Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

NƯỚC NON NGÀN DẶM ...

Ngự Thuyết

“Nước non ngàn dặm ra đi ...” là câu đầu tiên của bài ca Huế theo điệu Nam Bình. Lúc học năm thứ nhì trung học (nay là lớp bảy), đang còn là chú bé ngơ ngáo, tôi đã biết được hai câu của bài ca ấy nhờ đọc cuốn Đôi Bạn của Nhất Linh. Cũng lạ, Đôi Bạn cuốn hút cả vài thế hệ thanh niên trước năm 1945 đã đành, đứa nhóc con là tôi cũng say mê, rồi mê luôn Loan và Dũng, mê luôn cả đoạn văn có hai câu ca Huế ấy. Nay đọc lại cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đó, lòng ham mê giảm bớt nhưng vẫn thấy bồi hồi như gặp lại một kỷ niệm đẹp của thời niên thiếu. Để thấy những thế hệ trước tôi “yêu” Dũng như thế nào, tôi xin trích dẫn một đoạn văn của Vũ Khắc Khoan trong Mơ Hương Cảng:

“... Trong ma túy lên đường, chướng khí rừng mạn ngược và sương độc núi lam biên giới, quân cờ (được gọi tên là Dũng) dần dần trút bỏ hình thù thô kệch giả tạo ban đầu, vụt lớn lên thần tượng, vóc dáng bao trùm cả một thế hệ ... Dũng kỳ dị, beau ténébreux, hiện lên lãng mạn trên một nền mờ dịu của mây trắng mùa thu và gió heo may thổi lộng mặt sông hoang vắng...”

Thế thì bảo sao tôi lại không nhớ đến đoạn văn trong đó Dũng và Loan khẽ hát theo câu ca Huế ngày xưa:

“- Có mỗi việc quay cái máy hát cho anh em nghe mà các anh ấy bàn mãi chưa biết cử ai.
Loan vui mừng:
-Phải đấy. Cử tôi cho.
Cận nói:
-Nhưng chỉ có một cái đĩa.
Loan nói:
-Chắc lại vẫn cái đĩa Nam Bằng ngày xửa ngày xưa chứ gì?
Nàng vừa quay máy vừa hát khe khẽ:
-Nước non ngàn dặm ra đi...
Một lúc tiếng hát nổi lên. Trừ Dũng ra, còn người nào cũng chú ý lắng tai nghe.
...
Loan nói:
-Em thích cái đĩa này lạ.
...
Dũng ngâm theo đĩa hát:
-Thấy chim hồng nhạn... bay đi.
Loan không nói gì, vin một cành khế đầy hoa hồng và lấm tấm những quả khế xanh non, ngước mắt nhìn ra vẻ tìm xem có quả nào to ăn được chưa. Mùi hoa khế đưa thoảng qua, thơm nhẹ quá nên Dũng tưởng như không phải là hương thơm của một thứ hoa nữa. Đó là một thứ hương lạ để đánh dấu một khoảng thời khắc đã qua trong đời: Dũng thấy trước rằng độ mười năm sau, thứ hương đó sẽ gợi chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đang đứng với Loan ở đây. Cái phút không có gì lạ ấy, chàng thấy nó sẽ ghi mãi ở trong lòng chàng cũng như hương thơm hoa khế hết muà này sang muà khác thơm mãi trong vườn cũ.”


Rồi tôi tìm đọc và nghe nguyên bài ca Huế ấy, mà dưới đây là đoạn đầu:

Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly
Đắng cay vì đương độ xuân thì
Độ xuân thì
Số phận lao đao hay là cái nợ duyên gì
Má hồng da tuyết
Quyết liều như hoa tàn nguyệt khuyết
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca
Sao còn mường tượng nghe gì
Thấy chim hồng nhạn bay đi
...


Tiếng nhạc âm hưởng Chàm bi ai ấy cùng với lời ca não nùng kể lại sự tích công chúa Huyền Trân.

Vào thời vua Trần Anh Tông (1293-1314), vua Chiêm Thành là Chế Mân cho sứ mang vàng bạc, châu báu, sản vật sang cống và xin cưới Huyền Trân Công Chúa theo như lời hứa gả trước kia của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (1279-1293) khi Ngài còn sinh tiền nhân chuyến đi thăm Chiêm Thành. Trong triều có nhiều người không thuận, vua Anh tông cũng chiều ý triều thần. Chế Mân bèn xin dâng châu Ô và châu Ri (nay là Thừa Thiên- Huế) làm sính lễ, vua Anh Tông thấy lợi cho đất nước quá nên bằng lòng ngay. Giữa năm 1306 Công Chúa Huyền Trân về với Chiêm Thành. Việt và Chiêm khác huyết thống, khác tiếng nói, khác chữ viết, khác văn hoá, phong tục, tập quán, hẳn nàng công chúa “đương độ xuân thì” đó đã phải chịu muôn vàn “đắng cay” như được diễn tả trong lời ca dẫn trên.

Chuyện Huyền Trân Công Chúa đã là nguồn cảm hứng cho văn, thơ, kịch trong văn học nước nhà.

Nhưng không phải chỉ trong văn chương mà thôi. Huyền Trân Công Chúa được đặt tên cho một con đường thật đẹp gần nhà ga Huế trước 1975. Vừa rồi, năm 2007, để tưởng niệm nàng công chúa đã “mượn màu son phấn” và “má hồng da tuyết” đánh đổi lấy một dải giang sơn gấm vóc mà gần 500 sau, vào năm 1802, vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà dùng làm kinh đô cho cả nước, Công Ty Du Lịch Hương Giang đã khởi công xây một ngôi đền có tên là Đền Huyền Trân. Phần chính của ngôi đền đã làm xong, và đang xây tiếp Trung Tâm Thiền Học, Thư Viện Phật Giáo. Toàn thể kiến trúc ấy chiếm một khu đồi núi khá rộng lớn cách thành phố Huế khoảng 4 cây số. Đó cũng là vùng có nhiều lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn. Vào khỏi chiếc cổng lớn của ngôi đền, khách viếng thăm gặp ngay bức tượng Huyền Trân Công Chúa thật đẹp, mặc áo cà sa, tạc bằng đá trắng, lớn hơn hình người thật, mắt nhìn xa về phía đỉnh núi. Ngay trước tượng là một chiếc lư bằng đồng cũng rất lớn, hương khói nghi ngút.

Kể ra công chúa Huyền Trân rất xứng đáng với lòng quý mến của dân tộc Việt Nam ta. Nhưng trong lịch sử nước nhà vẫn còn có những nàng công chúa khác noi theo tấm gương hy sinh ấy, cũng “đắng cay vì đương độ xuân thì”, tiếc thay gần như bị người đời hoàn toàn quên lãng.

Năm 1611, tiếp theo những tranh chấp biên giới, chúa Nguyễn Hoàng mang quân vào đánh nước Chiêm Thành lấy thêm đất lập ra phủ Phú Yên. Hai năm sau, Nguyễn Hoàng mất, con là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay, đương thời gọi là chúa Sãi. Chúa Sãi có 11 hoàng tử, và 4 công chúa: Ngọc Đỉnh, Ngọc Liên, Ngọc Vạn, và Ngọc Khoa. Người con gái lớn là Ngọc Đỉnh gả cho Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Kiều. Vị này về sau được thăng lên đến chức Hữu Quân Đô Đốc, phủ Mỹ Quận Công.

Năm 1627, chúa Trịnh Tráng lấy cớ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, tức chúa Sãi, không chịu tiến cống, nạp thuế và cho con ra Thăng Long chầu vua Lê, bèn rước vua Lê đem đại binh vượt sông Linh Giang (sông Gianh) tấn công miền Nam. Khi cuộc chiến chống với chúa Trịnh Tráng đang diễn ra một cách quyết liệt tại địa đầu phía bắc, chúa Nguyễn Phúc Nguyên được tin ở Phú Yên lưu thủ Văn Phong hợp binh với Chiêm Thành nổi lên đánh phá ở phía nam. Vì bận đối địch với chúa Trịnh, Chuá Sãi bèn cử Phó Tướng Nguyễn Hữu Vinh vào nam đánh dẹp, đồng thời gả công chúa Ngọc Liên cho Phó Tướng. Hữu Vinh đại thắng, đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên.

Tuy nhiên vùng địa đầu phương nam vẫn không yên ổn, Chiêm Thành và cả Chân Lạp thường cho quân quấy phá mong lấy lại đất cũ, trong lúc ấy cuộc chiến với chúa Trịnh ở phương bắc đang gay go. Chúa Sãi đành phải dùng mỹ nhân kế đem hai cô con gái cưng gả cho vua Chiêm và vua Chân Lạp: công chúa Ngọc Khoa về với vua Chiêm Po Romé, công chúa Ngọc Vạn về với vua Chân Lạp Chei Chetta. Cuộc bán gả như thế không ngoài mục đích dùng Chiêm Thành, Chân Lạp làm “phên dậu” ở phía nam. Quả thế, từ đó phương nam tạm yên để chúa Sãi, và tiếp theo các chúa Thượng, Chúa Hiền được rảnh tay chống với các chúa Trịnh. Nhưng ý đồ nam tiến của các chúa Nguyễn không phai nhạt. Sau đó không lâu, dinh Trấn Biên (phủ Phú Yên) được dùng làm bàn đạp cho những cuộc nam tiến khác. Dần dần các chúa Nguyễn chiếm hết đất Chiêm Thành và một phần đất của Cam Bốt tức là thuỷ Chân Lạp (theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Đất Việt Trời Nam của Thái Văn Kiểm, và Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên).

Trong tình thế ấy, số phận của hai nàng công chúa Ngọc Vạn, Ngọc Khoa ra sao, không thấy sử sách nói đến. Công chúa Huyền Trân đời Trần thì khác. Vua Chế Mân băng hà một năm sau khi lấy Huyền Trân. Theo tục lệ Chiêm Thành, Vua chết thì Hoàng Hậu phải lên giàn hỏa cùng nhà vua siêu thoát cho trọn nghĩa. Nhà Trần thấy thế bèn cử tướng Trần Khắc Chung vào Chiêm giải cứu cho Huyền Trân. Đến đây nhiều huyền thoại được thêu dệt mà dưới đây là hai chuyện thường được truyền tụng. Chuyện thứ nhất kể rằng sau khi cứu được Huyền Trân, từ Chiêm Thành ra Thăng Long mang tin lành cho vua Anh Tông mà Trần Khắc Chung đã lênh đênh dong thuyền trên sông trên biển đến hơn một năm trời thay vì chỉ mất độ vài ba tháng. Chuyện thứ hai thì bảo tướng Trần Khắc Chung đã quá già so với Huyền Trân đang là thiếu nữ, và Huyền Trân lại rất đau lòng vì bội ước với vua Chiêm, nên đã lên núi Yên Tử thuộc tỉnh Uông Bí xuất gia đầu Phật. Có lẽ Công Ty Du Lịch Hương Giang tin vào mẩu chuyện thứ hai nên cho đúc tượng Huyền Trân mặc áo cà sa.

Thế ra nước Việt Nam ta cũng đã từng là một đế quốc xâm lược. Đoạn biện luận dưới đây của sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược nên được suy gẫm:
“Nước Chiêm Thành chính là nước Lâm Ấp ngày trước đã từng qua mấy trăm năm, cùng với họ Lý, họ Trần đối địch, chống với quân Mông Cổ, không cho xâm phạm vào cõi, lập nên một nước có vua, có tôi, có chính trị, có luật pháp. Nhưng chỉ hiềm vì nước ấy cứ hay sang cướp phá ở đất Việt Nam, thành ra hai nước không mấy khi hòa hiếu được với nhau.
Đã là đối địch thì không sao tránh khỏi được cái luật chung của tạo hóa là: khỏe còn, yếu chết. Vì vậy cho nên từ khi vua Thánh Tông nhà Lê đã lấy đất Quảng Nam và đã chia nước Chiêm ra làm ba nước rồi, thì từ đó về sau thế lực nước ấy mỗi ngày một kém, dân tình mỗi ngày một suy. Chẳng những là đến nổi mất nước với chúa Nguyễn mà chủng loại Chiêm Thành bây giờ cũng chẳng còn được mấy nghìn người nữa. Một nước trước như thế, mà nay như thế, dẫu rằng nước ấy đồng hóa với nước ta mặc lòng, song nghĩ cũng thương tâm thay cho những nước yếu hèn không tránh khỏi được cái họa:cá nhỏ bị cá lớn nuốt.”


Những bài học lịch sử như trên cần phải được lưu ý để tránh những vết xe đổ. Thế nhưng dường như lịch sử vẫn thường tái diễn, nay lại đến phiên đất nước Việt Nam ta là nạn nhân.

Trong những năm gần đây, ai cũng thấy ý đồ xâm lăng của Trung Quốc càng ngày càng lộ liễu trước những nhượng bộ thật khó hiểu của nhà cầm quyền Việt Nam, từ vấn đề biên giới, ải Nam Quan, thác Bản Giốc, đến rừng đầu nguồn, đến biển đảo, đến cao nguyên. Đặc biệt là cao nguyên - mái nhà của Đông Dương, điểm chiến lược trọng yếu nhất cho sự tồn vong lãnh thổ - dưới chiêu bài khai thác bô-xít, quân Tàu tiến vào bám trụ. Nhượng bộ như thế thì chắc chắn một ngày không xa nước Việt Nam sẽ không còn có gì để nhượng bộ nữa, và đâu đâu cũng sẽ có quân Trung Quốc. Thì chuyện gì sẽ xẩy đến? Nếu có chiến tranh, quân đội Việt Nam sẽ bị cắt đứt thành nhiều đoạn, sẽ không có hậu phương để yểm trợ tiền tuyến, sẽ không phải chỉ ở cái thế “lưỡng đầu thọ địch”, trái lại địch quân sẽ có mặt khắp nơi, bắc đổ về, biển lấn vào, cao nguyên tràn xuống, rừng túa ra. Liệu một thiên tài quân sự nào có thể mang lại chiến thắng cho Việt Nam bé nhỏ chống với Trung Quốc khổng lồ trước tình hình như vậy? Mà dù không có chiến tranh, người Trung Quốc trong một thời gian ngắn sẽ tràn ngập khắp lãnh thổ Việt Nam. Bằng những chuyến “du lịch” rầm rộ như nước chảy không cần chiếu khán. Bằng vô số những đoàn người đi “lao động”, có những khu biệt lập để họ sống riêng với nhau ngoài vòng pháp luật của Việt Nam, kết quả của những cuộc đấu thầu cho những công trình lớn lao mà Trung Quốc đoạt được gần hết. Bằng vô vàn những đám con buôn mang theo hàng hóa, thực phẩm dư thừa, rẻ mạt, độc hại, như rác rưởi, bị từ chối bởi những thị trường khác vì không hội đủ tiêu chuẩn kiểm phẩm, đem qua đổ đầy chợ búa, thành phố, thôn quê Việt Nam, vân vân và vân vân. Cứ thế, dân Tàu sẽ đông dần, rồi đông hơn dân sở tại, thì đánh đấm làm gì cho mang tiếng đế quốc xâm lược. “Bất chiến tự nhiên thành” mới là thượng sách chứ! Nếu mục đích của hầu hết những cuộc chiến tranh là vấn đề di dân, thì những gì đang xẩy ra tại Việt Nam đấy là cuộc di dân vĩ đại có tính cách “cốt lõi” của người Tàu. Và nếu thế, Việt Nam sẽ biến thành “Nam Tạng”?

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét