Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

NƯỚC NON NGÀN DẶM...

Ngự Thuyết

(Tiếp theo và hết)

Nhưng tại sao lại có tình trạng ấy? Tại vì Trung Quốc đã có đủ thế lực để sai khiến chánh quyền Việt Nam? Tại vì Trung Quốc cài người quá tinh vi, quá thâm độc, không ai có thể ngờ tới? Tại vì một số lãnh tụ cốt cán của bộ máy cầm quyền Việt Nam đang tâm bán nước? Và toàn dân Việt Nam đều đã bị đánh lừa, bó tay, bưng tai, bịt mắt? Người dân trong nước cũng như ở hải ngoại đang rất hoang mang, hoảng sợ trước thảm cảnh đó, thảm cảnh tổ quốc trước nguy cơ bị diệt vong. Không, ta có quyền hy vọng không phải như thế. Việt Nam với quá khứ vinh quang, tổ tiên bất khuất, con cháu không thể nào bỏ quên truyền thống, không thể nào chịu làm nô lệ cho ngoại bang. Nhiều người đã bất chấp tù đày và nguy hiểm cho tính mạng đang vùng lên phản kháng, đấu tranh.


Xin trở lại với Ngọc Vạn, Ngọc Khoa. Công nghiệp của hai vị công chúa ấy rất đáng được ca ngợi. Tiếc thay, nếu Huyền Trân Công Chúa được vinh danh trong lịch sử, trong văn thơ, trong lòng người, thì hai người con gái yêu của chúa Sãi ít ai biết. Chính sử cũng không thấy nói đến. May thay, trong Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên có ghi lại sự tích của hai vị ấy. Và cũng còn lại mấy bài thơ cảm khái, ít người biết, một của Tân Việt Điểu, một của Á Nam Trần Tuấn Khải. Xin ghi lại dưới đây:

Ngọc Vạn, Ngọc Khoa vững một niềm,
Vì ai tô điểm nước non Tiên?
Chị lo giữ vẹn tình Miên Việt,
Em nhớ làm tròn nghĩa Việt Chiêm.
Bà Rịa, Biên Hòa thêm vạn dặm,
Phan Lang, Phan Lý mở hai miền.
Non sông gấp mấy châu Ô Lý,
Nam tiến công người chẳng dám quên.

Tân Việt Điểu

Cảm Vịnh Hai Bà Ngọc Vạn Ngọc Khoa

Hồng Lạc ta đâu hiếm nữ tài
Nghìn xưa Trưng Triệu đã từng oai.
Noi gương: Khoa, Vạn, hai Công Chúa
Một sớm ra đi mở đất đai.

Mối tình hữu nghị Việt Chiêm Miên
Thần xỉ mong sao được vững bền.
Chúa Sãi bao năm nhờ diệu kế
Giữ miền Nam Á đặng bình yên.

Đời vốn quen dùng sức lửa binh
Gây nhiều thảm họa khổ sinh linh.
Riêng đây ngọc lụa thay gươm giáo
Trăm họ âu ca hưởng thái bình.

Cũng vì hạnh phúc của muôn dân
Vì nước, vì nhà, sá quản thân.
Lá ngọc cành vàng coi nhẹ bổng,
Hiếu trung cho trọn đủ mười phân.

Những tiếc riêng cho phận nữ hài
Đem thân giúp nước há nhường trai.
Vắng trang lịch sử, nào ai biết
Người đã hy sinh vị giống nòi.

Tới nay kể đã mấy tinh sương
Mượn bút quan hoài để biểu dương:
Bà Rịa, Phan Rang ngàn vạn dặm
Công người rạng rỡ chốn quê hương.

Sài Gòn, ngày 15-7-1959
Á-Nam Trần Tuấn Khải

Lịch sử của các nước ở Châu Âu cũng có ghi lại khá nhiều cuộc hôn phối giữa vua nước này với công chúa nước khác. Hoàng Đế Napoléon đệ nhất của nước Pháp chẳng hạn, để tránh sự đối kháng của nước Áo, đã bỏ Joséphine và cưới Marie-Louise, công chúa nước Áo, làm vợ.

Gần gũi với ta hơn là Trung Quốc. Đông Chu Liệt Quốc, một cuốn sách giá trị trong cổ văn Trung Hoa, ghi lại rất nhiều cuộc thông gia giữa các nước chư hầu. Sau đây là một chuyện:

“Bấy giờ Tề Cảnh Công đã tuổi già, sức yếu, trong cung chỉ còn một nàng gái út chưa định vu quy, lòng không nỡ đem bỏ sang nước Ngô. Ngặt vì trong triều không có người tài, ngoài biên không có tướng giỏi, nếu trái mệnh nước Ngô, sợ quân Ngô kéo sang đánh phá, nước Tề sẽ phải một phen tan tác như nước Sở vừa rồi. Quan Đại Phu là Lê Di cũng khuyên Tề Cảnh Công chớ nên làm cho Ngô tức giận, phải gả nàng gái út Thiếu Khương về Ngô. Tề Cảnh Công thương con gái, nước mắt chảy ròng ròng, sai quan Đại Phu Bảo Mục đưa Thiếu Khương đi, và dặn:
‘Khanh nói với vua Ngô đây là con gái yêu của ta, xin vua Ngô hết lòng chăm sóc cho.’
Thiếu Khương tuổi còn nhỏ, dẫu được kết duyên với Thái Tử nước Ngô, nhưng ngày đêm tưởng nhớ đến cha mẹ khóc hoài không thôi.
Thái Tử thương vợ, thường an ủi, nhưng nàng vẫn luôn luôn sầu thảm, dần dần sinh bệnh. Vua cha là Hạp Lư cũng quý nàng dâu, cho xây cái đài lộng lẫy ở cửa Bắc cho nàng giải muộn. Tuy nhiên lòng hoài hương của người xa quê không thể giải buồn bằng cảnh vật bên ngoài, Thiếu Khương mỗi ngày mỗi xanh xao vàng võ. Khi gần chết, nàng xin Thái Tử:
‘Thiếp nghe nói đứng trên đỉnh núi Ngu Sơn có thể trông về Đông Hải, xin Thái Tử chôn thiếp ở đấy, may ra hồn thiêng còn thấy nước Tề.’
Nàng được toại ý. Riêng Thái Tử thương nhớ nàng Thiếu Khương quá, thành bệnh, chẳng bao lâu cũng chết.”


Thời Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu kéo dài 500 năm từ năm 722 đến 221 trước Tây lịch, Thiên Tử là vua nhà Chu, còn các vua của những vùng cát cứ chỉ là những vị được Thiên Tử phong tước hầu, cấp đất, nên được gọi là chư hầu. Các chư hầu phải giữ lệ tiến cống hàng năm cho vua trung ương tức là vua nhà Chu.
Theo Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc): “Đất nào cũng là đất của nhà Chu, người nào cũng là dân của nhà Chu. Cho nên ta thấy dân một nước khi không chịu được chế độ hà khắc của nhà cầm quyền thì bỏ qua nước khác; một kẻ sĩ không được trọng dụng ở nước này thì bỏ qua nước khác. Khổng Tử, Mạnh Tử và tất cả các kẻ sĩ thời Xuân Thu và Chiến Quốc đều như vậy.” (Thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc gộp lại thành đời Đông Chu – NT chú thích).

Nói một cách khác, Trung Quốc là một nước rộng mênh mông gồm nhiều nước chư hầu khác nhau, tất cả đều phục tùng chánh quyền trung ương là nhà Chu. Họ có những phong tục riêng, tiếng nói riêng, nhưng cùng san sẻ nền văn hóa đại đồng tiểu dị, và đặc biệt là có cùng một chữ viết. Về sau, nhà Chu càng ngày càng suy yếu, các chư hầu nổi lên tranh giành đất đai và quyền thế gây nên cảnh chiến tranh liên miên tưởng như không bao giờ dứt, cho nên thời đó gọi là thời Chiến Quốc. Không những thế các chư hầu cường thịnh lại được thăng tước “Công”, và chư hầu nào mạnh nhất thì làm bá chủ phò nhà Chu đồng thời khống chế những chư hầu khác, như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công. Lại có chư hầu xưng “Vương” như Sở Trang Vương, Hạp Lư Ngô Vương, Câu Tiễn Việt Vương. Các vua chư hầu vì lý do này hay lý do khác, hoặc vì muốn có đồng minh, thường kết thông gia với nhau. Trường hợp công chúa Thiếu Khương nước Tề được gả cho Thái Tử nước Ngô không phải là chuyện hy hữu.

Nước Tề và nước Ngô có thể xem như hai tỉnh của một nước lớn trị vì bởi vua nhà Chu, thế mà nàng công chúa nước Tề đi lấy chồng xa ở nước Ngô đã không thể chịu đựng được nỗi nhớ nhà để đến nổi lâm bệnh mà từ trần. Cho nên từ đó ta có thể nghĩ rằng công chúa Huyền Trân, và nhất là hai công chúa Ngọc Khoa, Ngọc Vạn còn đau khổ gấp nhiều lần nếu so với nỗi khổ của công chúa Tàu sống cách đây hơn 2500 năm. Thế còn công chúa Mrie-Louise nước Áo, con của vua Francois II, kết duyên với Hoàng Đế Napoléon đệ nhất? Ở phương Tây, nữ giới được quý trọng từ lâu. Sau khi Napoléon thất trận bị đem đi đày, Marie-Louise hai lần tái giá với các nhà quý tộc nước Áo.

*

Con người sinh ra vốn bình đẳng, hầu hết các tôn giáo đều dạy như thế. Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, hiến pháp của những nước văn minh, tiến bộ đều ghi nhận như thế. Vậy, trên một bình diện khác, nếu thử cân nhắc, nỗi thống khổ của hàng trăm ngàn người so với của một vài người thì bên nào đáng được quan tâm hơn?

Trong những năm gần đây, đàn bà, con gái Việt Nam nghèo đói, ít học, phải rời bỏ quê hương đi kiếm sống tại những nước xa xôi như Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan, Hồng Kông, Macao, Malaysia, Trung Đông v.v... Họ cũng “nước non ngàn dặm ra đi...” Họ kiếm sống bằng nghề làm “cô dâu”; hoặc may vá; hoặc chăm sóc người già, dọn dẹp nhà cửa, chùi cầu tiêu, giặt giũ v.v... tức là làm nghề đầy tớ; dưới sự sắp xếp của chính quyền trong nước và các công ty môi giới. Lại có cả nhiều nhóm phi pháp lừa đảo tổ chức buôn bán người ra nước ngoài để làm nô lệ tính dục. Hoàn cảnh ấy quả thực hết sức lạ lùng mà người phụ nữ Việt Nam xưa nay chưa hề biết tới. Không nói được, không nghe được, không đọc được ngôn ngữ của những nước họ đến, họ chẳng khác gì người câm, điếc, đui. Lại không có tay nghề chuyên môn, không quen phong tục, tập quán, không được bảo vệ bởi một tổ chức nào kể cả cơ quan chịu trách nhiệm là công ty môi giới, tuyệt đại đa số những thiếu nữ, phụ nữ đáng thương ấy bị đối xử một cách tàn tệ. Bị đốc công của những hãng xưởng hà hiếp, hành hạ, bị những ông chồng già yếu, bệnh tật đánh đập, gây thương tích, đó là chuyện xẩy ra thường xuyên. Có người bị dùng làm “cô dâu” cho nhiều người trong một gia đình, có người bị cưỡng bức cắt bớt một bộ phận trong cơ thể để bán cho bệnh viện, có người được mua bảo hiểm nhân thọ và được cho sống năm bảy tháng, sau đó bị giết chết để “người chồng” hưởng tiền bảo hiểm. Những thảm cảnh ấy được báo chí trong nước, ngoài nước, trên mạng, đăng tải nhiều lần. Một tháng trước đây, một ông chồng người Đại Hàn đánh chết người vợ Việt Nam thuộc dạng đi kiếm sống như nói trên. Thế mà lạ thay, chánh quyền Việt Nam vẫn thờ ơ và tiếp tục liên kết với những công ty môi giới tổ chức những cuộc “đưa dâu”, họăc xuất cảng lao động. Và lạ lùng hơn nữa, vẫn có vô số những người đàn bà xấu số sẵn sàng xa lìa quê hương, “nước non ngàn dặm ra đi.”

Vừa qua, ngày 2/12/2010 Đài RFI (Đài Quốc Tế Pháp Quốc) loan tin: “Tin vào những lời quảng cáo tuyển dụng của các công ty môi giới lao động xuất khẩu, rất đông người lao động Việt Nam, chủ yếu ở các vùng thôn quê nghèo, đã đổ xô đến nạp đơn xin được sang đảo Chypre bán sức lao động với hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo khó, lam lũ ở quê nhà mà không biết điều gì đang chờ đợi họ ở xứ sở xa xôi kia.”

Trong một cuộc phỏng vấn, đài RFI cho biết 13 ngàn người Việt Nam, đại đa số thuộc nữ giới, đã được, hay đúng hơn đã bị, mang đến hòn đảo Chypre nhỏ bé xa xôi ấy, với diện tích 9251 km2, với dân số khoảng 80 ngàn người. Đảo Chypre nằm trên Địa Trung Hải phía dưới Thổ Nhĩ Kỳ. Ai cũng thấy rằng 80 ngàn dân trên hải đảo không thể nào thuê mướn, sử dụng cho hết số 13 ngàn người Việt Nam ấy. Cho nên ở thì không có việc làm, đi thì không biết đi đâu, giấy tờ do công ty môi giới giữ, lại cũng không có tiền để mua vé máy bay trở về Việt Nam, họ đã bị dồn vào chân tường.

Ngoài 13 ngàn người nói trên, còn có biết bao nhiêu người khác trong vòng mươi năm gần đây đã bị đày đọa như thế. Chỉ làm một con toán nhỏ đủ thấy số người cùng khổ ấy lên đến hàng trăm ngàn. Cuộc sống của con người Việt Nam vào thế kỷ 21 này lại bi đát đến thế hay sao? Có dân tộc nào trên thế giới đã phải chịu đựng những khổ nạn như thế không?

Ta thương xót công chúa Thiếu Khương sống cách đây hơn 2500 năm của Trung Quốc dù nước này hiện đang manh tâm xâm phạm lãnh thổ nước ta; ta cảm kích trước tấm gương hy sinh của công chúa Huyền Trân đời Trần sống cách đây 700 năm - một đền thờ đồ sộ, lộng lẫy, tốn kém được dựng lên để tưởng niệm; ta mủi lòng khi được biết hai công chúa Ngọc Khoa, Ngọc Vạn sống cách đây gần 400 năm đã bị lịch sử lãng quên; nhưng dường ta lạnh nhạt, vô cảm trước nỗi đau khổ và nhục nhã của hàng ngàn người, hàng trăm ngàn người đàn bà Việt Nam cùng sống với ta ngay trong thời đại này. Phải chăng chúng ta, người Việt Nam mà thôi, đang sống trong một thời đại đầy nghịch lý. Và chúng ta cũng là kẻ đóng góp rất tích cực vào cái nghịch lý ấy?

12/2010

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét