Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Sức Mạnh Hoa Kỳ

Kỳ 2

Cuộc vươn dậy Lạ thường của Sức mạnh Anh Quốc

Anh Quốc từng là một đất nước giàu có từ hàng nhiều thế kỷ (và từng là một quyền lực vĩ đại hầu như trong suốt thời gian đó), nhưng chỉ là một siêu quyền lực về kinh tế chỉ trong hơn một thế hệ. Chúng ta thường lầm lẫn trong việc xác định thời cực thịnh của Anh Quốc bằng những biến cố lớn lao của thời đế chế, chẳng hạn như cuộc Lễ mừng Sáu Mươi Năm, vốn khi ấy được xem như một dấu ấn của quyền lực. Thực ra, tính đến năm 1897, những năm tháng huy hoàng nhất của Anh Quốc đã ở trong quá khứ. Thời cực thịnh của Anh Quốc là một thế hệ trước đó, từ năm 1845 đến 1870. Khi ấy, Anh Quốc làm nên hơn 30 phần trăm GDP toàn cầu. Tiêu thụ năng lượng của Anh là năm lần lớn hơn Hoa Kỳ và 155 lần hơn Nga. Anh Quốc tiêu biểu cho một phần năm giao thương của cả thế giới và hai phần năm của các loại giao thương về kỹ nghệ. Và đã đạt được tất cả những thành quả này chỉ với một dân số bằng 2 phần trăm dân số thế giới.

Vào năm 1820, khi dân số và nông nghiệp là yếu tố quyết định của GDP, nền kinh tế của Pháp đã lớn hơn của Anh Quốc. Vào cuối những năm 1870, Hoa Kỳ từng ngang bằng với Anh Quốc trong hầu hết các tính toán về kỹ nghệ và thực sự đã vượt qua Anh Quốc vào đầu những năm 1880, khi Đức đuổi kịp vào mười lăm năm sau. Vào lúc Đệ Nhất thế chiến, kinh tế Hoa Kỳ gấp hai lần Anh Quốc, Pháp và Nga cũng lớn hơn. Vào năm 1860, Anh Quốc sản xuất ra 53 phần trăm sắt thép của cả thế giới (đó là một chỉ dấu của sự vững mạnh siêu hạng về kỹ nghệ trong thời gian ấy); đến năm 1914, đất nước này làm ra ít hơn 10 phần trăm.

Dĩ nhiên, có nhiều cách để đo lường sức mạnh. Về chính trị, London vẫn là thủ đô của cả thế giới trong thời Đệ Nhất thế chiến. Xuyên qua địa cầu, vượt khỏi Âu châu, mệnh lệnh của London là không thể so sánh và hầu như không thể chống lại được. Anh Quốc đã đạt được một đế chế trong một giai đoạn trước cả thời khởi đầu của chủ nghĩa quốc gia, do đó đã có ít trở ngại trong việc duy trì và kiểm soát những khu vực xa xôi. Sức mạnh trên biển của họ là vô địch trong suốt hơn một thế kỷ. Đất nước này cũng từng chứng tỏ rất giỏi về nghệ thuật đế chế.
Kết quả là, Anh quốc vẫn thống trị về ngân hàng, vận chuyển, bảo hiểm và các đầu tư. London vẫn là một trung tâm của tài chính thế giới và đồng bảng Anh vẫn còn là đồng tiền dự trữ của thế giới. Ngay cả vào năm 1914, Anh Quốc vẫn đầu tư vốn tư bản ra bên ngoài gấp hai lần hơn Pháp, đối thủ ngang ngửa mình và năm lần hơn Hoa Kỳ. Chính kết quả của các đầu tư này và các loại “giao thương không nhìn thấy” đã che khuất sự suy tàn của Anh Quốc trong một số phương diện.

Tuy nhiên, thực tế là kinh tế của Anh Quốc đã đi xuống. Vào những ngày tháng đó, cơ xưởng kỹ nghệ vẫn tiêu biểu cho phần lớn kinh tế của một quốc gia và các hàng hoá mà Anh Quốc sản xuất ra lại tiêu biểu cho quá khứ hơn là tương lai. Năm 1907, họ sản xuất ra một số lượng xe đạp gấp bốn lần hơn Hoa Kỳ, nhưng Hoa Kỳ làm ra số lượng xe ô tô nhiều hơn họ gấp mười hai lần. Trong kỹ nghệ hóa học, trong sản xuất các thiết bị khoa học và các lãnh vực khác, khoảng cách biệt cũng thấy rõ. Chiều hướng tổng thể rõ ràng là: Mức phát triển của Anh Quốc đã tụt giảm từ 2.6 phần trăm trong những ngày cực thịnh của mình xuống 1.9 phần trăm từ năm 1885 trở đi và còn tiếp tục suy giảm. Trong khi đó, Hoa Kỳ và Đức tăng trưởng ở mức khoảng 5 phần trăm. Từng là một mũi nhọn trong cuộc cách mạng kỹ nghệ lần thứ nhất, Anh Quốc đã kém tài trí hơn trong cuộc cách mạng lần thứ hai.

Các học giả đã từng tranh luận về nguyên nhân sự suy tàn của Anh Quốc ngay từ khi cuộc tụt dốc bắt đầu. Một số tập chú vào địa lý chính trị, một số khác vào các yếu tố kinh tế như sự đầu tư kém vào các máy móc và cơ xưởng mới, các quan hệ nhân công tồi và sự thiếu hụt các kỹ năng về tiếp thị. Chủ nghĩa tư bản Anh Quốc trở nên cứng nhắc và lỗi thời. Kỹ nghệ của Anh Quốc đã được hình thành chỉ ở tầm mức như những hãng xưởng nghèo nàn với các tay nghề thủ công hơn là các nhà máy lớn được tổ chức theo lối kỹ nghệ hóa tiên tiến đang bung lên ở các nước Đức và Hoa Kỳ. Lại còn có những dấu hiệu của các vấn nạn về văn hóa nữa. Một nước Anh giàu có đã đánh mất đi những tập trung của mình vào một nền giáo dục thực tiễn. Khoa học và địa dư lệ thuộc vào văn chương và triết lý. Xã hội Anh vẫn duy trì một lối phân chia kiểu phong kiến, được mang lại từ tầng lớp quý tộc chủ đất. Giới ưu tú này khinh thị khoa học và kỹ nghệ quá sức đến mức các doanh nhân thành công còn tự làm cho mình trở nên các loại quý tộc giả mạo, với các loại nhà cửa kiểu thôn dã và ngựa, đồng thời còn che đi tất cả các dấu tích nguồn gốc của tiền bạc. Thay vì học ngành hóa học hay kỹ nghệ điện, con cái họ lại bỏ ra bao ngày tháng ở Oxbridge để nhai văn chương, lịch sử cổ đại La mã và Hy Lạp.

Có lẽ là không một điều thất bại nào trong những điều trên là thực sự nghiêm trọng. Paul Kennedy đã vạch ra rằng sự thống trị của Anh Quốc trong thế kỷ thứ mười chín là sản phẩm của hàng loạt những trường hợp hết sức bất thường. Danh sách các sức mạnh sẵn có của họ - địa dư, dân số, tài nguyên – đã hợp lý để trông đợi một tăng trưởng từ 3 đến 4 phần trăm GDP của toàn cầu, nhưng phần chia của họ đã tăng lên đến 10 lần hơn con số ấy. Khi những tình huống khác thường ấy giảm nhẹ đi – khi các các nước phương Tây vướng vào công cuộc kỹ nghệ hóa, khi Đức thống nhất, khi Hoa Kỳ giải quyết được mối phân rẽ phía nam của mình – Anh Quốc bắt đầu đi xuống. Nhà lập pháp Anh Leo Amery nhìn thấy rõ điều này từ năm 1905. “Làm sao đảo quốc nhỏ này có thể giữ được dài lâu trong cuộc cạnh tranh với những nước đang nhanh chóng trở nên một loại đế chế như các nước lớn và giàu có Hoa Kỳ và Đức?” Ông đã từng đặt câu hỏi. “Làm sao mà chúng ta với bốn mươi triệu dân có thể đọ sức với một quốc gia lớn gần gấp hai chúng ta?”. Đó cũng là câu hỏi mà hiện nay nhiều người đang đặt ra về Hoa Kỳ trước sự đi lên của Trung Quốc.

Chính trị giỏi, Kinh tế tồi

Anh Quốc đã lèo lái để duy trì vị trí như một quyền lực hàng đầu thế giới trong nhiều thập niên sau khi họ mất đi thống trị về kinh tế, nhờ vào một phối hợp của ngoại giao tài giỏi và dự phóng chiến lược khôn khéo. Trước đây, khi nhìn thấy cân bằng quyền lực dịch chuyển, London đã thi hành một quyết định quan yếu khiến đã gia hạn được ảnh hưởng của mình thêm được nhiều thập niên: họ đã chọn hòa hợp chính mình vào sự vươn dậy của Hoa Kỳ thay vì thử thách lại. Trong nhiều thập niên sau 1880, qua hết sự kiện này đến sự kiện khác, London đã nhượng bộ với sự tăng trưởng và quyết đoán của Washington. Thật không dễ dàng cho London để nhường sự kiểm soát cho một thuộc địa cũ của mình, một quốc gia từng đánh nhau qua hai cuộc chiến tranh (cuộc chiến tranh năm 1812 và cuộc Chiến tranh Cách mạng), một quốc gia từng ủng hộ những người ly khai trong cuộc chiến tranh Dân sự thời gian đó. Thế mà, Anh Quốc dứt khoát nhượng lại Bán cầu Tây phương cho nước thuộc địa cũ của mình, bất kể đến chính quyền lợi của riêng mình ở đấy.

Đó là một nước cờ tuyệt vời có tính chiến lược. Nếu như, giữa tất cả những mục tiêu khác của mình, Anh Quốc từng kháng cự lại sự vươn dậy của Hoa Kỳ, chắc Anh Quốc đã kiệt sức. Trong tất cả những nhầm lẫn của họ qua nửa thế kỷ sau, chiến lược của London về Hoa Kỳ - một chiến lược từng được chấp hành bởi tất cả chính phủ Anh kể từ những năm 1880 - mang ý nghĩa rằng Anh Quốc sẽ tập chú vào các mặt trận quan trọng khác. Kết quả là, Anh Quốc vẫn còn làm chủ được mặt biển, kiểm soát được những đường hàng hải và các tuyến lưu thông với "năm khu vực trọng yếu" được cho là có thể khóa chặt cả thế giới - Singapore, Cape của Africa, Alexandria, Gibraltar và Dover.

Anh Quốc duy trì được sự kiểm soát trong đế chế của mình và ảnh hưởng đến quốc tế mà không bị nhiều chống đối trong nhiều thập niên. Sau Đệ nhất Thế chiến, Anh Quốc tiếp quản được hơn 1.8 triệu dặm vuông đất đai và 13 triệu thần dân mới, chủ yếu trong vùng Trung Đông. Tuy nhiên, khoảng cách giữa vai trò chính trị và năng lực kinh tế vẫn nở lớn. Dù đế chế vẫn gặt hái được lợi nhuận từ ban đầu nhưng đến thế kỷ hai mươi đã có một sự mất mát lớn trong ngân quỹ của Anh Quốc. Kinh tế Anh Quốc choáng váng. Đệ Nhất Thế chiến hao tốn hơn 40 tỉ, và Anh Quốc, từng là một chủ nợ lớn nhất thế giới, sau đó đã phải mang nợ lên đến 136 phần trăm tổng số sản lượng nội địa. Sự gia tăng gấp mười lần trong mức nợ chính phủ có nghĩa là vào giữa những năm 1920, chỉ riêng khoản trả nợ tiền lời đã ăn vào nửa ngân sách của chính phủ. Anh Quốc đã từng muốn duy trì quân đội và sau trận thế chiến, muốn mua lại hạm đội của Đức với giá rẻ đồng thời lại vẫn duy trì được địa vị của mình là một quyền lực hàng hải hàng đầu. Nhưng vào năm 1936, chi tiêu quốc phòng của Đức đã cao hơn Anh Quốc gấp ba lần. Cùng năm đó, Ý xâm lăng Abyssinia, Mussolini cũng đã điều một lực lượng năm mươi ngàn quân vào Lybia - mười lần đông hơn quân Anh đang canh giữ vùng kênh Suez. Chính vì những tình huống này - cộng với ký ức về một trận thế chiến vừa qua khiến hơn bảy trăm ngàn thanh niên Anh chết - đã dẫn đến việc chính phủ Anh của những năm 1930 phải đối diện với chủ nghĩa phát xít, để phải đi đến các lối suy nghĩ hy vọng và nhượng bộ với sự đối đầu.

Các quan ngại về tài chính hiện giờ chi phối đến chiến lược. Quyết định biến Singapore trở thành một "căn cứ hải quân vĩ đại" là một mô phỏng tuyệt vời cho tình huống này. Anh Quốc đã nhìn thấy vùng "Gibralta phương Đông" này như một trở ngại chiến lược giữa Ấn Độ dương và Thái Bình dương khiến ngăn cản các di chuyển về phương Tây của Nhật Bản. (Anh Quốc có được sự lựa chọn duy trì tình trạng đồng minh với Tokyo - thuận lợi hơn - nhưng Hoa Kỳ và Úc đã chống lại). Chiến lược là hợp lý. Tuy nhiên, tài chính bấp bênh của Anh đã không có đủ ngân sách để thực hiện. Khu vực sửa chữa đóng tàu quá nhỏ cho một đội tàu nên có thể được đảm trách bởi người Nhật. Năm 1942, khi Nhật tấn công, Singapore thất thủ chỉ trong một tuần lễ.

Đệ nhị thế chiến chính là những cái đinh cuối cùng đóng vào cỗ quan tài của sức mạnh kinh tế Anh Quốc. (Vào năm 1945, GDP của Hoa Kỳ cao hơn Anh Quốc mười lần). Tuy nhiên, dù là như thế, Anh Quốc vẫn còn một ảnh hưởng đáng kể, một phần nhờ vào tham vọng và năng lực phi thường của Winston Churchill. Khi ta cân nhắc đến việc Hoa Kỳ đã phải chi trả gần như tất cả các tổn hại của phe Đồng minh và Nga chịu hầu hết mát mát về nhân mạng, phải cần đến một ý chí hết sức cao cường để giữ cho Anh Quốc ở lại trong hàng ba cường quốc quyết định số phận của cả thế giới sau chiến tranh. Bức ảnh chụp Roosevelt, Stalin và Churchill ở hội nghị Alta vào tháng Hai năm 1945 là một điều gì có tính đánh lạc hướng. Thực không hề có "Tam Cường" tại Yalta. Chỉ có "Nhị Cường" cộng với một chính khách vô cùng thông minh đã giữ được mình và đất nước của mình ở trong cuộc chơi, để Anh Quốc duy trì tốt đẹp được nhiều yếu tố của một quyền lực vĩ đại vào đến cuối thế kỷ thứ hai mươi.

Dĩ nhiên là điều ấy phải trả bằng một cái giá. Để thu hồi món nợ của mình từ London, Hoa Kỳ đã tiếp quản được hàng chục căn cứ của Anh ở Caribbean, Canada, Ấn Độ dương và Thái Bình dương. "Đế chế Anh đã trao lại cho ông chủ tiệm cầm đồ Hoa Kỳ - niềm hy vọng duy nhất của chúng ta", một đại biểu quốc hội đã từng tuyên bố như thế. Nhà kinh tế học John Maynard Keynes là người giận dữ nhất, đã mô tả Đạo Luật Thuê-Vay (Lend-Lease act) là một cố gắng nhằm "móc mắt của đế chế Anh". Những nhà quan sát bình tĩnh hơn đã nhìn điều này như một điều không tránh khỏi. Arnold Toynbee, một sử gia nổi tiếng khi ấy, đã an ủi người Anh rằng "cánh tay của Hoa Kỳ sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều so với Nga, Đức, Nhật, những nước mà tôi cho rằng sẽ là các chọn lựa khác".

Điểm cơ bản chính là Anh Quốc đã làm hỏng quyền lực toàn cầu vĩ đại của mình không phải vì chính trị mà chính là vì kinh tế tồi. Đất nước này đã có một ảnh hưởng lớn lao trên toàn cầu nhưng nền kinh tế suy yếu tự cấu trúc. Và đất nước này đã làm cho sự thể trở nên tồi tệ hơn từ các sửa chữa kém cỏi - cứ liên tục theo đuổi rồi lại buông bỏ về những tiêu chuẩn vàng (gold standards), áp dụng các loại thuế hoàng gia, tăng mãi các món nợ chiến tranh to lớn. Sau Đệ nhị Thế Chiến, Anh Quốc đã theo đuổi một chương trình kinh tế có tính xã hội chủ nghĩa, chương trình Beveridge, vốn quốc hữu hoá và quản lý chặt chẽ phần lớn các bộ phận kinh tế. Điều này có lẽ cũng dễ hiểu như là một phản ứng với tình hình tơi tả của đất nước, nhưng vào những năm 1960 và 1970 chương trình này đã khiến Anh Quốc đi đến tình trạng đình trệ - mãi đến khi Margaret Thatcher đã giúp đưa nền kinh tế Anh trở lại vào những năm 1980.

Bất chấp sự suy sụp suốt bảy năm trong khu vực kinh tế liên quan của mình, London vẫn tham dự được bàn tay yếu ớt của mình với sự khôn khéo chính trị đầy ấn tượng. Lịch sử của đất nước này mang lại các bài học quan trọng cho Hoa Kỳ.


i. Những sự thực về tình hình kinh tế của Anh Quốc phần lớn có từ Paul Kenedy, The Rise and Fall of Great
Powers (New York, Random House, 1987), tr. 151-200. Madison and Barnett (xem dưới đây) cũng là các nguồn hữu ích.


ii. Lý thuyết về sự suy thoái này của Anh Quốc được trình bày rõ ràng chi tiết trong The Collapse of British Power của Correlli Barnett (Gloucestershire: Sutton Publishing, 1997).


iii. Theo Niall Fegurson trong The Pity of War (New York, Penguin Books, 1998).


iv. Theo The Rise and Fall of Great Power của Kennedy.


v. Theo Rise and Fall of the British Empire của James.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét