Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 3 (Tiếp theo)

Thời kỳ dài lâu của Hoa Kỳ

Tuy nhiên, thật quan yếu để ghi nhận rằng yếu tố quan trọng cho sự suy tàn của Anh Quốc - sự suy thoái không thể đảo ngược được về kinh tế - không thực sự áp dụng được vào Hoa Kỳ ngày nay. Tình trạng vô địch về kinh tế của Anh Quốc tồn tại trong vài thập niên. Nền kinh tế vô song của Hoa Kỳ đã kéo dài hơn 130 năm. Kinh tế Hoa Kỳ từng là nền kinh tế lớn nhất thế giới từ giữa những năm 1880 và vẫn tồn tại đến ngày nay. Trong thực tế, Hoa Kỳ đã liên tục giữ một phần chia GDP của toàn cầu từ thời gian ấy. Với một ngoại lệ ngắn của thời cuối những năm 1940 và 1950 – khi tất cả các phần còn lại của thế giới kỹ nghệ hóa đã bị hủy diệt, phần chia của Hoa Kỳ còn tăng đến 50 phần trăm ! – Hoa Kỳ được tính là một phần tư đầu ra của cả thế giới trong cả thế kỷ (32 phần trăm vào năm 1913, 26 phần trăm vào năm 1960, 22 phần trăm vào năm 1980, 27 phần trăm vào năm 2000 và 26 phần trăm vào năm 2007). Có thể suy giảm nhưng không đáng kể lắm trong hai thập niên tới. Vào năm 2005, hầu hết các ước tính đều cho rằng kinh tế Hoa Kỳ vẫn lớn gấp đôi kinh tế Trung Quốc trong khuôn khổ của GDP danh nghĩa (nominal GDP),(mặc dù trong các ý nghĩa về lực khuyến mãi, khoảng cách còn nhỏ hẹp hơn).


Khác biệt này giữa Hoa Kỳ và Anh Quốc có thể được nhìn thấy trong gánh nặng ngân sách quốc phòng của họ. Nước Anh cai quản biển cả chứ không bao giờ cai quản đất đai được. Quân đội Anh Quốc từng là một quân đội nhỏ nhưng có hiệu quả, như thủ tướng Đức Otto von Bismark từng phán rằng, nếu như quân Anh dám xâm lăng Đức, ông chỉ cần giao cho cảnh sát bắt giữ. Trong khi đó, lợi thế của Anh Quốc trên mặt biển - có trọng tải lớn hơn hải quân của hai nước lớn kế tiếp gom lại - đã có được với những phí tổn hết sức tổn hại đến ngân quỹ. Ngược lại, quân đội Hoa Kỳ, thống lĩnh trên tất cả mọi phương diện – mặt đất, trên không, trên biển và không gian - và đã chi phí bằng hơn ngân sách của mười bốn nước kế đó cộng lại, tính ra bằng gần 50 phần trăm chi tiêu quốc phòng của cả toàn cầu. Một số người còn cho rằng tính toán ấy vẫn đánh giá thấp quân đội Hoa kỳ vốn đang dẫn đầu cả thế giới còn lại, bởi vì tính toán ấy chưa có phần của chiều kích khoa học và nền công nghệ Hoa Kỳ. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chi nhiều hơn tất cả thế giới cộng lại về nghiên cứu và phát triển quốc phòng. Và, quan trọng hơn nữa, Hoa Kỳ thực hiện được tất cả những điều này mà không hề phải bị nhẵn túi. Chi tiêu quốc phòng tính theo phần trăm GDP hiện nay là 4.1 phần trăm, thấp hơn là trong suốt thời chiến tranh lạnh. (Dưới thời Eisenhower, con số này tăng đến 10 phần trăm của GDP). Bí ẩn ở đây chính là mẫu thức. Khi GDP Hoa Kỳ tăng trưỏng lớn dần, lớn dần lên, các chi phí vốn từng là sự nặng nề đã trở nên khả thi. Cuộc chiến tranh ở Iraq có thể là một nỗ lực hay một thảm kịch là tuỳ vào góc nhìn của quý bạn. Tuy nhiên, dù là gì đi nữa, cuộc chiến ấy không hề làm Hoa Kỳ khánh tận. Cuộc chiến đã từng là một sự hao tốn, nhưng cái giá cho cả Iraq và Afghanistan - 125 tỉ một năm - chỉ tiêu biểu cho ít hơn 1 phần trăm GDP, so sánh với cuộc chiến tranh Việt Nam, tốn 1.6 phần trăm GDP của Hoa Kỳ và nhiều hơn hàng chục ngàn sinh mạng quân nhân.

Sức mạnh quân sự Hoa Kỳ không phải là nguyên nhân cho sức mạnh của họ mà chính là hậu quả. Nhiên liệu của sức mạnh đó chính là nền tảng kinh tế và công nghệ của Hoa Kỳ, vốn vẫn còn rất mạnh mẽ. Hoa Kỳ có đối đầu với các thử thách lớn hơn, sâu sắc hơn và rộng khắp hơn là đất nước này đã từng đối diện trong lịch sử của mình, và sự nổi dậy của phần thế giới còn lại thực sẽ có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ phải mất đi một số phần chia GDP toàn cầu. Nhưng tiến trình đó sẽ hoàn toàn không giống như suy sụp của Anh Quốc trong thế kỷ thứ hai mươi, khi đất nước này mất đi khả năng dẫn đạo trong sáng kiến, năng lực và tinh thần doanh nghiệp. Chừng nào còn nắm được và điều chỉnh được với các thử thách đang đối diện với mình, Mỹ sẽ vẫn tồn tại như một nền kinh tế quan trọng, sinh động ngay tại tuyến đầu của cuộc cách mạng kế tiếp về khoa học, công nghệ và kỹ thuật.


Tương lai là Ở đây

Khi tìm cách giải thích nước Mỹ sẽ làm ăn ra sao trong một thế giới mới, đôi khi tôi nói rằng "Cứ nhìn chung quanh". Tương lai đang ở ngay đây. Trong hai mươi năm qua, nền toàn cầu hóa đã trở nên sâu xa và rộng khắp. Nhiều quốc gia đang làm ra hàng hóa, công nghệ truyền thông đã giúp làm sân chơi trở nên trơn tru, vốn đầu tư đã di chuyển tự do được qua khắp thế giới. Và Hoa Kỳ đã hưởng được mối lợi lớn lao từ những khuynh hướng này. Kinh tế của Hoa Kỳ đã tiếp nhận được hàng trăm tỉ đô la đầu tư – việc hiếm có cho một quốc gia có nhiều vốn đầu tư của chính mình. Các công ty của họ đã đi vào kỹ nghệ và các quốc gia khác với thành công rất lớn, sử dụng công nghệ và quy trình mới, tất cả để thúc đẩy để tận cùng. Bất chấp hai thập niên đồng Mỹ kim quá đắt đỏ, xuất khẩu của Hoa Kỳ vẫn giữ được vị trí của mình.

Kết quả cuối cùng, tăng trưởng GDP đã ở mức trung bình là hơn 3 phần trăm trong suốt hai mươi lăm năm, rõ ràng cao hơn so với Âu châu (Nhật Bản là 2.3 phần trăm trong cùng thời gian ấy). Tăng trưởng năng xuất, thần dược của kinh tế hiện đại, đã là hơn 2.3 phần trăm trong hơn một thập niên cho đến nay, lại cũng là 1 phần trăm cao hơn so với mức tăng trưởng bình quân của Âu châu. Hoa Kỳ hiện được Diễn đàn Kinh tế Thế giới xếp hạng là nền kinh tế cạnh tranh nhất thế giới. Xếp hạng này đã từng đánh giá như thế hàng năm kể từ 1979, và vị trí của Hoa Kỳ đã từng ổn định, đôi khi có suy giảm một chút trong những năm gần đây so với các nước nhỏ ở Âu châu như Thụy điển, Đan Mạch và Phần Lan (những nước mà tổng dân số chỉ vào khoảng hai mươi triệu, nhỏ hơn dân số bang Texas). Quỹ đạo tăng trưởng siêu việt của Hoa Kỳ có thể đã đuối dần và có lẽ tăng trưởng của họ sẽ trở nên “bình thường” hơn đối với một nước kỹ thuật tiến bộ cho những năm sắp tới. Nhưng điểm chung chính là, Mỹ là một nền kinh tế năng động cao ở các đỉnh cao, dù kích cỡ quá khổ của họ.

Hãy nhìn vào các kỹ nghệ cho ngày mai. Công nghệ nano (nanotechnology)- một ngành khoa học ứng dụng hướng đến việc kiểm soát vật chất ở quy mô nguyên tử hoặc phân tử - đang được xem như sẽ đưa đến các thành quả mang tính đột phá trong năm mươi năm tới. Tôi được biết rằng, vào một thời điểm nào đó trong tương lai, chính các hộ gia đình sẽ tạo nên các sản phẩm từ nguyên liệu thô, và thương mại chỉ đơn giản thực hiện những công thức để biến các nguyên tử thành ra hàng hoá. Cho dù đây chỉ là một sự tiên đoán cường điệu, nhưng điều đáng nhận thấy chính là bằng mọi đánh giá có thể tưởng tượng ra được, Hoa Kỳ đang thống lĩnh khu vực công nghệ nano này. Hoa Kỳ có nhiều trung tâm chuyên biệt về nano hơn ba nước kế đó (Đức, Anh và Trung Quốc) cộng lại, và nhiều trung tâm này tập chú vào những chủ đích rõ ràng với các ứng dụng có giá trị tiếp thị và các khả năng thực tiễn rất cao - như Emory-Georgia Tech Nanotechnology Center fot Personalized and Predictive Oncology. Ở mức giá trao đổi trên thị trường, tài trợ công nghệ nano của chính phủ Hoa Kỳ gấp hai lần so với nước cạnh tranh đứng sau mình là Nhật bản. Và trong khi Nhật, Trung Quốc và Đức đóng góp một phần khá lớn các bài viết nghiên cứu trong ngành khoa học nano cùng các chủ đề về kỹ thuật, Hoa Kỳ lại phát hành nhiều bằng sáng chế về công nghệ nano hơn tất cả các nước khác trên thế giới gộp lại, nêu bật sức mạnh khác thường của Hoa Kỳ trong việc biến một lý thuyết trừu tượng thành các sản phẩm thực dụng.

Hãng Lux, dẫn đạo bởi Gs. Michael Holman, đã xây dựng một ma trận (matrix) để đánh giá tính cạnh tranh tổng thể của công nghệ nano. Bản phân tích của họ không chỉ về hoạt động trong công nghệ nano mà còn về khả năng "tạo được sự tăng trưởng từ việc ứng dụng sáng kiến khoa học". Bản phân tích này tìm thấy rằng một số quốc gia chi tiêu nhiều trong công cuộc khảo cứu không thể biến nền khoa học của họ thành công việc giao thương được. Các quốc gia "tháp Ngà" này có các ngân sách khảo cứu thật ấn tượng, các bài viết và ngay cả các bằng sáng chế nhưng vì nguyên nhân sao đó đã không xoay sở để chuyển đổi những thành quả này thành các khái niệm và hàng hoá thị trường được. Trung Quốc, Pháp và ngay cả Anh Quốc đều nằm trong danh sách này. Tuyệt đối 85 phần trăm trị giá các đầu tư về công nghệ nano đã đổ về Hoa Kỳ.

Công nghệ Sinh học - một phạm vi rộng mô tả việc sử dụng các hệ thống sinh học để làm ra các sản phẩm về y khoa, nông nghiệp và kỹ nghệ - đã là một ngành kỹ thuật bạc tỉ. Ngành công nghệ này, cũng đang bị thống trị bởi Hoa Kỳ. Hơn 3.3 tỉ tiền vốn đầu tư đổ vào các công ty kỹ nghệ sinh học của Mỹ trong năm 2005, trong khi đó các công ty ở Âu châu chỉ nhận được một nửa số ấy. Cổ phần theo sau đó (nghĩa là sau-IPO [Initial Public Offering - Cổ phần Phát hành ra công chúng lần đầu]) ở Hoa Kỳ trị giá bảy lần cao hơn ở Âu châu. Và trong khi IPO của Âu châu thu hút nhiều tiền mặt hơn vào năm 2005, hoạt động IPO dễ thay đổi - vào năm 2004, giá trị IPO của Mỹ cao hơn Âu châu đến bốn lần. Với công nghệ nano, các công ty Mỹ biến ý tưởng thành ra các sản phẩm bán được và sinh lời cao. Lợi tức từ công nghệ sinh học Mỹ lên đến 50 tỉ trong năm 2005, năm lần cao hơn Âu châu và tiêu biểu cho 76 phần trăm lợi tức của cả toàn cầu.
Dĩ nhiên, cơ xưởng nhà máy, từng rời bỏ nước Mỹ, di chuyển đến các nước đang phát triển và đã biến Mỹ trở nên một nền kinh tế dịch vụ. Điều này khiến nhiều người ở Âu châu và Mỹ lo sợ, những người băn khoăn tự hỏi đất nước của mình sẽ hưởng được gì nếu mọi thứ đều “sản xuất ở Trung Quốc”. Nhưng nền sản xuất Á Châu phải được nhìn trong một khung cảnh của một nền kinh tế toàn cầu, trong đó các nước như Trung Quốc đã từng trở nên một phần quan trọng của mạng lưới cung cấp- nhưng vẫn chỉ là một phần.

James Fallows, cây bút của tờ Atlantic Monthly đã bỏ ra một năm trời ở Trung Quốc để quan sát kỹ các nhà máy chết người ấy và ông đã mang lại một giải thích thuyết phục - một giải thích được giới thương nhân Trung Quốc hiểu rõ - về việc làm thế nào mà sự di chuyển sản xuất ra bên ngoài (outsourcing) đã làm gia tăng tính cạnh tranh của Hoa Kỳ. Hầu hết người Mỹ, ngay cả giới thông thạo về quản trị, chưa hề nghe qua về “đường cong nụ cười”. Nhưng các nhà máy cơ xưởng Trung Quốc biết rất rõ. Đặt tên cho một nụ cười hình uốn cong trong một họa hình đơn giản của những năm 1970 của một khuôn mặt cười tươi J, đường cong này biểu thị sự phát triển của một sản phẩm, từ khái niệm đến bán hàng. Từ góc cao bên trái của đường cong nụ cười là sự khởi đầu của một khái niệm và và thiết kế kỹ thuật ở giai tầng cao - sản phẩm này sẽ hoạt động và có hình dáng ra sao. Xuống dần theo đường cong là chi tiết bản vẽ kỹ thuật. Phần thấp nhất của nụ cười cong là quy trình sản xuất, lắp ráp, đóng gói vận chuyển. Đi cao dần lên sang phía bên phải là quy trình phân phối, tiếp thị, bán lẻ, hợp đồng dịch vụ và buôn bán các loại phụ kiện, phụ tùng. Fallows đã quan sát thấy quy trình như thế tại hầu hết các cơ xưởng. Trung Quốc đảm nhiệm phần trũng của đường cong nụ cười còn Mỹ đảm nhiệm phần hai đầu – là nơi làm ra tiền. “Cách đơn giản để giải thích điều này – rằng đồng tiền thực sự nằm tại thương hiệu (brand name) cộng với sự bán lẻ - rõ ràng là hợp lý, ông đã viết, “nhưng các ám chỉ thực là hết sức sáng tỏ”. Một thí dụ sống động nhất của quy trình này chính là cái iPod: hầu hết sản phẩm này được chế tạo ở bên ngoài nước Mỹ, nhưng phần lớn giá trị cộng thêm vào lại do Aple Inc. ở California dành được. Công ty đạt được lợi nhuận 30 mỹ kim trên một iPod 30 gigabyte vốn được bán lẻ là 299 Mỹ kim (vào cuối năm 2007). Lợi nhuận của công ty là 36 phần trăm trên giá ước tính bán sỉ 224 Mỹ kim. (Cộng thêm vào đó sẽ là lợi nhuận bán lẻ nếu sản phẩm này được bán từ một cửa hàng của Apple). Tổng cộng giá trị các cơ phận là 144 Mỹ kim. (Ngược lại, các nhà máy sản xuất Trung Quốc chỉ có lợi nhuận khoảng một vài phần từ sản phẩm này của Apple).

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét