Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Tác Giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

(Tiếp theo)

Sức Mạnh Hoa Kỳ
Kỳ 1

Vào ngày 22 tháng Sáu năm 1897, khoảng bốn trăm triệu người trên thế giới, nghĩa là một phần tư nhân loại, được nghỉ một ngày. Ngày đó là ngày Kỷ niệm lần thứ Sáu mươi ngày đăng quang của Nữ Hoàng Anh Victoria. Dịp Lễ Mừng Sáu Mươi năm đã kéo dài năm ngày trên biển và đất liền, nhưng đỉnh cao của buổi lễ là cuộc diễu hành và lễ tạ ơn vào ngày 22 tháng Sáu. Mười một vị thủ tướng các thuộc địa tự quản của Anh quốc đều cùng các hoàng thân, công chúa, các đại sứ và các phái đoàn từ mọi phần còn lại của thế giới đều tham dự. Một cuộc diễu binh của năm mươi nghìn quân nhân gồm các kỵ binh nhẹ Gia Nã Đại, lực lượng kỵ binh từ New South Wales, bộ binh súng trường từ Naples, đội quân lạc đà từ Bikaner, Gurkhas từ Nepal và nhiều binh chủng khác nữa. Đấy đúng là một niềm “Tự hào La mã” như một sử gia đã ghi lại.

Lễ Kỷ niệm Sáu mươi năm được đánh dấu bởi các thứ phô trương lòe loẹt trên khắp hang cùng ngõ hẻm của đế quốc này. James Morris đã viết lại rằng “Ở Hyderabad, cứ mười tội phạm thì có một người được thả tự do”. Ông viết ”Có tiệc lớn ở đại sảnh Rangoon, chiêu đãi ở cung điện của Sultan ở Zanibar, bắn súng chào ở Vịnh Table, một buổi khoản đãi vĩ đại ở Freetown, biểu diễn hợp xướng ở Happy Valley tại Hong Kong”. Tại Bagalore đã dựng tượng của nữ hoàng và ở Vishakapattnam có được một toà thị chính mới. Tại Singapore, một pho tượng của ngài Stamford Raffles được dựng nên giữa Padang và một đài nước phun được xây ngay giữa hoa viên công cộng ở Thượng Hải (dù không phải là một thuộc địa của Anh). Hàng chục ngàn học sinh tuần hành qua các đường phố Ottawa vẫy cờ Anh. Và nhiều, nhiều nữa…

Ở thủ đô Luân Đôn, cậu trai tám tuổi Arnold Toynbee, cỡi trên vai người bác của mình, háo hức nhìn đám rước. Toybee, người sau này trở nên một sử gia nổi tiếng nhất trong thời đại của mình, đã nhớ lại là việc ngắm nhìn đám rước ấy có cảm giác như thể mặt trời đã “đứng sững giữa chốn thiên đàng, như thể vầng thái dương đã từng đứng yên ở đấy theo lệnh Thiên Chúa”. “Tôi còn nhớ lại bầu không khí ấy”, ông viết, đó là cái không khí của “Thế đấy, chúng ta đang ở trên đỉnh cao của thế giới, và chúng ta đã đạt đến đỉnh điểm này để ở đấy mãi mãi. Dĩ nhiên, có một thứ gọi tên là lịch sử, nhưng đối với ai khác thì lịch sử là một điều gì không thích thú lắm. Còn chúng tôi lại thoải mái không phải lo gì về tất cả những thứ ấy, tôi tin chắc như thế”.

Thế nhưng, dĩ nhiên, lịch sử đã xảy ra với Anh Quốc. Câu hỏi cho một siêu quyền lực của thời đại chúng ta là, liệu bài học lịch sử có xảy đến với nước Mỹ hay không? Phải chăng điều ấy đã xảy ra? Không hề có phép suy diễn nào tương tự như nhau, nhưng Anh Quốc trong những ngày hoàng kim của mình là sự tương đồng nhất với vị trí của Hoa Kỳ từng đạt được trong thời hiện đại ngày nay. Khi chúng ta băn khoăn tự hỏi phải chăng và làm thế nào mà các sức mạnh của thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nước Mỹ, thật đáng để lưu ý sâu sắc đến kinh nghiệm của Đại đế quốc Anh.

Có rất nhiều sự lập lại đương thời về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của Anh Quốc. Nhưng vụ can thiệp quân sự gần đây của Hoa Kỳ vào Somalia, Afghanistan và Iraq đều tương đương với những can thiệp quân sự của Anh Quốc vào ba thập niên trước. Tình trạng tiến thoái lưỡng nan có tính căn bản chiến lược của việc trở nên một tay chơi toàn cầu thực sự trên vũ đài thế giới thật giống nhau một cách đáng ngạc nhiên. Nhưng cũng có những khác biệt căn bản giữa Anh Quốc khi ấy và Hoa Kỳ hiện nay. Ở Anh Quốc, khi đất nước này nỗ lực để duy trì vai trò siêu quyền lực của mình, thử thách lớn nhất là kinh tế chứ không phải chính trị. Còn đối với Hoa Kỳ là ngược lại.

Tầm với của Anh Quốc

Trong thế giới ngày nay, ngay cả việc tưởng tượng ra tầm vóc lớn lao của Đế quốc Anh cũng là một điều khó. Đất nước này, có tầm cao che phủ khoảng một phần tư đất đai, bao gồm một phần tư dân số của địa cầu. Mạng lưới thuộc địa, lãnh thổ, căn cứ quân sự và cửa biển của London trải dài khắp địa cầu, và đế quốc này được bảo vệ bởi Hải Quân Hoàng Gia, một lực lượng hải chiến vĩ đại nhất trong lịch sử. Trong dịp lễ Kỷ niệm Sáu mươi năm, 165 tàu chiến chở bốn mươi ngàn thủy thủ và ba ngàn súng ống được trưng bày ở Portsmouth - một lực lượng hải quân lớn chưa từng thấy. Trải qua một phần tư niên kỷ trước đó, đế quốc được nối liền bởi 170 ngàn dặm biển bởi dây cáp đại dương cùng 662 ngàn dặm cáp trên không và chôn ngầm dưới lòng đất. Các tàu bè của Anh Quốc đã từng hưởng được tiện ích của công cuộc khai triển được mạng lưới tuyền thông toàn cầu đầu tiên qua kỹ thuật điện báo. Đường hỏa xa và kênh đào (quan trọng nhất là kênh đào Suez) đã khắc đậm sâu khả năng giao tiếp của hệ thống. Thông qua tất cả những điều này, Đế Quốc Anh đã tạo nên hệ thống thị trường toàn cầu thực sự đầu tiên.

Người Mỹ thường nói về sức quyến rũ của nền văn hoá và các tư tưởng của mình nhưng “sức mạnh tinh thần” thực sự đã được khởi đi với Anh quốc trong thế kỷ thứ mười chín. Nhờ vào đế quốc của mình, tiếng Anh đã phát triển rộng rãi như một ngôn ngữ quốc tế, được dùng đến từ Caribbean đến Cairo, từ Cape Town đến Calcutta. Văn chương Anh trở nên quen thuộc ở mọi nơi chốn – Shakespear, Sherlock Holmes, Alice in the Wonderland, Tom Brown’s School days. Những câu chuyện và nhân vật Anh trở nên một phần hệ trọng trong văn hóa quốc tế hơn là của bất cứ đất nước nào khác.

Do đó, các giá trị Anh cũng thế. Sử gia Claudio Véliz đã vạch rõ rằng trong thế kỷ mười bảy, Anh Quốc và Tây Ban Nha, hai quyền lực đế quốc của thời đại, đã cùng nỗ lực xuất khẩu các tư tưởng và hiện thực của mình đến các thuộc địa Tây Phương. Tây Ban Nha muốn Công cuộc Chống Cải cách Tôn giáo (Counter-Reformation) được trở nên vững chắc ở Tân Thế Giới; Anh Quốc muốn chủ nghĩa Đa nguyên tôn giáo (religious plularism) và Tư bản được đâm chồi nẩy lộc. Kết quả là, các tư tưởng của Anh quốc đã chứng tỏ là được phổ biến hơn của Tây Ban Nha. Thực tế, các hình thái vận động và tham dự của các xã hội hiện đại đã thấm đẫm với những giá trị của đất nước kỹ nghệ đầu tiên của thế giới. Không ai có thể chối cãi rằng Anh Quốc đã là một nhà xuất khẩu thành công nhất về văn hóa của mình trong lịch sử nhân loại. Hiện nay chúng ta đang nói về Giấc Mơ Hoa Kỳ (American Dream), nhưng trước đây đã từng có một “lối sống Ăng Lê” - một lối sống đã từng được ngắm nhìn, thán phục và được bắt chước trên khắp thế giới. Thí dụ như, những ý tưởng về luật chơi công bằng, tinh thần thể thao và nghiệp dư được đề nghị từ Giáo sư Thomas Arnold, nhà giáo dục Anh nổi tiếng, hiệu trưởng trường Rugby (nơi hình thành tác phẩm Tom Brown’s School Days), đã ảnh hưởng sâu đậm đến tác giả người Pháp Baron de Courbertin - người đã tổ chức các cuộc thi Olympic hiện đại vào năm 1896. Nhà văn Ian Buruma đã diễn tả chính xác rằng Olympics chính là một thứ “hình trang đồng quê của người Anh”.

Không phải là tất cả, nhưng đa số những điều này từng được nhìn nhận hồi tháng Sáu năm 1897. Anh quốc đã khó có thể bị bỏ riêng ra trong sự so sánh giữa đế quốc của họ và La Mã. Tờ Le Figaro của Paris đã công bố rằng bản thân Rome đã “bằng, nếu không muốn nói là vượt qua được, các quyền lực cai trị và điều phối các quyền lợi của người dân ở Canada, Australia, India, vùng Atlantic và Địa Trung Hải”. Tờ Kreuz-Zeitung ở Berlin, vốn thường phản ánh quan điểm của giới ưu tú chống Anh Quốc, đã diễn tả đế quốc này như một sức mạnh “không thể tấn công được”. Ngang qua Atlantic, tờ The New York Times tràn trề bộc lộ rằng “Chúng ta là một phần, và là một phần vĩ đại, của Đế quốc Anh, vốn dường như đã mang sẵn số phần phải cai trị hành tinh này”.

Sự Suy sụp của Anh Quốc

Vị trí được tán dương của Anh Quốc thật đã mỏng manh hơn là vẻ bề ngoài của nó. Chỉ hai năm sau đợt lễ kỷ niệm sáu mươi năm, Anh Quốc dính vào cuộc chiến tranh Boer, một mối tranh chấp đã đánh dấu thời điểm bắt đầu suy sụp của quyền lực toàn cầu này, theo nhiều học giả đã đánh giá. London đã chắc rằng mình có thể dễ dàng thắng được cuộc chiến tranh này. Cuối cùng là, quân đội Anh đã vừa thắng được một trận tương tự chống lại những thầy tu Hồi giáo ở Sudan, dù đã bị đông hơn gấp hai. Trong trận Omdurman, chỉ trong 5 giờ giao tranh, Anh quốc đã gây thương tích đến 48 nghìn nhân mạng các thầy tu Hồi giáo mà chỉ tổn thất 48 binh sĩ về phần mình. Nhiều người ở Anh đã tưởng tượng rằng trận chiến với Boer sẽ còn dễ hơn như thế nữa. Nói cho cùng, như một đại biểu quốc hội đã mô tả, trận chiến với Boer chỉ là một loại “cả đế quốc Anh chống lại 30 ngàn nông dân”.

Về mặt ngoài, trận chiến là một cuộc chiến đấu vì những nguyên nhân cao cả: các quyền lợi của những người dân nói tiếng Anh của South Africa, vốn đang bị cư xử như công dân thứ hạng bởi Boers, những di dân cai trị gốc Đức, (Boer là từ ngữ tiếng Đức, tiếng Nam Phi cho từ “nông dân”). Nhưng cuộc chiến này đã không thoát khỏi sự chú ý của London rằng, sau khi khám phá ra mỏ vàng ở khu vực này vào năm 1886, Nam Phi đã sản xuất ra một phần tư lượng vàng cung cấp cho cả thế giới. Người Nam Phi đã tấn công phủ đầu trước và cuộc chiến đã mở màn vào năm 1899.

Mọi thứ đã diễn tiến tệ hại với Anh quốc ngay tự khởi đầu. Anh quốc có nhiều quân, vũ khí tốt và đã đưa vào chiến trường những tướng giỏi (gồm Lord Kitchener, người anh hùng của trận Omdurman). Nhưng phía Boers đã bảo vệ mình một cách nồng nhiệt. Am hiểu địa thế, có được sự ủng hộ của dân da trắng đồng thời áp dụng thành công được các chiến thuật du kích dựa vào tốc độ và sự lén lút. Năng lực phi thường của quân Anh không có ý nghĩa gì nhiều trên trận địa, và những vị chỉ huy Anh quốc đã dựa vào những chiến thuật dã man - đốt phá các làng mạc, lùa thường dân vào trong những khu trại tập trung (chiến thuật đầu tiên từng được áp dụng trên thế giới), chuyển thêm nhiều quân vào chiến trường. Kết quả là, Anh quốc có đến 450000 quân trong khu vực phía nam Phi châu, đánh lại một lực lượng phiến quân 45 ngàn người.

Phía Boers đã không thể cầm cự mãi mãi với quân Anh, thành ra họ đã đầu hàng vào năm 1902. Nhưng trong một ý nghĩa rộng lớn, Anh quốc đã thua cuộc. Mất 45 ngàn quân, chi tiêu nửa tỉ bảng Anh, phải dàn quân đến mức tối đa để chỉ khám phá ra sự bất lực quá lớn và thất bại trong nỗ lực tham chiến của mình. Hơn thế nữa, các chiến thuật tham chiến tàn nhẫn của họ đã tạo một hình ảnh đen tối trong cái nhìn của cả thế giới. Ở trong nước, tất cả những điều này đã tạo nên, hoặc đã phô bày ra, các chia rẽ trầm trọng về vai trò toàn cầu của Anh. Bên ngoài nước, tất cả các quyền lực lớn – Pháp, Đức, Hoa Kỳ - đều chống lại các hành vi của London. “Họ không có bạn nữa” nhà sử gia Lawrence James đã viết như thế về Anh quốc vào năm 1902.

Chuyển cảnh nhanh đến ngày nay. Một loại siêu quyền lực vô cùng mạnh mẽ khác, một quân đội bất khả đánh bại, thắng được cuộc chiến dễ dàng ở Afghanistan và đã tiếp tục trong một điều họ tưởng chắc là một cuộc chiến đơn giản tương tự khác, đó là cuộc chiến chống lại chế độ khép kín của Saddam Hussein ở Iraq. Kết quả là: một chiến thắng bước đầu bằng quân sự theo sau với một cuộc đấu tranh gian khổ, chứa chất đầy những ngớ ngẩn về chính trị, quân sự và đối diện với sự phản đối gay gắt trên trường quốc tế. Sự giống nhau là rõ ràng; Hoa Kỳ chính là Đế quốc Anh, cuộc chiến tranh ở Iraq là cuộc chiến tranh De Boer – và nhìn xa rộng ra, tương lai của Hoa Kỳ trông thật ảm đạm. Bất kể kết quả gì từ Iraq, các tổn thất thiệt hại đã là hết sức lớn lao. Hợp Chủng Quốc Hoa kỳ đã vươn xa quá tay, đã mất hướng, quân đội bị áp lực, hình ảnh của đất nước này đã bị ô uế. Những quốc gia ngỗ ngáo như Iran và Venezuela cùng những quốc gia lớn như Nga và Trung Quốc đang tận dụng sự vô ý và vận rủi của Hoa kỳ. Bản nhạc đế quốc suy tàn quen thuộc lại tự xướng lên một lần nữa. Lịch sử lại đang tái diễn.

Tuy nhiên, bất kể sự tương tự ra sao, các trường hợp cụ thể là hoàn toàn không như nhau. Anh quốc là một siêu quyền lực lạ thường. Các sử gia đã từng viết hàng trăm cuốn sách để lý giải làm thế nào mà London đã có thể theo đuổi một số chính sách ngoại giao để thay đổi được vận mạng của mình. Một số sử gia cho rằng chỉ cần London tránh khỏi được cuộc chiến tranh Boer. Một số khác cho rằng phải chi họ tránh xa Phi Châu ra. Niall Ferguson giải thích một cách khiêu khích rằng, nếu Anh Quốc đứng bên ngoài Đệ Nhất thế chiến (và có lẽ cũng sẽ chẳng có một cuộc thế chiến nếu như Anh quốc không dự phần), họ đã có thể duy trì được vị trí quyền lực vĩ đại của mình. Có một số sự thật bên trong lối lý giải này (Đệ nhất Thế chiến thực đã làm Anh quốc khánh tận), nhưng để đặt vào đúng thứ tự một cách chính trị, thật đáng phải nhìn vào lịch sử từ một góc độ khác. Đế chế bao la hùng vĩ của Anh quốc là sản phẩm của những trường hợp độc đáo. Niềm băn khoăn không phải là làm sao mà Anh quốc suy tàn mà chính là làm thế nào mà Anh quốc đã thống trị được dài lâu như họ đã từng. Hiểu được Anh Quốc đã chơi nước bài gì - nước bài đã trở nên suy nhược dần theo thời gian - sẽ giúp làm rõ được con đường trước mặt của Mỹ Quốc.

(Còn tiếp)

i. Theo Pax Britannica: Climax of an Empire của James Morris (New York: Harcourt Brace, 1980)
ii. Trích từ "An Edwardian Warning: The Unraveling of a Colosus của Karl Meyer, World Policy Journal 17, no. 4 (Winter 2000/2001) tr 47-57.
iii. Theo Empire:The Rise and Demise of the British World Order and the Lessons for Global Power của Niall Ferguson (New York: Basic Books, 2002), 268.
iv. Theo The Rise and the Fall of the British Empire của Lawrence James (New York: St. martin's Press, 1966) tr. 212
v. Theo Paul Kenedy "Why did the British Empire last so long ?" trong Strategy and Diplomacy, 1870 - 1945: Eight Studies (London:Allen & Unwin, 1984), tr. 197-218.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét