Thứ Ba, 28 tháng 12, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn


Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 4 (Tiếp theo)

Kỹ nghệ tuyệt hảo nhất của Hoa Kỳ

"Nhưng mà", những kẻ còn lo lắng sẽ nói "quý vị chỉ đang nhìn vào một bức tranh chụp thoáng nhanh của hiện tại mà thôi. Nền kỹ nghệ của Hoa Kỳ đang nhanh chóng bị ăn mòn khi đất nước này đang mất đi các nền tảng công nghệ và khoa học". Theo nhận xét của một số người, sự xuống dốc của khoa học là triệu chứng của một tình trạng suy tàn lớn hơn về văn hóa. Một đất nước từng tán thành đạo đức của Thanh giáo về sự tự chế (delayed gratification) đã trở thành một quốc gia hé lộ cho thấy sự tán thành sảng khoái tức thời. Chúng ta đang mất đi niềm ham thích trong những sự cơ bản – toán học, chế tạo, siêng năng làm việc, cần kiệm – và trở nên một xã hội hậu kỹ nghệ chú trọng đến tiêu thụ và an hưởng, “Nhiều người sẽ tốt nghiệp ở Hoa Kỳ vào năm 2006 với các văn bằng có liên quan đến tập luyện thể thao hơn là các văn bằng kỹ thuật điện”, Jeffrey Immelt, giám đốc điều hành hãng General Electric đã cho biết, “Thành ra, nếu chúng ta muốn trở thành một thủ đô về đấm bóp của thế giới, thì rõ ràng là chúng ta đang ở đúng đường rồi”.


Không một thống kê nào diễn tả được mối lo này hơn là những số liệu thống kê cho thấy sự suy thoái trong kỹ nghệ. Vào năm 2005, Hiệp hội Hàn Lâm Quốc gia đã đưa ra một báo cáo cảnh báo rằng chẳng bao lâu nữa, Hoa Kỳ sẽ mất đi vai trò đặc quyền là một trung tâm khoa học của cả thế giới. Bản báo cáo cho biết, vào năm 2004, ở Trung Quốc có 600.000 kỹ sư tốt nghiệp, Ấn độ 350.000 trong khi Hoa Kỳ chỉ có 70.000. Các con số này lập đi lập lại trong hàng trăm cuốn sách, bài viết và các trang blog, kể cả trong một bài đặc biệt về chủ đề này – bài Congressional Record, trên tờ Fortune và trên các bài diễn văn của cây cổ thụ của ngành công nghệ như Bill Gates. Và thật ra, con số này có lẽ đã là nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng. Hoa Kỳ có hy vọng gì khi mà cứ giữa mỗi kỹ sư Hoa Kỳ có năng lực lại có 11 người là Trung Quốc hay Ấn Độ ? Bản báo cáo cho thấy, với chi phí đào tạo một nhà hoá học hay kỹ sư ở Hoa Kỳ, một công ty có thể thuê được 5 hóa học gia nhiệt thành được đào tạo tốt từ Trung Quốc, hoặc 11 người kỹ sư ở Ấn độ.

Vấn nạn duy nhất chính là những con số đó hoàn toàn sai. Carl Bialik, một ký giả của tờ Wall Street Journal và một số học giả đã điều tra sự thể. Lập tức, họ tìm ra rằng các con số tốt nghiệp từ Á Châu này bao gồm cả những người tốt nghiệp từ những chương trình học 2 hoặc 3 năm - những sinh viên có được chứng chỉ tốt nghiệp từ những bài vở đơn giản về kỹ thuật. Một số giáo sư ở trường Pratt School of Engineering tại Đại học Duke đã đi Trung Quốc và Ấn Độ để thu thập các dữ liệu từ các nguồn tư nhân cũng như chính phủ đồng thời phỏng vấn nhiều thương nhân và học giả. Họ đã đi đến kết luận rằng loại đi số tốt nghiệp các chương trình hai hoặc ba năm đưa con số của Trung Quốc xuống còn chừng 350.000, và ngay cả con số này cũng giảm bớt nhiều từ cách xác định chữ “kỹ sư” vốn thường bao gồm cả những người sửa chữa kỹ thuật và cơ khí ô tô. Bialik ghi nhận rằng National Science Foundation, khi theo sát những con số thống kê này đã đưa các con số của Trung Quốc xuống còn chừng 200.000 một năm. Ron Hira, một giáo sư về chính sách công cộng tại Rochester Institute of Technology đưa ra con số tốt nghiệp người Ấn Độ vào khoảng từ 120.000 đến 130.000 một năm. Điều này có nghĩa là , tính theo đầu người, Hoa Kỳ thực đã đào tạo nhiều kỹ sư hơn là Trung Quốc và Ấn Độ.

Và các con số ấy không hề nhắc gì đến chất lượng đào tạo. Là một người từng lớn lên ở Ấn Độ, tôi đánh giá đúng đắn được những ưu điểm của trường IIT (Indian Institute of Technology) trường kỹ thuật nổi tiếng của đất nước này. Sức mạnh lớn nhất của trường này chính là họ thực hiện một kỳ thi nhập học khó khăn, ganh đua nhất thế giới. Ba trăm ngàn học sinh dự thi, chỉ có năm ngàn được trúng tuyển - một tỉ lệ nhập học của 1.7 phần trăm (so với tỉ lệ 9 hoặc 10 phần trăm của các trường như Harvard, Yale và Princeton). Sinh viên đủ điểm đậu là những người thông minh, sáng sủa nhất trong hàng tỉ người. Đặt vào bất cứ hệ thống giáo dục nào, họ cũng xuất sắc. Thực ra, nhiều sinh viên trường IIT chắc chắn là hạng thứ, với trang bị xoàng, giảng viên khác nhau và các bài vở thiếu sáng kiến. Rajiv Sahney, người đã theo học trường IIT, sau đó là trường Caltech, đã cho biết “Lợi thế chủ yếu của trường IIT là kỳ thi tuyển nhập học, vốn được thực hiện một cách siêu đẳng để tuyển chọn các sinh viên cực kỳ thông minh. Còn về dạy học và trường sở, không thể so sánh được với bất cứ trường kỹ thuật tử tế nào ở Hoa Kỳ”. Và một khi vượt ra ngoài khỏi trường IIT và các đại học ưu tú kiểu đó - vốn cho tốt nghiệp dưới 10 ngàn sinh viên hàng năm - chất lượng giáo dục cấp cao ở Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn hết sức nghèo nàn, khiến đó là nguyên nhân vì sao rất đông sinh viên đã rời bỏ sứ sở để đi học ở ngoại quốc.

Các số liệu đã xác định những ấn tượng có tính giai thoại này. Vào năm 2005, viện McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về “Thị trường Lao động mới nổi lên” và tìm thấy một mẫu (chứng liệu) của hai mươi tám quốc gia mức lương thấp có khoảng 33 triệu chuyên viên trẻ đang sẵn có để tuyển dụng, so sánh với chỉ 15 triệu trong mẫu (chứng liệu) của tám quốc gia trả lương cao (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đức, Nhật Bản, Úc, Canada, Ireland và Nam Triều Tiên). Nhưng có bao nhiêu người trong số những chuyên viên trẻ này ở các quốc gia trả lương thấp có đủ năng khiếu cần thiết để thi thố trong một thị trường toàn cầu ? “Chỉ một phần trong số này có thể làm việc thành công ở một nước khác”, bản báo cáo với dẫn chứng các giải thích chủ yếu về chất lượng giáo dục nghèo nàn đã cho thấy như thế. Ở cả Trung Quốc và Ấn Độ, bản báo cáo ghi nhận, ngoài con số nhỏ của các trường thượng hạng, chất lượng và số lượng giáo dục là thấp. Chỉ có 10 phần trăm sinh viên Ấn Độ có được các loại giáo dục hậu đại học. Do đó, bất chấp một nhu cầu rất cao về các kỹ sư, vẫn chỉ có một số tương đối nhỏ được đào luyện tử tế. Mức lương của những người được đào tạo kỹ sư tại những quốc gia ấy tăng 15 phần trăm hàng năm, một chỉ dấu chắc chắn cho thấy là số cầu vượt quá số cung. (Nếu bạn là người chủ thuê mướn người làm, và bạn có thể tìm được hàng ngàn các kỹ sư được đào tạo giỏi ra trường hàng năm, chắc bạn sẽ không tăng lương cho người làm việc đến mức 15 phần trăm hết năm này qua năm khác).

Giáo dục cao hơn chính là kỹ nghệ tốt nhất của Hoa Kỳ. Có hai thứ hạng trường đại học trên thế giới. Trong một của hai thứ hạng ấy, theo một nghiên cứu có chất lượng được thực hiện bởi các nhà khảo cứu Trung Quốc, tám trong mười trường đại học hàng đầu của thế giới là ở Hoa Kỳ. Ở các nước khác, 7 trường có phẩm chất hơn của Times Higher Educational Supplement ở London. Sau đó, con số không thay đổi nữa. Trong hàng hai mươi trường hàng đầu, mười bảy trên mười một trường là ở Hoa Kỳ; trong năm mươi trường đứng đầu ba mươi tám trường ở Hoa Kỳ. Nội dung cứ thế không thay đổi. Với 5 phần trăm dân số thế giới, Hoa Kỳ rõ ràng thống trị một nền giáo dục cao hơn, có 42 hoặc 68 phần trăm trường đại học đứng hàng đầu của thế giới (tùy vào bản nghiên cứu nào mà bạn dùng để đánh giá). Không có lãnh vực nào mà lợi thế của Hoa Kỳ quá mạnh như thế.

"Tương lai của các Trường Đại Học ở Châu Âu", một báo cáo năm 2006 của Centre for European Reform có bản doanh ở London chỉ ra rằng Hoa Kỳ đầu tư 2.6 phần trăm GDP của mình vào nền giáo dục cao hơn, so sánh với 1.2 phần trăm ở châu Âu và 1.1 phần trăm ở Nhật Bản. Tình hình khoa học còn đặc biệt đáng sợ. Một danh sách của 1000 nhà khoa học máy tính giỏi nnất thế giới được tốt nghiệp ở đâu cho thấy mười trường học giỏi nhất đều là của Mỹ. Hoa Kỳ chi tiêu vào lĩnh vực Nghiên cứu và Phát triển vẫn cao hơn Âu châu, và sự hợp tác của họ giữa kinh doanh và các viện đào tạo giáo dục là không nơi nào trên thế giới có thể so sánh được. Cho đến nay, Mỹ vẫn là điểm thu hút với giới sinh viên học sinh, chiếm 30 phần trăm tổng số sinh viên nước ngoài trên toàn cầu. Tất cả các thuận lợi này không dễ dàng xoá bỏ, bởi vì cấu trúc của các trường đại học ở Nhật bản và Âu châu - đa số điều hành bởi quan liêu, nhà nước - có lẽ khó có thể thay đổi. Và trong khi Trung Quốc, Ấn độ đang mở thêm nhiều truờng mới, không phải dễ dàng để tạo được các đại học có hạng trên thế giới trong một vài thập niên. Đây là con số thống kê về các kỹ sư mà có lẽ quý bạn chưa tùng nghe qua. Ở Ấn Độ, các trường Đại học cho tốt nghiệp giữa 35 và 50 tiến sĩ ngành khoa học máy tính hàng năm; ở Hoa Kỳ con số đó là 1000.

Học cách Suy nghĩ

Nếu các Đại học ở Hoa Kỳ là hàng đầu, ít người tin rằng điều ấy có thể được nói về các ngôi trường của mình. Mọi người biết rằng hệ thống truờng học ở Mỹ đang khủng hoảng và học sinh của mình đặc biệt kém về toán và khoa học, hết năm này qua năm khác trong các xếp hạng quốc tế. Nhưng các con số thống kê ở đây, dù không sai lầm vẫn cho thấy một điều gì hơi khác. Vấn nạn thực sự của Hoa Kỳ là điều không phải thuộc về sự xuất chúng mà là về sự truy cập. Từ khởi đầu của mình vào năm 1995, các Khuynh hướng Toán Học Quốc tế và Nghiên cứu Khoa học (TIMSS, Trends in International mathematic and Science Study) đã trở thành chuẩn mực để so sánh các chương trình giáo dục trên cả nước. Kết quả gần đây nhất, từ năm 2003, đưa Hoa Kỳ dứt khoát vào giữa hàng tiền đạo. Hoa Kỳ thắng điểm trung bình của hai mươi bốn nước bao gồm trong bản nghiên cứu. Học sinh lớp tám giỏi hơn học sinh lớp bốn (hai lớp được dùng để đánh giá) nhưng vẫn tụt sau các hạng tương ứng ở những nước như Hòa Lan, Nhật và Singapore. Báo chí đã thuật lại tin này với một thiên hướng có thể đoán trước được về sự thảm thương: "Quả bom kinh tế nổ chậm: thiếu niên Hoa Kỳ nằm trong hạng tồi về toán" tờ Wall Street Journal tường thuật.

Nhưng dù cho điểm toán và khoa học của Mỹ kém xa các nước đứng đầu như Singapore và Hongkong, các điểm trung bình tổng thể ẩn chứa sự khác biệt sâu sắc về chủng tộc, khu vực và kinh tế xã hội. Các học sinh thiểu số và nghèo đứng hạng rất thấp dưới mức trung bình của Hoa Kỳ, trong khi, như một nghiên cứu ghi nhận, "các học sinh thuộc các khu vực giáo dục vùng nông thôn phong phú của Hoa Kỳ xếp hạng gần ngang các học sinh ở Singapore, nước hàng đầu thắng điểm dễ dàng trong thứ hạng toán của hệ thống TIMSS" . Đây là những học sinh về sau này sẽ tiếp tục đua tranh và lấp vào các vị trí hiếm hoi trong các trường đại học hàng đầu của Mỹ. Thí dụ như, sự khác biệt giữa các điểm trung bình trong các khu vực giáo dục nghèo và giàu có trong phạm vi nước Mỹ là bốn đến năm lần lớn hơn khác biệt giữa điểm trung bình toàn quốc giữa Mỹ và Singapore. Nói một cách khác, Mỹ là một quốc gia lớn và khác nhau với một vấn nạn có thực về bất bình đẳng. Trải qua thời gian, điều này sẽ chuyển dịch thành một vấn nạn có tính cạnh tranh, bởi vì, nếu chúng ta không thể giáo dục và huấn luyện một phần ba dân số lao động để có thể tranh đua trong một nền kinh tế của kiến thức, điều đó sẽ lôi cả nước đi xuống. Nhưng chúng ta biết được điều gì có hiệu quả. Đội quân to lớn của các sinh viên trong các trường đại học đứng năm hàng đầu của Hoa kỳ được xếp ngang hàng với các sinh viên giỏi nhất thế giới. Họ làm việc chăm chỉ và có một đời sống ngoại khóa và lịch học tập cao, như bất cứ ai từng đến một khu làng đại học ở Ivy League có thể minh xác được.

Tôi đã trải qua bậc tiểu học, trung học ở Mumbai, tại Cathedral and John Connon School, một trường xuất sắc. Phương pháp của trường này (ba mươi năm trước đây) phản ánh lối dạy học đuợc mô tả như là kiểu "Người châu Á ", trong đó phần thưởng được dựa vào trí nhớ và bài kiểm tra liên tục.Thực ra đây là phương pháp sư phạm cũ của Anh và Âu châu, một lối sư phạm mà hiện nay được mô tả là kiểu người châu Á. Tôi còn nhớ đã phải học thuộc lòng một số lượng cực lớn các bài vở, nôn mửa ra vào các bài thi rồi lập tức quên tất. Khi đi học bậc cao đẳng ở Hoa Kỳ, tôi đối diện với một thế giới hoàn toàn khác. Trong khi hệ thống của Mỹ quá thả lỏng về sự nhớ thuộc và tính khắt khe - dù là ở môn thi ca hay toán học - hệ thống này lại giỏi hơn nhiều trong việc phát triển các tính năng quan trọng của tinh thần, cái mà chúng ta cần đến để thành công trong đời sống. Các hệ thống giáo dục khác dạy mình đi thi, hệ thống giáo dục Hoa Kỳ dạy ta biết suy nghĩ.

Chắc chắn rằng phẩm chất này sẽ giải thích tại sao Mỹ sản xuất ra quá nhiều giới doanh thương, các nhà sáng chế và những người mạo hiểm. Ở Mỹ, con người được phép trở nên bạo dạn, dám thử thách, chịu thất bại và tự đứng lên. Chính là nước Mỹ, chứ không phải Nhật Bản đã sản sinh ra hàng tá những người đoạt giải Nobel. Tharman Shanmugaratnam, gần đây là bộ trưởng giáo dục của Singapore, đã giải thích sự khác nhau giữa quốc gia của ông và Hoa Kỳ. "Chúng ta đều có các chế độ nhân tài", Shanmugaratnam nói, "của quý vị là một chế độ nhân tài về tài năng; của chúng tôi là một chế độ nhân tài về thi cử. Chúng tôi biết rèn luyện nhân tài để ứng thí. Quý vị biết cách sử dụng tài năng con người đến toàn diện nhất. Cả hai đều quan trọng, nhưng có một số phần của trí thức mà chúng tôi không được thử thách tốt - như sự sáng tạo, óc hiếu kỳ, ý hướng mạo hiểm, tham vọng. Hơn hết, Mỹ có được một nền văn hóa về sự học hỏi đã thử thách được hiểu biết có tính truyền thống, ngay cả có phải thử thách đương đầu với thế quyền. Đây là những khu vực mà Singapore phải học từ nước Mỹ".

Đấy là một nguyên nhân mà gần đây các giới chức Singapore đã đến thăm các trường sở của Mỹ để học cách tạo nên một hệ thống có thể nuôi dưỡng và mang lại sự khéo léo, suy nghĩ nhanh nhạy và giải quyết vấn đề. Như tờ Washington Post tường thuật vào tháng Ba năm 2007, những nhà nghiên cứu từ các trường giỏi nhất của Singapore đã đến Học viện Khoa Học, một trường công lập rất thu hút tại Virginia, để khảo sát các phương pháp dạy học của Mỹ . Khi các sinh viên "nghiên cứu những cây thảo mộc tí hon, sự biến đổi có tính di truyền vào một buổi trưa gần đây, vẽ những chiếc lá và ghi chép các dữ liệu xuống", những người khách Singapore đã "ghi lại thời gian bao lâu mà các giáo sư đợi học sinh trả lời được câu hỏi, các học sinh phát biểu bao nhiêu lần và bảo vệ các quan điểm của họ như thế nào". Har Hui Peng, một vị khách từ Viện Hwa Chong của Singapore đã có ấn tượng, như tờ Post thuật lại "Chỉ bằng cách quan sát, quý vị có thể thấy các học sinh nhập cuộc hơn, thay vì cứ được nhồi nhét suốt ngày". Har nói. Bài báo tiếp tục, "[ở Singapore], bà cho biết, các phòng học luôn đầy nhưng ảm đạm, và các sinh viên thông minh nhưng do dự tình nguyện trả lời câu hỏi. Để khuyến khích tính tự phát, Hwa Chong hiện nay dựa 10 phần trăm điểm của mỗi học sinh vào việc tham gia phát biểu".

Trong khi Mỹ kinh ngạc về các năng khiếu thi cử của Á Châu, các nước Á châu đến Hoa Kỳ để tìm ra cách làm sao cho trẻ con của mình biết nghĩ. Các trường hàng đầu ở Bắc Kinh và Thượng Hải đang tập chú vào các tổ nhóm khảo cứu độc lập, ganh đua khoa học và tinh thần doanh nghiệp" Rosaline Chia, một nhà giáo khác trong chuyến đi thăm Mỹ nói. "Có lẽ chúng tôi cần phải nuôi dưỡng điều ấy nhiều hơn - đối thoại giữa thầy và trò". Những thay đổi ấy không đến dễ dàng. Thực ra Nhật Bản gần đây đã thử cải thiện tính mềm dẻo của hệ thống giáo dục bằng cách cắt bỏ các lớp học bắt buộc vào Thứ Bảy và tăng thêm thời gian hướng vào các nghiên cứu chung, những thứ mà học sinh và người dạy có thể cùng theo đuổi sở thích của riêng mình. "Nhưng việc chuyển dịch đến yutori kyoiku, hay giáo dục thoải mái của Nhật" tờ báo cho biết "đã bị dội ngược lại về căn bản từ những phụ huynh cứ lo lắng rằng con cái mình học không đủ và điểm thi cứ bị tụt giảm". Nói một cách khác, chỉ đơn giản thay đổi chương trình giảng dạy - một nỗ lực từ trên xuống - chỉ dẫn đến sự đề kháng chống lại. Văn hóa Hoa Kỳ tán dương và củng cố khả năng giải quyết khó khăn, tra vấn quyền lực và suy nghĩ khác thường. Họ cho phép con ngưòi được vấp ngã để có thể cho họ một cơ hội lần hai, lần ba. Họ ban thưởng những người tự làm nên và lập dị. Đây là những lực lượng ở dưới đáy tầng vốn không thể sản xuất ra từ sắc lệnh của chính phủ được.

(Còn tiếp)

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 4 (Tiếp theo)

Kỹ nghệ tuyệt hảo nhất của Hoa Kỳ

"Nhưng mà", những kẻ còn lo lắng sẽ nói "quý vị chỉ đang nhìn vào một bức tranh chụp thoáng nhanh của hiện tại mà thôi. Nền kỹ nghệ của Hoa Kỳ đang nhanh chóng bị ăn mòn khi đất nước này đang mất đi các nền tảng công nghệ và khoa học". Theo nhận xét của một số người, sự xuống dốc của khoa học là triệu chứng của một tình trạng suy tàn lớn hơn về văn hóa. Một đất nước từng tán thành đạo đức của Thanh giáo về sự tự chế (delayed gratification) đã trở thành một quốc gia hé lộ cho thấy sự tán thành sảng khoái tức thời. Chúng ta đang mất đi niềm ham thích trong những sự cơ bản – toán học, chế tạo, siêng năng làm việc, cần kiệm – và trở nên một xã hội hậu kỹ nghệ chú trọng đến tiêu thụ và an hưởng, “Nhiều người sẽ tốt nghiệp ở Hoa Kỳ vào năm 2006 với các văn bằng có liên quan đến tập luyện thể thao hơn là các văn bằng kỹ thuật điện”, Jeffrey Immelt, giám đốc điều hành hãng General Electric đã cho biết, “Thành ra, nếu chúng ta muốn trở thành một thủ đô về đấm bóp của thế giới, thì rõ ràng là chúng ta đang ở đúng đường rồi”.

Không một thống kê nào diễn tả được mối lo này hơn là những số liệu thống kê cho thấy sự suy thoái trong kỹ nghệ. Vào năm 2005, Hiệp hội Hàn Lâm Quốc gia đã đưa ra một báo cáo cảnh báo rằng chẳng bao lâu nữa, Hoa Kỳ sẽ mất đi vai trò đặc quyền là một trung tâm khoa học của cả thế giới. Bản báo cáo cho biết, vào năm 2004, ở Trung Quốc có 600.000 kỹ sư tốt nghiệp, Ấn độ 350.000 trong khi Hoa Kỳ chỉ có 70.000. Các con số này lập đi lập lại trong hàng trăm cuốn sách, bài viết và các trang blog, kể cả trong một bài đặc biệt về chủ đề này – bài Congressional Record, trên tờ Fortune và trên các bài diễn văn của cây cổ thụ của ngành công nghệ như Bill Gates. Và thật ra, con số này có lẽ đã là nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng. Hoa Kỳ có hy vọng gì khi mà cứ giữa mỗi kỹ sư Hoa Kỳ có năng lực lại có 11 người là Trung Quốc hay Ấn Độ ? Bản báo cáo cho thấy, với chi phí đào tạo một nhà hoá học hay kỹ sư ở Hoa Kỳ, một công ty có thể thuê được 5 hóa học gia nhiệt thành được đào tạo tốt từ Trung Quốc, hoặc 11 người kỹ sư ở Ấn độ.

Vấn nạn duy nhất chính là những con số đó hoàn toàn sai. Carl Bialik, một ký giả của tờ Wall Street Journal và một số học giả đã điều tra sự thể. Lập tức, họ tìm ra rằng các con số tốt nghiệp từ Á Châu này bao gồm cả những người tốt nghiệp từ những chương trình học 2 hoặc 3 năm - những sinh viên có được chứng chỉ tốt nghiệp từ những bài vở đơn giản về kỹ thuật. Một số giáo sư ở trường Pratt School of Engineering tại Đại học Duke đã đi Trung Quốc và Ấn Độ để thu thập các dữ liệu từ các nguồn tư nhân cũng như chính phủ đồng thời phỏng vấn nhiều thương nhân và học giả. Họ đã đi đến kết luận rằng loại đi số tốt nghiệp các chương trình hai hoặc ba năm đưa con số của Trung Quốc xuống còn chừng 350.000, và ngay cả con số này cũng giảm bớt nhiều từ cách xác định chữ “kỹ sư” vốn thường bao gồm cả những người sửa chữa kỹ thuật và cơ khí ô tô. Bialik ghi nhận rằng National Science Foundation, khi theo sát những con số thống kê này đã đưa các con số của Trung Quốc xuống còn chừng 200.000 một năm. Ron Hira, một giáo sư về chính sách công cộng tại Rochester Institute of Technology đưa ra con số tốt nghiệp người Ấn Độ vào khoảng từ 120.000 đến 130.000 một năm. Điều này có nghĩa là , tính theo đầu người, Hoa Kỳ thực đã đào tạo nhiều kỹ sư hơn là Trung Quốc và Ấn Độ.

Và các con số ấy không hề nhắc gì đến chất lượng đào tạo. Là một người từng lớn lên ở Ấn Độ, tôi đánh giá đúng đắn được những ưu điểm của trường IIT (Indian Institute of Technology) trường kỹ thuật nổi tiếng của đất nước này. Sức mạnh lớn nhất của trường này chính là họ thực hiện một kỳ thi nhập học khó khăn, ganh đua nhất thế giới. Ba trăm ngàn học sinh dự thi, chỉ có năm ngàn được trúng tuyển - một tỉ lệ nhập học của 1.7 phần trăm (so với tỉ lệ 9 hoặc 10 phần trăm của các trường như Harvard, Yale và Princeton). Sinh viên đủ điểm đậu là những người thông minh, sáng sủa nhất trong hàng tỉ người. Đặt vào bất cứ hệ thống giáo dục nào, họ cũng xuất sắc. Thực ra, nhiều sinh viên trường IIT chắc chắn là hạng thứ, với trang bị xoàng, giảng viên khác nhau và các bài vở thiếu sáng kiến. Rajiv Sahney, người đã theo học trường IIT, sau đó là trường Caltech, đã cho biết “Lợi thế chủ yếu của trường IIT là kỳ thi tuyển nhập học, vốn được thực hiện một cách siêu đẳng để tuyển chọn các sinh viên cực kỳ thông minh. Còn về dạy học và trường sở, không thể so sánh được với bất cứ trường kỹ thuật tử tế nào ở Hoa Kỳ”. Và một khi vượt ra ngoài khỏi trường IIT và các đại học ưu tú kiểu đó - vốn cho tốt nghiệp dưới 10 ngàn sinh viên hàng năm - chất lượng giáo dục cấp cao ở Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn hết sức nghèo nàn, khiến đó là nguyên nhân vì sao rất đông sinh viên đã rời bỏ sứ sở để đi học ở ngoại quốc.

Các số liệu đã xác định những ấn tượng có tính giai thoại này. Vào năm 2005, viện McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về “Thị trường Lao động mới nổi lên” và tìm thấy một mẫu (chứng liệu) của hai mươi tám quốc gia mức lương thấp có khoảng 33 triệu chuyên viên trẻ đang sẵn có để tuyển dụng, so sánh với chỉ 15 triệu trong mẫu (chứng liệu) của tám quốc gia trả lương cao (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đức, Nhật Bản, Úc, Canada, Ireland và Nam Triều Tiên). Nhưng có bao nhiêu người trong số những chuyên viên trẻ này ở các quốc gia trả lương thấp có đủ năng khiếu cần thiết để thi thố trong một thị trường toàn cầu ? “Chỉ một phần trong số này có thể làm việc thành công ở một nước khác”, bản báo cáo với dẫn chứng các giải thích chủ yếu về chất lượng giáo dục nghèo nàn đã cho thấy như thế. Ở cả Trung Quốc và Ấn Độ, bản báo cáo ghi nhận, ngoài con số nhỏ của các trường thượng hạng, chất lượng và số lượng giáo dục là thấp. Chỉ có 10 phần trăm sinh viên Ấn Độ có được các loại giáo dục hậu đại học. Do đó, bất chấp một nhu cầu rất cao về các kỹ sư, vẫn chỉ có một số tương đối nhỏ được đào luyện tử tế. Mức lương của những người được đào tạo kỹ sư tại những quốc gia ấy tăng 15 phần trăm hàng năm, một chỉ dấu chắc chắn cho thấy là số cầu vượt quá số cung. (Nếu bạn là người chủ thuê mướn người làm, và bạn có thể tìm được hàng ngàn các kỹ sư được đào tạo giỏi ra trường hàng năm, chắc bạn sẽ không tăng lương cho người làm việc đến mức 15 phần trăm hết năm này qua năm khác).

Giáo dục cao hơn chính là kỹ nghệ tốt nhất của Hoa Kỳ. Có hai thứ hạng trường đại học trên thế giới. Trong một của hai thứ hạng ấy, theo một nghiên cứu có chất lượng được thực hiện bởi các nhà khảo cứu Trung Quốc, tám trong mười trường đại học hàng đầu của thế giới là ở Hoa Kỳ. Ở các nước khác, 7 trường có phẩm chất hơn của Times Higher Educational Supplement ở London. Sau đó, con số không thay đổi nữa. Trong hàng hai mươi trường hàng đầu, mười bảy trên mười một trường là ở Hoa Kỳ; trong năm mươi trường đứng đầu ba mươi tám trường ở Hoa Kỳ. Nội dung cứ thế không thay đổi. Với 5 phần trăm dân số thế giới, Hoa Kỳ rõ ràng thống trị một nền giáo dục cao hơn, có 42 hoặc 68 phần trăm trường đại học đứng hàng đầu của thế giới (tùy vào bản nghiên cứu nào mà bạn dùng để đánh giá). Không có lãnh vực nào mà lợi thế của Hoa Kỳ quá mạnh như thế.

"Tương lai của các Trường Đại Học ở Châu Âu", một báo cáo năm 2006 của Centre for European Reform có bản doanh ở London chỉ ra rằng Hoa Kỳ đầu tư 2.6 phần trăm GDP của mình vào nền giáo dục cao hơn, so sánh với 1.2 phần trăm ở châu Âu và 1.1 phần trăm ở Nhật Bản. Tình hình khoa học còn đặc biệt đáng sợ. Một danh sách của 1000 nhà khoa học máy tính giỏi nnất thế giới được tốt nghiệp ở đâu cho thấy mười trường học giỏi nhất đều là của Mỹ. Hoa Kỳ chi tiêu vào lĩnh vực Nghiên cứu và Phát triển vẫn cao hơn Âu châu, và sự hợp tác của họ giữa kinh doanh và các viện đào tạo giáo dục là không nơi nào trên thế giới có thể so sánh được. Cho đến nay, Mỹ vẫn là điểm thu hút với giới sinh viên học sinh, chiếm 30 phần trăm tổng số sinh viên nước ngoài trên toàn cầu. Tất cả các thuận lợi này không dễ dàng xoá bỏ, bởi vì cấu trúc của các trường đại học ở Nhật bản và Âu châu - đa số điều hành bởi quan liêu, nhà nước - có lẽ khó có thể thay đổi. Và trong khi Trung Quốc, Ấn độ đang mở thêm nhiều truờng mới, không phải dễ dàng để tạo được các đại học có hạng trên thế giới trong một vài thập niên. Đây là con số thống kê về các kỹ sư mà có lẽ quý bạn chưa tùng nghe qua. Ở Ấn Độ, các trường Đại học cho tốt nghiệp giữa 35 và 50 tiến sĩ ngành khoa học máy tính hàng năm; ở Hoa Kỳ con số đó là 1000.

Học cách Suy nghĩ

Nếu các Đại học ở Hoa Kỳ là hàng đầu, ít người tin rằng điều ấy có thể được nói về các ngôi trường của mình. Mọi người biết rằng hệ thống truờng học ở Mỹ đang khủng hoảng và học sinh của mình đặc biệt kém về toán và khoa học, hết năm này qua năm khác trong các xếp hạng quốc tế. Nhưng các con số thống kê ở đây, dù không sai lầm vẫn cho thấy một điều gì hơi khác. Vấn nạn thực sự của Hoa Kỳ là điều không phải thuộc về sự xuất chúng mà là về sự truy cập. Từ khởi đầu của mình vào năm 1995, các Khuynh hướng Toán Học Quốc tế và Nghiên cứu Khoa học (TIMSS, Trends in International mathematic and Science Study) đã trở thành chuẩn mực để so sánh các chương trình giáo dục trên cả nước. Kết quả gần đây nhất, từ năm 2003, đưa Hoa Kỳ dứt khoát vào giữa hàng tiền đạo. Hoa Kỳ thắng điểm trung bình của hai mươi bốn nước bao gồm trong bản nghiên cứu. Học sinh lớp tám giỏi hơn học sinh lớp bốn (hai lớp được dùng để đánh giá) nhưng vẫn tụt sau các hạng tương ứng ở những nước như Hòa Lan, Nhật và Singapore. Báo chí đã thuật lại tin này với một thiên hướng có thể đoán trước được về sự thảm thương: "Quả bom kinh tế nổ chậm: thiếu niên Hoa Kỳ nằm trong hạng tồi về toán" tờ Wall Street Journal tường thuật.

Nhưng dù cho điểm toán và khoa học của Mỹ kém xa các nước đứng đầu như Singapore và Hongkong, các điểm trung bình tổng thể ẩn chứa sự khác biệt sâu sắc về chủng tộc, khu vực và kinh tế xã hội. Các học sinh thiểu số và nghèo đứng hạng rất thấp dưới mức trung bình của Hoa Kỳ, trong khi, như một nghiên cứu ghi nhận, "các học sinh thuộc các khu vực giáo dục vùng nông thôn phong phú của Hoa Kỳ xếp hạng gần ngang các học sinh ở Singapore, nước hàng đầu thắng điểm dễ dàng trong thứ hạng toán của hệ thống TIMSS" . Đây là những học sinh về sau này sẽ tiếp tục đua tranh và lấp vào các vị trí hiếm hoi trong các trường đại học hàng đầu của Mỹ. Thí dụ như, sự khác biệt giữa các điểm trung bình trong các khu vực giáo dục nghèo và giàu có trong phạm vi nước Mỹ là bốn đến năm lần lớn hơn khác biệt giữa điểm trung bình toàn quốc giữa Mỹ và Singapore. Nói một cách khác, Mỹ là một quốc gia lớn và khác nhau với một vấn nạn có thực về bất bình đẳng. Trải qua thời gian, điều này sẽ chuyển dịch thành một vấn nạn có tính cạnh tranh, bởi vì, nếu chúng ta không thể giáo dục và huấn luyện một phần ba dân số lao động để có thể tranh đua trong một nền kinh tế của kiến thức, điều đó sẽ lôi cả nước đi xuống. Nhưng chúng ta biết được điều gì có hiệu quả. Đội quân to lớn của các sinh viên trong các trường đại học đứng năm hàng đầu của Hoa kỳ được xếp ngang hàng với các sinh viên giỏi nhất thế giới. Họ làm việc chăm chỉ và có một đời sống ngoại khóa và lịch học tập cao, như bất cứ ai từng đến một khu làng đại học ở Ivy League có thể minh xác được.

Tôi đã trải qua bậc tiểu học, trung học ở Mumbai, tại Cathedral and John Connon School, một trường xuất sắc. Phương pháp của trường này (ba mươi năm trước đây) phản ánh lối dạy học đuợc mô tả như là kiểu "Người châu Á ", trong đó phần thưởng được dựa vào trí nhớ và bài kiểm tra liên tục.Thực ra đây là phương pháp sư phạm cũ của Anh và Âu châu, một lối sư phạm mà hiện nay được mô tả là kiểu người châu Á. Tôi còn nhớ đã phải học thuộc lòng một số lượng cực lớn các bài vở, nôn mửa ra vào các bài thi rồi lập tức quên tất. Khi đi học bậc cao đẳng ở Hoa Kỳ, tôi đối diện với một thế giới hoàn toàn khác. Trong khi hệ thống của Mỹ quá thả lỏng về sự nhớ thuộc và tính khắt khe - dù là ở môn thi ca hay toán học - hệ thống này lại giỏi hơn nhiều trong việc phát triển các tính năng quan trọng của tinh thần, cái mà chúng ta cần đến để thành công trong đời sống. Các hệ thống giáo dục khác dạy mình đi thi, hệ thống giáo dục Hoa Kỳ dạy ta biết suy nghĩ.

Chắc chắn rằng phẩm chất này sẽ giải thích tại sao Mỹ sản xuất ra quá nhiều giới doanh thương, các nhà sáng chế và những người mạo hiểm. Ở Mỹ, con người được phép trở nên bạo dạn, dám thử thách, chịu thất bại và tự đứng lên. Chính là nước Mỹ, chứ không phải Nhật Bản đã sản sinh ra hàng tá những người đoạt giải Nobel. Tharman Shanmugaratnam, gần đây là bộ trưởng giáo dục của Singapore, đã giải thích sự khác nhau giữa quốc gia của ông và Hoa Kỳ. "Chúng ta đều có các chế độ nhân tài", Shanmugaratnam nói, "của quý vị là một chế độ nhân tài về tài năng; của chúng tôi là một chế độ nhân tài về thi cử. Chúng tôi biết rèn luyện nhân tài để ứng thí. Quý vị biết cách sử dụng tài năng con người đến toàn diện nhất. Cả hai đều quan trọng, nhưng có một số phần của trí thức mà chúng tôi không được thử thách tốt - như sự sáng tạo, óc hiếu kỳ, ý hướng mạo hiểm, tham vọng. Hơn hết, Mỹ có được một nền văn hóa về sự học hỏi đã thử thách được hiểu biết có tính truyền thống, ngay cả có phải thử thách đương đầu với thế quyền. Đây là những khu vực mà Singapore phải học từ nước Mỹ".

Đấy là một nguyên nhân mà gần đây các giới chức Singapore đã đến thăm các trường sở của Mỹ để học cách tạo nên một hệ thống có thể nuôi dưỡng và mang lại sự khéo léo, suy nghĩ nhanh nhạy và giải quyết vấn đề. Như tờ Washington Post tường thuật vào tháng Ba năm 2007, những nhà nghiên cứu từ các trường giỏi nhất của Singapore đã đến Học viện Khoa Học, một trường công lập rất thu hút tại Virginia, để khảo sát các phương pháp dạy học của Mỹ . Khi các sinh viên "nghiên cứu những cây thảo mộc tí hon, sự biến đổi có tính di truyền vào một buổi trưa gần đây, vẽ những chiếc lá và ghi chép các dữ liệu xuống", những người khách Singapore đã "ghi lại thời gian bao lâu mà các giáo sư đợi học sinh trả lời được câu hỏi, các học sinh phát biểu bao nhiêu lần và bảo vệ các quan điểm của họ như thế nào". Har Hui Peng, một vị khách từ Viện Hwa Chong của Singapore đã có ấn tượng, như tờ Post thuật lại "Chỉ bằng cách quan sát, quý vị có thể thấy các học sinh nhập cuộc hơn, thay vì cứ được nhồi nhét suốt ngày". Har nói. Bài báo tiếp tục, "[ở Singapore], bà cho biết, các phòng học luôn đầy nhưng ảm đạm, và các sinh viên thông minh nhưng do dự tình nguyện trả lời câu hỏi. Để khuyến khích tính tự phát, Hwa Chong hiện nay dựa 10 phần trăm điểm của mỗi học sinh vào việc tham gia phát biểu".

Trong khi Mỹ kinh ngạc về các năng khiếu thi cử của Á Châu, các nước Á châu đến Hoa Kỳ để tìm ra cách làm sao cho trẻ con của mình biết nghĩ. Các trường hàng đầu ở Bắc Kinh và Thượng Hải đang tập chú vào các tổ nhóm khảo cứu độc lập, ganh đua khoa học và tinh thần doanh nghiệp" Rosaline Chia, một nhà giáo khác trong chuyến đi thăm Mỹ nói. "Có lẽ chúng tôi cần phải nuôi dưỡng điều ấy nhiều hơn - đối thoại giữa thầy và trò". Những thay đổi ấy không đến dễ dàng. Thực ra Nhật Bản gần đây đã thử cải thiện tính mềm dẻo của hệ thống giáo dục bằng cách cắt bỏ các lớp học bắt buộc vào Thứ Bảy và tăng thêm thời gian hướng vào các nghiên cứu chung, những thứ mà học sinh và người dạy có thể cùng theo đuổi sở thích của riêng mình. "Nhưng việc chuyển dịch đến yutori kyoiku, hay giáo dục thoải mái của Nhật" tờ báo cho biết "đã bị dội ngược lại về căn bản từ những phụ huynh cứ lo lắng rằng con cái mình học không đủ và điểm thi cứ bị tụt giảm". Nói một cách khác, chỉ đơn giản thay đổi chương trình giảng dạy - một nỗ lực từ trên xuống - chỉ dẫn đến sự đề kháng chống lại. Văn hóa Hoa Kỳ tán dương và củng cố khả năng giải quyết khó khăn, tra vấn quyền lực và suy nghĩ khác thường. Họ cho phép con ngưòi được vấp ngã để có thể cho họ một cơ hội lần hai, lần ba. Họ ban thưởng những người tự làm nên và lập dị. Đây là những lực lượng ở dưới đáy tầng vốn không thể sản xuất ra từ sắc lệnh của chính phủ được.

(Còn tiếp)

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 4 (Tiếp theo)

Kỹ nghệ tuyệt hảo nhất của Hoa Kỳ

"Nhưng mà", những kẻ còn lo lắng sẽ nói "quý vị chỉ đang nhìn vào một bức tranh chụp thoáng nhanh của hiện tại mà thôi. Nền kỹ nghệ của Hoa Kỳ đang nhanh chóng bị ăn mòn khi đất nước này đang mất đi các nền tảng công nghệ và khoa học". Theo nhận xét của một số người, sự xuống dốc của khoa học là triệu chứng của một tình trạng suy tàn lớn hơn về văn hóa. Một đất nước từng tán thành đạo đức của Thanh giáo về sự tự chế (delayed gratification) đã trở thành một quốc gia hé lộ cho thấy sự tán thành sảng khoái tức thời. Chúng ta đang mất đi niềm ham thích trong những sự cơ bản – toán học, chế tạo, siêng năng làm việc, cần kiệm – và trở nên một xã hội hậu kỹ nghệ chú trọng đến tiêu thụ và an hưởng, “Nhiều người sẽ tốt nghiệp ở Hoa Kỳ vào năm 2006 với các văn bằng có liên quan đến tập luyện thể thao hơn là các văn bằng kỹ thuật điện”, Jeffrey Immelt, giám đốc điều hành hãng General Electric đã cho biết, “Thành ra, nếu chúng ta muốn trở thành một thủ đô về đấm bóp của thế giới, thì rõ ràng là chúng ta đang ở đúng đường rồi”.

Không một thống kê nào diễn tả được mối lo này hơn là những số liệu thống kê cho thấy sự suy thoái trong kỹ nghệ. Vào năm 2005, Hiệp hội Hàn Lâm Quốc gia đã đưa ra một báo cáo cảnh báo rằng chẳng bao lâu nữa, Hoa Kỳ sẽ mất đi vai trò đặc quyền là một trung tâm khoa học của cả thế giới. Bản báo cáo cho biết, vào năm 2004, ở Trung Quốc có 600.000 kỹ sư tốt nghiệp, Ấn độ 350.000 trong khi Hoa Kỳ chỉ có 70.000. Các con số này lập đi lập lại trong hàng trăm cuốn sách, bài viết và các trang blog, kể cả trong một bài đặc biệt về chủ đề này – bài Congressional Record, trên tờ Fortune và trên các bài diễn văn của cây cổ thụ của ngành công nghệ như Bill Gates. Và thật ra, con số này có lẽ đã là nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng. Hoa Kỳ có hy vọng gì khi mà cứ giữa mỗi kỹ sư Hoa Kỳ có năng lực lại có 11 người là Trung Quốc hay Ấn Độ ? Bản báo cáo cho thấy, với chi phí đào tạo một nhà hoá học hay kỹ sư ở Hoa Kỳ, một công ty có thể thuê được 5 hóa học gia nhiệt thành được đào tạo tốt từ Trung Quốc, hoặc 11 người kỹ sư ở Ấn độ.

Vấn nạn duy nhất chính là những con số đó hoàn toàn sai. Carl Bialik, một ký giả của tờ Wall Street Journal và một số học giả đã điều tra sự thể. Lập tức, họ tìm ra rằng các con số tốt nghiệp từ Á Châu này bao gồm cả những người tốt nghiệp từ những chương trình học 2 hoặc 3 năm - những sinh viên có được chứng chỉ tốt nghiệp từ những bài vở đơn giản về kỹ thuật. Một số giáo sư ở trường Pratt School of Engineering tại Đại học Duke đã đi Trung Quốc và Ấn Độ để thu thập các dữ liệu từ các nguồn tư nhân cũng như chính phủ đồng thời phỏng vấn nhiều thương nhân và học giả. Họ đã đi đến kết luận rằng loại đi số tốt nghiệp các chương trình hai hoặc ba năm đưa con số của Trung Quốc xuống còn chừng 350.000, và ngay cả con số này cũng giảm bớt nhiều từ cách xác định chữ “kỹ sư” vốn thường bao gồm cả những người sửa chữa kỹ thuật và cơ khí ô tô. Bialik ghi nhận rằng National Science Foundation, khi theo sát những con số thống kê này đã đưa các con số của Trung Quốc xuống còn chừng 200.000 một năm. Ron Hira, một giáo sư về chính sách công cộng tại Rochester Institute of Technology đưa ra con số tốt nghiệp người Ấn Độ vào khoảng từ 120.000 đến 130.000 một năm. Điều này có nghĩa là , tính theo đầu người, Hoa Kỳ thực đã đào tạo nhiều kỹ sư hơn là Trung Quốc và Ấn Độ.

Và các con số ấy không hề nhắc gì đến chất lượng đào tạo. Là một người từng lớn lên ở Ấn Độ, tôi đánh giá đúng đắn được những ưu điểm của trường IIT (Indian Institute of Technology) trường kỹ thuật nổi tiếng của đất nước này. Sức mạnh lớn nhất của trường này chính là họ thực hiện một kỳ thi nhập học khó khăn, ganh đua nhất thế giới. Ba trăm ngàn học sinh dự thi, chỉ có năm ngàn được trúng tuyển - một tỉ lệ nhập học của 1.7 phần trăm (so với tỉ lệ 9 hoặc 10 phần trăm của các trường như Harvard, Yale và Princeton). Sinh viên đủ điểm đậu là những người thông minh, sáng sủa nhất trong hàng tỉ người. Đặt vào bất cứ hệ thống giáo dục nào, họ cũng xuất sắc. Thực ra, nhiều sinh viên trường IIT chắc chắn là hạng thứ, với trang bị xoàng, giảng viên khác nhau và các bài vở thiếu sáng kiến. Rajiv Sahney, người đã theo học trường IIT, sau đó là trường Caltech, đã cho biết “Lợi thế chủ yếu của trường IIT là kỳ thi tuyển nhập học, vốn được thực hiện một cách siêu đẳng để tuyển chọn các sinh viên cực kỳ thông minh. Còn về dạy học và trường sở, không thể so sánh được với bất cứ trường kỹ thuật tử tế nào ở Hoa Kỳ”. Và một khi vượt ra ngoài khỏi trường IIT và các đại học ưu tú kiểu đó - vốn cho tốt nghiệp dưới 10 ngàn sinh viên hàng năm - chất lượng giáo dục cấp cao ở Trung Quốc và Ấn Độ vẫn còn hết sức nghèo nàn, khiến đó là nguyên nhân vì sao rất đông sinh viên đã rời bỏ sứ sở để đi học ở ngoại quốc.

Các số liệu đã xác định những ấn tượng có tính giai thoại này. Vào năm 2005, viện McKinsey đã thực hiện một nghiên cứu về “Thị trường Lao động mới nổi lên” và tìm thấy một mẫu (chứng liệu) của hai mươi tám quốc gia mức lương thấp có khoảng 33 triệu chuyên viên trẻ đang sẵn có để tuyển dụng, so sánh với chỉ 15 triệu trong mẫu (chứng liệu) của tám quốc gia trả lương cao (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đức, Nhật Bản, Úc, Canada, Ireland và Nam Triều Tiên). Nhưng có bao nhiêu người trong số những chuyên viên trẻ này ở các quốc gia trả lương thấp có đủ năng khiếu cần thiết để thi thố trong một thị trường toàn cầu ? “Chỉ một phần trong số này có thể làm việc thành công ở một nước khác”, bản báo cáo với dẫn chứng các giải thích chủ yếu về chất lượng giáo dục nghèo nàn đã cho thấy như thế. Ở cả Trung Quốc và Ấn Độ, bản báo cáo ghi nhận, ngoài con số nhỏ của các trường thượng hạng, chất lượng và số lượng giáo dục là thấp. Chỉ có 10 phần trăm sinh viên Ấn Độ có được các loại giáo dục hậu đại học. Do đó, bất chấp một nhu cầu rất cao về các kỹ sư, vẫn chỉ có một số tương đối nhỏ được đào luyện tử tế. Mức lương của những người được đào tạo kỹ sư tại những quốc gia ấy tăng 15 phần trăm hàng năm, một chỉ dấu chắc chắn cho thấy là số cầu vượt quá số cung. (Nếu bạn là người chủ thuê mướn người làm, và bạn có thể tìm được hàng ngàn các kỹ sư được đào tạo giỏi ra trường hàng năm, chắc bạn sẽ không tăng lương cho người làm việc đến mức 15 phần trăm hết năm này qua năm khác).

Giáo dục cao hơn chính là kỹ nghệ tốt nhất của Hoa Kỳ. Có hai thứ hạng trường đại học trên thế giới. Trong một của hai thứ hạng ấy, theo một nghiên cứu có chất lượng được thực hiện bởi các nhà khảo cứu Trung Quốc, tám trong mười trường đại học hàng đầu của thế giới là ở Hoa Kỳ. Ở các nước khác, 7 trường có phẩm chất hơn của Times Higher Educational Supplement ở London. Sau đó, con số không thay đổi nữa. Trong hàng hai mươi trường hàng đầu, mười bảy trên mười một trường là ở Hoa Kỳ; trong năm mươi trường đứng đầu ba mươi tám trường ở Hoa Kỳ. Nội dung cứ thế không thay đổi. Với 5 phần trăm dân số thế giới, Hoa Kỳ rõ ràng thống trị một nền giáo dục cao hơn, có 42 hoặc 68 phần trăm trường đại học đứng hàng đầu của thế giới (tùy vào bản nghiên cứu nào mà bạn dùng để đánh giá). Không có lãnh vực nào mà lợi thế của Hoa Kỳ quá mạnh như thế.

"Tương lai của các Trường Đại Học ở Châu Âu", một báo cáo năm 2006 của Centre for European Reform có bản doanh ở London chỉ ra rằng Hoa Kỳ đầu tư 2.6 phần trăm GDP của mình vào nền giáo dục cao hơn, so sánh với 1.2 phần trăm ở châu Âu và 1.1 phần trăm ở Nhật Bản. Tình hình khoa học còn đặc biệt đáng sợ. Một danh sách của 1000 nhà khoa học máy tính giỏi nnất thế giới được tốt nghiệp ở đâu cho thấy mười trường học giỏi nhất đều là của Mỹ. Hoa Kỳ chi tiêu vào lĩnh vực Nghiên cứu và Phát triển vẫn cao hơn Âu châu, và sự hợp tác của họ giữa kinh doanh và các viện đào tạo giáo dục là không nơi nào trên thế giới có thể so sánh được. Cho đến nay, Mỹ vẫn là điểm thu hút với giới sinh viên học sinh, chiếm 30 phần trăm tổng số sinh viên nước ngoài trên toàn cầu. Tất cả các thuận lợi này không dễ dàng xoá bỏ, bởi vì cấu trúc của các trường đại học ở Nhật bản và Âu châu - đa số điều hành bởi quan liêu, nhà nước - có lẽ khó có thể thay đổi. Và trong khi Trung Quốc, Ấn độ đang mở thêm nhiều truờng mới, không phải dễ dàng để tạo được các đại học có hạng trên thế giới trong một vài thập niên. Đây là con số thống kê về các kỹ sư mà có lẽ quý bạn chưa tùng nghe qua. Ở Ấn Độ, các trường Đại học cho tốt nghiệp giữa 35 và 50 tiến sĩ ngành khoa học máy tính hàng năm; ở Hoa Kỳ con số đó là 1000.

Học cách Suy nghĩ

Nếu các Đại học ở Hoa Kỳ là hàng đầu, ít người tin rằng điều ấy có thể được nói về các ngôi trường của mình. Mọi người biết rằng hệ thống truờng học ở Mỹ đang khủng hoảng và học sinh của mình đặc biệt kém về toán và khoa học, hết năm này qua năm khác trong các xếp hạng quốc tế. Nhưng các con số thống kê ở đây, dù không sai lầm vẫn cho thấy một điều gì hơi khác. Vấn nạn thực sự của Hoa Kỳ là điều không phải thuộc về sự xuất chúng mà là về sự truy cập. Từ khởi đầu của mình vào năm 1995, các Khuynh hướng Toán Học Quốc tế và Nghiên cứu Khoa học (TIMSS, Trends in International mathematic and Science Study) đã trở thành chuẩn mực để so sánh các chương trình giáo dục trên cả nước. Kết quả gần đây nhất, từ năm 2003, đưa Hoa Kỳ dứt khoát vào giữa hàng tiền đạo. Hoa Kỳ thắng điểm trung bình của hai mươi bốn nước bao gồm trong bản nghiên cứu. Học sinh lớp tám giỏi hơn học sinh lớp bốn (hai lớp được dùng để đánh giá) nhưng vẫn tụt sau các hạng tương ứng ở những nước như Hòa Lan, Nhật và Singapore. Báo chí đã thuật lại tin này với một thiên hướng có thể đoán trước được về sự thảm thương: "Quả bom kinh tế nổ chậm: thiếu niên Hoa Kỳ nằm trong hạng tồi về toán" tờ Wall Street Journal tường thuật.

Nhưng dù cho điểm toán và khoa học của Mỹ kém xa các nước đứng đầu như Singapore và Hongkong, các điểm trung bình tổng thể ẩn chứa sự khác biệt sâu sắc về chủng tộc, khu vực và kinh tế xã hội. Các học sinh thiểu số và nghèo đứng hạng rất thấp dưới mức trung bình của Hoa Kỳ, trong khi, như một nghiên cứu ghi nhận, "các học sinh thuộc các khu vực giáo dục vùng nông thôn phong phú của Hoa Kỳ xếp hạng gần ngang các học sinh ở Singapore, nước hàng đầu thắng điểm dễ dàng trong thứ hạng toán của hệ thống TIMSS" . Đây là những học sinh về sau này sẽ tiếp tục đua tranh và lấp vào các vị trí hiếm hoi trong các trường đại học hàng đầu của Mỹ. Thí dụ như, sự khác biệt giữa các điểm trung bình trong các khu vực giáo dục nghèo và giàu có trong phạm vi nước Mỹ là bốn đến năm lần lớn hơn khác biệt giữa điểm trung bình toàn quốc giữa Mỹ và Singapore. Nói một cách khác, Mỹ là một quốc gia lớn và khác nhau với một vấn nạn có thực về bất bình đẳng. Trải qua thời gian, điều này sẽ chuyển dịch thành một vấn nạn có tính cạnh tranh, bởi vì, nếu chúng ta không thể giáo dục và huấn luyện một phần ba dân số lao động để có thể tranh đua trong một nền kinh tế của kiến thức, điều đó sẽ lôi cả nước đi xuống. Nhưng chúng ta biết được điều gì có hiệu quả. Đội quân to lớn của các sinh viên trong các trường đại học đứng năm hàng đầu của Hoa kỳ được xếp ngang hàng với các sinh viên giỏi nhất thế giới. Họ làm việc chăm chỉ và có một đời sống ngoại khóa và lịch học tập cao, như bất cứ ai từng đến một khu làng đại học ở Ivy League có thể minh xác được.

Tôi đã trải qua bậc tiểu học, trung học ở Mumbai, tại Cathedral and John Connon School, một trường xuất sắc. Phương pháp của trường này (ba mươi năm trước đây) phản ánh lối dạy học đuợc mô tả như là kiểu "Người châu Á ", trong đó phần thưởng được dựa vào trí nhớ và bài kiểm tra liên tục.Thực ra đây là phương pháp sư phạm cũ của Anh và Âu châu, một lối sư phạm mà hiện nay được mô tả là kiểu người châu Á. Tôi còn nhớ đã phải học thuộc lòng một số lượng cực lớn các bài vở, nôn mửa ra vào các bài thi rồi lập tức quên tất. Khi đi học bậc cao đẳng ở Hoa Kỳ, tôi đối diện với một thế giới hoàn toàn khác. Trong khi hệ thống của Mỹ quá thả lỏng về sự nhớ thuộc và tính khắt khe - dù là ở môn thi ca hay toán học - hệ thống này lại giỏi hơn nhiều trong việc phát triển các tính năng quan trọng của tinh thần, cái mà chúng ta cần đến để thành công trong đời sống. Các hệ thống giáo dục khác dạy mình đi thi, hệ thống giáo dục Hoa Kỳ dạy ta biết suy nghĩ.

Chắc chắn rằng phẩm chất này sẽ giải thích tại sao Mỹ sản xuất ra quá nhiều giới doanh thương, các nhà sáng chế và những người mạo hiểm. Ở Mỹ, con người được phép trở nên bạo dạn, dám thử thách, chịu thất bại và tự đứng lên. Chính là nước Mỹ, chứ không phải Nhật Bản đã sản sinh ra hàng tá những người đoạt giải Nobel. Tharman Shanmugaratnam, gần đây là bộ trưởng giáo dục của Singapore, đã giải thích sự khác nhau giữa quốc gia của ông và Hoa Kỳ. "Chúng ta đều có các chế độ nhân tài", Shanmugaratnam nói, "của quý vị là một chế độ nhân tài về tài năng; của chúng tôi là một chế độ nhân tài về thi cử. Chúng tôi biết rèn luyện nhân tài để ứng thí. Quý vị biết cách sử dụng tài năng con người đến toàn diện nhất. Cả hai đều quan trọng, nhưng có một số phần của trí thức mà chúng tôi không được thử thách tốt - như sự sáng tạo, óc hiếu kỳ, ý hướng mạo hiểm, tham vọng. Hơn hết, Mỹ có được một nền văn hóa về sự học hỏi đã thử thách được hiểu biết có tính truyền thống, ngay cả có phải thử thách đương đầu với thế quyền. Đây là những khu vực mà Singapore phải học từ nước Mỹ".

Đấy là một nguyên nhân mà gần đây các giới chức Singapore đã đến thăm các trường sở của Mỹ để học cách tạo nên một hệ thống có thể nuôi dưỡng và mang lại sự khéo léo, suy nghĩ nhanh nhạy và giải quyết vấn đề. Như tờ Washington Post tường thuật vào tháng Ba năm 2007, những nhà nghiên cứu từ các trường giỏi nhất của Singapore đã đến Học viện Khoa Học, một trường công lập rất thu hút tại Virginia, để khảo sát các phương pháp dạy học của Mỹ . Khi các sinh viên "nghiên cứu những cây thảo mộc tí hon, sự biến đổi có tính di truyền vào một buổi trưa gần đây, vẽ những chiếc lá và ghi chép các dữ liệu xuống", những người khách Singapore đã "ghi lại thời gian bao lâu mà các giáo sư đợi học sinh trả lời được câu hỏi, các học sinh phát biểu bao nhiêu lần và bảo vệ các quan điểm của họ như thế nào". Har Hui Peng, một vị khách từ Viện Hwa Chong của Singapore đã có ấn tượng, như tờ Post thuật lại "Chỉ bằng cách quan sát, quý vị có thể thấy các học sinh nhập cuộc hơn, thay vì cứ được nhồi nhét suốt ngày". Har nói. Bài báo tiếp tục, "[ở Singapore], bà cho biết, các phòng học luôn đầy nhưng ảm đạm, và các sinh viên thông minh nhưng do dự tình nguyện trả lời câu hỏi. Để khuyến khích tính tự phát, Hwa Chong hiện nay dựa 10 phần trăm điểm của mỗi học sinh vào việc tham gia phát biểu".

Trong khi Mỹ kinh ngạc về các năng khiếu thi cử của Á Châu, các nước Á châu đến Hoa Kỳ để tìm ra cách làm sao cho trẻ con của mình biết nghĩ. Các trường hàng đầu ở Bắc Kinh và Thượng Hải đang tập chú vào các tổ nhóm khảo cứu độc lập, ganh đua khoa học và tinh thần doanh nghiệp" Rosaline Chia, một nhà giáo khác trong chuyến đi thăm Mỹ nói. "Có lẽ chúng tôi cần phải nuôi dưỡng điều ấy nhiều hơn - đối thoại giữa thầy và trò". Những thay đổi ấy không đến dễ dàng. Thực ra Nhật Bản gần đây đã thử cải thiện tính mềm dẻo của hệ thống giáo dục bằng cách cắt bỏ các lớp học bắt buộc vào Thứ Bảy và tăng thêm thời gian hướng vào các nghiên cứu chung, những thứ mà học sinh và người dạy có thể cùng theo đuổi sở thích của riêng mình. "Nhưng việc chuyển dịch đến yutori kyoiku, hay giáo dục thoải mái của Nhật" tờ báo cho biết "đã bị dội ngược lại về căn bản từ những phụ huynh cứ lo lắng rằng con cái mình học không đủ và điểm thi cứ bị tụt giảm". Nói một cách khác, chỉ đơn giản thay đổi chương trình giảng dạy - một nỗ lực từ trên xuống - chỉ dẫn đến sự đề kháng chống lại. Văn hóa Hoa Kỳ tán dương và củng cố khả năng giải quyết khó khăn, tra vấn quyền lực và suy nghĩ khác thường. Họ cho phép con ngưòi được vấp ngã để có thể cho họ một cơ hội lần hai, lần ba. Họ ban thưởng những người tự làm nên và lập dị. Đây là những lực lượng ở dưới đáy tầng vốn không thể sản xuất ra từ sắc lệnh của chính phủ được.

(Còn tiếp)

____________________

i. Trích dẫn của Immelt xuất hiện nguyên thủy từ một cuộc phỏng vấn với tạp chí Globalist "A CEO's
Responsobilities in the Age of Globalization", March 17, 2006.


ìi. Bialik đã viết hai bài trong chủ đề này trên Wall Street Journal: " Outsourcing Fears Help Inflate Some
Numbers", Aug, 26, 2005 và "Sounding the Alarm with a Fuzzy Stat", Oct 27, 2005. The Duke Study


ìi. Theo The Emerging Global Market: Part 2 - The Supply of Offshore Talent in Services (McKinsey Global
Institute, June 2005).


iv. Theo Alan S. Brown và Linda LaVine Brown "What are Science &Math Test Scores Really Telling US? " Bent
of Tau Beta Pi, Winter 2007, pp. 13-17.


v. Theo Michael Alison Chandler "Asian Educators Looking to London for an Edge", Washington Post, March 19,
2007

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét