét lòng suối và hai bờ, rồi kết luận rằng nước chảy từ bên phải. Anh ta đắn đo một lát, xoa mũi và gò má, đoạn rẽ sang bên trái, bước thận trọng và dò dẫm từng bước. Khi đã qua khỏi chỗ hiểm nghèo, anh ta nhai một miếng thuốc mới, và dấn bước với tốc độ bốn dặm một giờ của mình.


KỲ  1   2   3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét