Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010

Ghé thăm các Blogs: 16/12/2010

BLOG HIỆU MINH


Trên đường từ sân bay Siem Reap về trung tâm thấy bảng quảng cáo to tướng của VN Airlines với lời hứa “Đưa du khách đến 850 kỳ quan trên thế giới”. Đất nước mình có những điểm hẹn mà hàng tỷ người trên hành tinh mong được tới như Hạ Long, Phan Thiết, đảo Phú Quốc, cố đô Hoa Lư với 99 ngọn núi.
Đến một lần liệu du khách có còn quay lại? Xin chia sẻ vài cảm giác về du lịch xứ Angkor.



Múa Apsara

Chiếc máy bay của hãng Silkair (Singapore) hạ thấp dần độ cao để hạ cánh xuống Siem Reap. Từ cửa sổ máy bay có thể nhìn thấy biển hồ Tonle Sap hiện ra như một đại dương bao la giữa đất liền của xứ chùa Tháp.

Giữa mênh mông biển cả hiện ra những đám cây lúp xúp, vài chiếc thuyền đánh cá “bé tẻo teo”, cô đơn trên mặt hồ. Từ trên mây trắng khó biết được số phận mỏng manh của ngư dân sống trên đó. Nhiều người Việt đến từ Trà Vinh, Sài Gòn, Đồng Tháp, vì cuộc sống khốn khó tại quê nhà.

Sân bay Siem Reap với nhà chờ có mái cong mang dáng dấp chùa cổ kính của vùng đất vừa xa lạ vừa thân quen, một kiểu kiến trúc pha trộn hiện đại và dân tộc tính, điểm kết nối với lịch sử của nền văn minh Angkor từ ngàn năm trước với đương đại, sau nhiều thế kỷ bị quên lãng.

Kiểm tra hộ chiếu với tốc độ 1 phút/người. Du khách có thể lấy visa khi tới sân bay với nụ cười tươi của các chiến sỹ biên phòng. Trong khách sạn, ngoài nhà hàng, người bán rong, đâu đâu cũng thấy nụ cười Khmer hiền hậu. Hỏi rất nhiều khách Tây, ai cũng nói Siem Reap “hay cười nụ” như nàng tiên Apsara.

Nếu tới Siem Reap cách đây mấy chục năm về trước, sau cuộc chiến đẫm máu, và so sánh với hôm nay, thì khó nhận ra diện mạo của thành phố đang thay đổi từng ngày.

Trên đường số 6, từ sân bay về thành phố, nhiều khách sạn và nhà cao tầng đang mọc lên. Xe túc túc, sáng tạo kiểu Khmer, là xe máy kéo một toa khách có mui che, ghế mềm cho du khách từng đôi có thể ngồi và đi dạo quanh phố với giá dưới 10$. Cách đây hai năm tôi đến đây, giá túc túc đi Angkor cả ngày là 7$. Bây giờ đã lên 12$, nếu típ thì khoảng 15$/xe. Vài năm nữa sẽ chẳng còn giá mơ ước đó nữa.


Khu du lịch Angkor

Dịch vụ mở ra như nấm sau mưa, massage truyền thống Khmer, Thái và cả Việt Nam với khoảng năm, sáu $/giờ. Có loại cá cắn chân rất thú vị. Du khách ngâm chân vào một chậu nước để cá nhỏ rỉa những phần thịt thừa trên ngón chân, kẽ chân và quanh bàn chân. Đôi chỗ cho miễn phí một chai bia khi ngồi đợi cá giúp rửa chân. Cá dùng đồ nhậu thịt thừa của bàn chân mỏi mệt sau chuyến thăm Angkor, người uống bia Angkor, há chẳng thú vị và công bằng.

Cửa hàng ăn mọc lên san sát, đủ loại từ 2$ đến 20$ một bữa, từ Á đến Âu, từ đầu bếp Trung Hoa đến kiểu ăn kiêng toàn rau của người Ấn hay đồ ăn chay của các nhà sư trong chùa. Thành phố nhộn nhịp và sống động như chính nền văn minh Angkor được đánh thức sau nhiều thế kỷ ngủ triền miên trong rừng già Siem Reap.

Hàng năm có tới 4 triệu du khách tới thăm thành phố mang đậm kiến trúc Trung Hoa xen lẫn kiểu Pháp trên những phố cổ. Mỗi du khách tiêu khoảng 500$ và nếu nhân với 4 triệu thì sẽ biết Siem Reap thu về bao nhiêu tỷ.

Sân bay Siem Reap có đường bay thẳng tới nhiều sân bay nổi tiếng trên thế giới như Seoul-Incheon, Singapore, Bangkok, Kuala Lumpur, Taiwan, Quảng Đông (Trung Quốc). Hàng năm đón hơn một triệu khách với khoảng 20 ngàn chuyến bay. Hiện đang có kế hoạch làm một sân bay khác cách trung tâm Siem Reap 60km với vốn đầu tư 1 tỷ đô la.

Trên phố ít thấy vứt rác bừa bãi. Những nơi đang xây dựng không thấy đất cát đổ lung tung, dù thành phố như một công trường đang xây dựng hối hả. Ô tô, xe máy đi lại không bấm còi inh ỏi, không ai phóng vội vã, chen lấn và xô đẩy. Đứng đợi rút tiền AMT cũng xếp hàng. Khó ai tin nếu bảo người Khmer lạc hậu hơn người Việt.

Vé vào thăm Angkor là 20$ do bác Sok Kung (nói tiếng Việt như gió) thầu. Bác này còn có hệ thống Sokimex bán xăng và nhà hàng đi kèm ở Cambodia.

Khu đền đài Angkor không thấy người bán hàng rong, kẻ hành khất, người già cả van xin du khách mua hương hoa vào chùa. Không hề thấy vỏ chai, vỏ đồ hộp hay rác thải vất bừa bãi. Khu Angkor rộng lớn bằng thành phố New York khá yên tĩnh trong khu rừng nhiệt đới mát mẻ, dù nắng nóng ở đây khá khắc nghiệt. Điểm hẹn của hành tinh là đây chăng?


Những số phận mỏng manh

Tôi đến đây lần thứ 2 và sẽ còn đến nữa nếu có dịp. Ngành du lịch xứ Khmer hiểu một nguyên tắc quan trọng trong ngành dịch vụ “vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi”, nên số lượng du lịch ngày càng đông, Siem Reap sẽ phát triển rất nhanh.

Trong du lịch hay ăn uống, khách đến một lần và sẽ đến nữa thì coi như phần thắng nắm chắc trong tay. Người quay lại thường mang theo gia đình, bạn bè, người yêu. Điểm hẹn là nơi muốn quay lại.

Chúng ta thường dùng những vĩ từ, rằng Việt Nam là điểm hẹn, nhưng thường là hẹn…một lần. Khách tới chùa chiền, di tích, quanh bờ Hồ, kể cả chùa Bái Đính mới xây cũng bị bao vây bởi đội ngũ bán hàng chèo kéo, móc túi, ăn xin. Rác thải bừa bãi, nhà hàng mất vệ sinh. Vào cửa hàng mua bán thì bị nói thách trên trời, lườm nguýt, chửi bóng gió, kể cả đốt vía.

Du lịch trọn gói đôi lúc bị lừa đảo. Hướng dẫn giới thiệu qua loa thì khó mời ai quay lại nữa, dù đất nước có đẹp đến đâu, dù cửa khẩu có câu “See you again” viết to tướng. Người ta bảo, tính không chuyên nghiệp trong du lịch phá hoại hình ảnh quốc gia và cách xâm hại nền văn hóa dễ nhất.


Phố sông cạnh Tonle Sap

Khách sạn Victoria giới thiệu tour du lịch “Sunset Boat” thăm hồ Tonle Sap với giá 33$/người, bao ăn trên thuyền và vé đi ca-nô thăm. Ô tô tới đón tại khách sạn, sau 30 phút đi mới tới cửa biển Hồ.

Anh thanh niên hướng dẫn du lịch, với tiếng Anh khá chuẩn và rõ ràng, giới thiệu về biển Hồ với một niềm say mê hiếm có. Sinh ra từ miền đất này nên anh trân trọng quê hương chăng? Hỏi ra mới biết không phải thế, anh ta đến từ Phnom Penh. Yêu nghề, yêu mảnh đất, hiểu biết về đất nước nên họ rất nhiệt tình với du khách. Khi có tâm thì mọi việc dễ dàng hơn.

Dân ta thường coi Cambodia là “chiếu dưới”. Khi nghe họ giới thiệu về Angkor với tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Trung như gió thì tôi cứ nghĩ người ta đang ngồi “chiếu trên”. Chục năm nữa thôi, với cách làm chuyên nghiệp của người Khmer thì dân tộc này sẽ nhanh hơn chúng ta nhiều. Sợ rằng, lúc đó chúng ta ngồi “chiếu dưới”, ngước nhìn váy Apsara bay phấp phới phía trên.

Ngoại thành Siem Reap còn khá nghèo. Dân chúng sống tạm bợ trên những nhà chòi cao do nước lụt ở biển Hồ lên khá lớn. Chiếc cano nổ như xe tăng T54 rời bến và tiến về phía cửa biển, cảnh tượng sông nước hiện ra như một thiên nhiên kỳ thú trong chiều tà Tonle Sap.

Những ngôi nhà nổi hai bên kênh tạo ra khu phố trên hồ. Nhiều người nghèo sống nhờ vào việc bắt cá tôm ở đây. Rất đông đến từ Việt Nam, có thuyền treo cờ đỏ sao vàng. Văng vẳng đâu đây lời tân cổ giao duyên của Nam Bộ, và cả lời hát tha thiết “quê hương là chùm khế ngọt, cho con trèo hái mỗi ngày”. Với họ, quê hương không còn chùm khế ngọt, nên phải tha phương.

Dân dùng nước hồ, tắm giặt trên hồ. Người ta băn khoăn là chất thải “gửi” đi đâu. Nước đục ngầu nên chẳng biết nữa. Liệu trong mỗi cái thuyền có hố xí tự hoại?

Hầu hết có máy phát điện riêng nên buổi tối khá tấp nập dù chỉ là trên mặt nước. Chợ nổi, trường học nổi, trai gái hò hẹn trên thuyền, nổi cơn thì thuyền tự bồng bềnh, khỏi phải mất sức. Người Việt có hotel nổi. Cạnh đó là tầu của anh cao bồi USAID có cano chuyên phân phát nước sạch cho dân chúng trên thuyền.


Kiếm tiền

Du lịch đi thăm khu đền Angkor được bảo vệ rất khá sạch sẽ và chuyên nghiệp. Khi thăm biển Hồ thì du khách hơi bị hụt hẫng bởi sự nghèo nàn, luộm thuộm. Ở đó có khá đông người Việt ta chăng, vì thấy chèo kéo, ăn xin, bán hàng vặt, thấy quen quen như ở xứ ta.

Các cháu bé bơi trên một cái chậu nhôm hay chậu nhựa, quấn ngang bụng một chú trăn bé để mồi khách du lịch. Ai chụp ảnh thì các cháu bập bẹ “one dollar”. Thấy tôi nói tiếng Việt, một cháu bảo “nhà con đói lắm, không có tiền đi học”. Cháu khác khoảng 1 tuổi trần truồng nhưng đã biết giúp mẹ kiếm đô la bằng cách quấn chú trăn gấm lên cổ cho du khách chụp ảnh.

Không ít người trong chúng ta tới đây sẽ thấy buồn vì sao người Việt ta phải tha phương ở Tonle Sap để kiếm sống. Số phận họ mỏng manh như những chiếc thuyền giữa biển lớn đầy sóng gió. Có lẽ để đưa những con người ấy lên bờ và bước sang một trang khác trong cuộc đời phải mất khá nhiều thời gian ở ngay tại miền đất này. Bao giờ quê hương thứ hai của người Việt nơi đây thành chùm khế ngọt như lời hát trong chiếc thuyền trên sông vào lúc chiều buông.

Ở Siem Reap một tuần mà tôi bỗng thấy yêu con người và miền đất nơi đây. Có lẽ vì nhiều kỷ niệm đẹp, nơi tôi đến lần trước bằng đường bộ từ Phnom Penh và lần này bằng máy bay từ Singapore. Mỗi lần cho tôi một cảm giác mới lạ, như mới yêu lần đầu.


Chiều tà Tonle Sap


Không hiểu sao, trong tôi có niềm tin là Tonle Sap và khu đền đài Angkor mãi là một điểm hẹn mà VN Airlines hứa. Du khách tới thăm và “see you again” vì mong được đến lần nữa, mỗi lần lại một khám phá mới như nền văn minh Angkor huy hoàng có từ ngàn năm trước.

Bài và ảnh: Hiệu Minh. Siem Reap 12-12-2010


BLOG DR.NIKONIAN



Chuyện thứ nhất.
Ông đã từng là một sĩ quan quân y cao cấp, và là giám đốc của một tổng y viện lớn nhất miền Trung. Sau 1975, khi đi cải tạo về, ông được “lưu dung” làm tại một bệnh viện lớn của Sài Gòn. Với khả năng chuyên môn giỏi giang, ông được đề bạt làm trưởng một khoa bệnh nặng và khó.

Người Bắc di cư, ông lịch lãm, điềm đạm và hòa nhã. Nhưng dưới mắt một chú sinh viên năm cuối, ấn tượng về ông không chỉ có thế. Trong góc của khoa bệnh mà ông phụ trách có một căn phòng nhỏ. Nơi ấy là chỗ trú ngụ nhiều năm của một thanh niên bị một chứng khá nặng, hôn mê dầm dề không biết chừng nào tỉnh. Nhà đơn chiếc, ông sắp xếp cho cô chị chừng 20 tuổi của người bệnh thập tử nhất sinh này được đem chiếc máy may cũ kỹ vào bệnh viện. Vừa may vá kiếm tiền độ nhật, vừa chăm sóc đứa em trai xấu số.

Nhưng không chỉ có thế. Sau một buổi đi buồng, ông nói với bọn sinh viên lộc ngộc chúng tôi: “Lấy vợ thì để anh giới thiệu cho cô bé ấy. Nhìn cách cô ấy chăm em, anh biết đó là một hiền thê”. Nhìn cách ông nói nghiêm túc, tôi biết con người nhân hậu ấy không đùa. Ông đã che chở, cưu mang cho chị em nhà ấy bằng sự bao dung và tình cảm của một người cha.

Chuyện thứ hai
Ông cũng là một bác sĩ quân y được “lưu dung” sau thời gian cải tạo. Khắc khổ, gầy guộc với mái tóc hoa râm. Nhưng luôn ăn mặc chỉnh chu, thanh lịch. Đi làm bằng Piaggio rất chic và là chủ nhân của một phòng mạch rất đông khách. Ông dạy chúng tôi nhiệt tình, truyền hết những hiểu biết rất uyên bác của ông về một chuyên ngành khó.

Nhưng không chỉ có thế. Sau một buổi trình bệnh án, ông đốt một điếu thuốc, trầm ngâm nói khẽ: “Tôi nhớ lại khi bằng tuổi các em, vừa mới ra trường, hiếu thắng vô cùng. Tôi kê toa vô tội vạ, rất nhiều thứ thuốc mắc tiền để chứng tỏ mình giỏi giang, gì cũng biết. Giờ này nghĩ lại, không biết bao nhiêu người nghèo đã phá sản, bán hết ruộng vườn, ly tán… vì những toa thuốc háo thắng của mình hồi đó”? Bằng sự mẫn cảm của tuổi trẻ, tôi biết là ông nói thật, không làm dáng.

Chuyện thứ ba
Một đàn anh lập dị, thoạt nhìn có vẻ ngông nghênh, ít được đồng nghiệp gần gũi. Từ miền Bắc vào sau 1975, đảng viên, anh là trưởng khoa của một bệnh viện lớn.

Lại có một đàn anh khác bệnh thập tử nhất sinh, cần máy thở để hỗ trợ hô hấp. Ngặt nỗi thời ấy máy thở là của hiếm và đang bị một bệnh nhân khác là một VIP cao cấp chiếm dụng. Đời sống thực vật của VIP này thì giới trong nghề coi như đã “xong”, chỉ chờ ngày lành tháng tốt rút máy là TV phát ngay cáo phó.

Trong lúc đó, người đàn anh kia lại cần chiếc máy thở quí giá đó từng giây để chiến đấu tìm sự sống. Vị trưởng khoa nhà ta thấy cảnh bất bằng, quát hết volume trong buổi giao ban trước mặt Ban Giám đốc: “các anh dành máy thở cho một cái xác khô, trong khi đồng nghiệp mình đang thoi thóp cần nó để thở, các anh coi thế mà được à?”

Kết cục, anh nhất quyết dành cho bằng được chiếc máy thở đó cho một bệnh nhân-đồng nghiệp còn hy vọng sống sót, từ một người bệnh khác coi như cầm chắc cái chết. Dù người ấy là VIP!



Đừng bao giờ hỏi tôi tên họ của ba con người này. Vì họ chưa bao giờ xuất hiện trên TV, báo chí để rao giảng về y đức. Họ cũng chưa bao giờ mở miệng răn dạy bọn đàn em chúng tôi lấy nửa câu về nghĩa vụ luận y khoa. Thậm chí, họ văng tục khi bị triệu đi họp về công tác triển khai y đức gì gì đó…

Món y đức thời nay, hình như là đặc quyền hay đặc sản của vài quan chức. Họ rao giảng y đức trơn tuột, thao thao bất tuyệt. Họ không hề ý thức được một điều: y đức là đạo, là nghĩa lý cao thâm khôn lường. Trông lên y đức để thấy thẹn với lòng chưa bao giờ chu toàn trọn vẹn. Biết thế để kiêng dè khi nói đến y đức sâu xa, như người ta kiêng gọi tên cha tên mẹ vì sợ phạm húy.

Ngoài các y tổ, ai trong chúng tôi có thể nhân danh bản thân để rao giảng cho các đồng nghiệp mình về y đức?

Những người thầy-đàn anh nói trên, chưa hề cao giọng về y đức. Nhưng đã hơn 20 năm, tôi vẫn nhớ đến họ như những người thầy thuốc đôn hậu, khí khái và cương trực. Vì lòng nhân hậu, mẫn cảm với những số phận không may. Vì sự trung thực, luôn biết tự vấn lương tâm nghề nghiệp. Và vì cơn “thánh nộ” rất đáng kính trọng trong một cơ chế chằng chịt thời ấy.

Nhớ lại họ, những bậc đàn anh đáng kính đó, để thấy thằng tôi còn nhỏ bé vô cùng, thưa các bạn.


BLOG QUÊ CHOA-NGUYỄN QUANG LẬP



Đã có vài ba phim truyền hình kể về thời bao cấp rồi nhưng chưa có phim nào ghi lại thật đúng thời ấy cả. Mình rất muốn làm một phim về thời bao cấp, làm thật chuẩn để mọi người nhớ lại cái thời đã qua. Nhiều chuyện bây giờ kể lại cho trẻ con chúng nó không tin, chỉ có phim kể lại may ra chúng nó mới tin.
Cái thời bao cấp cái gì cũng ngược đời, giá cả không đi kèm với giá trị. Một bát phở 5 hào trong khi một ngọn thuốc lá có lúc lên đến 1 đồng. Một chỉ vàng là 80 đồng, nếu biết kinh doanh thì chỉ cần một vườn thuốc cũng đã có vài chục cây vàng như chơi. Nhưng hồi đó không ai tính chuyện kinh doanh, kinh doanh là buôn bán, con người mới ai lại đi buôn bán. Ai nghĩ đến kinh doanh thì tự mình cũng thấy xấu hổ, chưa cần đến người khác chê cười.

Cái thời ấu trĩ kinh khủng khiếp. Nhà cửa chật chội bê tha nhưng ai cũng bám lấy cái nhà Nhà nước phân cho, ít ai nghĩ chuyện mua bán đổi chác nhà đất. Hồi ở Huế, mình mới về Sở văn hoá, được phân một cái gọi là “căn hộ” 12 mét vuông, vợ chồng con cái cứ yên tâm ở vậy cho đến khi chia tỉnh. Trong khi đó một căn hộ 28 mét vuông chỉ 1,4 cây, một cái nhà vườn cách trung tâm 3, 4 km cũng chỉ giá ấy. Đồ hàng vợ mình đi Nga về nếu bán cũng được 2 cây nhưng cả vợ lẫn chồng không hề nghĩ bán đi để mua nhà, cứ ở vậy chờ Nhà nước phân nhà mới, thế thôi.

Giải phóng miền Nam, ông bác mình xin được suất di cư sang Pháp ở. Ông bác gọi ba mình vào cho cái nhà bốn lầu ở Q.1 (tp HCM). Ba mình chẳng những không lấy lại còn trách ông bác, nói cho gì lại cho nhà, ai vô đó mà ở. Ba mình là một cán bộ cách mạng, không đời nào ông nghĩ đến lấy cái nhà đó rồi bán đi. Mua bán nhà là một cái gì rất xa lạ với ông. Đến khi ông bác bàn giao cái nhà cho Chính quyền, cho ba mình lấy đồ đạc trong nhà thì ông lại mừng húm, hí hửng khiêng khiêng dọn dọn mấy ngày mới xong, mừng như cha chết sống lại.

Mình cũng thế thôi, ngày ở lính, cả tiểu đội phát hiện một cái hang chứa đầy đồ quân trang lính Mỹ. Áo quần vải vóc hồi đó khan hiếm vô cùng, nếu khôn ngoan như bây giờ thì cái kho ấy đem bán hết cũng kiếm được cả trăm cây vàng chứ không ít. Nhưng chẳng ai nghĩ thu gom áo quần Mỹ làm gì, chỉ tranh nhau cắt dây dù đem về buộc võng. Xe hon đa 67 lính cộng hoà bỏ chạy vứt đầy sân trung đoàn, ai biết đi thì lấy đi, đi xong rồi vứt đấy, chẳng ai thèm ngó ngàng, trong khi tiền để mua một chiếc xe đạp thì nằm mơ cũng không có.
Thời này kẻ giàu có thường bị khinh rẻ, coi thường. Mình nhớ hồi học lớp 5 mình ngồi gần con B., mẹ nó là mậu dịch viên (mậu dịch viên là hot girl thời bao cấp, số sau mình sẽ kể). Con B. ăn trắng mặc trơn, rõ là đồ tiểu tư sản, trong lớp đứa nào cũng ghét. Mới tí tuổi đầu mà đi học lúc nào cũng xức nước hoa thơm lừng. Sau này mình mới biết nó thích mình, ăn cắp nước hoa cuả mẹ nó để xức. Mình đã ngồi dịch ra, nó cứ lấn tới, điên tiết mình vùng đứng dậy, nói thưa cô cho em ngồi chỗ khác. Cô hỏi sao, mình nói thưa cô bạn B. xức nước hoa khai mù em chịu không nổi. Vì chuyện đó mà từ đó cho đến lớp 10 con B. nhìn mình bằng nửa con mắt, hi hi.

Chuyện đó không ngờ đến tai thầy hiệu trưởng. Hồi đó mình tương đối nổi tiếng trong trường, không phải phải vì học giỏi mà vì “con thầy Đạng”, ba mình là thầy của rất nhiều lãnh đạo to nhỏ trong tỉnh, cũng là thầy của thầy hiệu trưởng. Chào cờ sáng thứ hai hàng tuần, thầy hiệu trưởng nói có một số học sinh còn nhỏ tuổi đã mang tư tưởng tiểu tư sản, áo quần là lượt, chải chuốt xức nước hoa rất kinh. Nước hoa là gì các em có biết không, đó là thứ của bọn ăn trên ngồi tróc chuyên đem ra để lừa bịp giai cấp công nông. Mình liếc sang con B., mặt nó cúi gằm, vô cùng sợ hãi.

Thầy hiệu trưởng còn đến nhà mình khoe với ba mình, nói thưa thầy em đã chuyển thằng Lập sang bàn khác. Ba mình hỏi sao. Thầy nói nó ngồi gần con bé hôm nào cũng xức nước hoa khai mù. Ba mình trợn mắt há mồm, nói thế à? Chà chà… nguy hiểm quá! Anh chuyển đi là phải. Năm lớp 7 mình đạt giải cả văn lẫn toán học sinh giỏi tỉnh, ba mình mừng lắm, ôm lấy thầy hiệu trưởng, nói công anh lớn quá, gia đình tôi ơn anh lắm lắm. Thầy hiệu trưởng mới khiêm tốn nói thưa thầy, nhờ thầy rèn cặp em Lập đó. Ba mình lắc đầu xua tay, nói không không, nếu anh không chuyển thằng Lập tránh xa con bé tiểu tư sản kia thì làm sao nó có thành tích như thế được. Hi hi chết cười.

Cái thời gíàu có là xấu xa nhiều chuyện cười ra nước mắt. Ai cũng thích giàu nhưng hết thảy đều ra vẻ coi khinh lũ giàu có. Nhà nào kha khá một chút đều chẳng dám phô ra ngoài, đặc biệt nhà cán bộ có chức có quyền một chút thì phải hết sức giữ gìn, làm con gà ăn cũng phải lén lút, giấu tiếng bịt hơi, sợ nhỡ may hàng xóm biết được thì bỏ mẹ. Người nghèo nếu có mổ heo cũng chả việc gì nhưng nếu là cán bộ có chức có quyền thì chỉ một bữa cá rán cũng đã thành vấn đề. Mình nhớ hồi mình học lớp 2, ba mình có khách trong tỉnh ra chơi, ông mổ gà đãi bạn. Ông sai mình ra ngoài ngõ đứng canh, rồi nhét con gà vào bao tải nhúng nước cho đến chết, không dám cắt tiết, sợ nó kêu. Khi ông luộc hay rán gà, mình phải chạy quanh vườn ngửi xem mùi có bay ra ngoài không. Khi ngửi thấy mùi thơm thì lật đật chạy vào, nói ba ơi thơm rồi thơm rồi. Ba mình lập tức lấy cái chăn trùm kín nồi. Đến khổ.

Cán bộ đi làm chủ yếu dựa vào đồng lương, ai muốn kiếm thêm cũng phải giấu diếm, nếu lộ ra nhất định sẽ bị kiểm điểm lập trường không vững vàng, tư tưởng không ổn định, chân trong chân ngoài. Ít ai sống đủ bằng lương, thường thì đến nửa tháng là sạch bách. Khi đó phải tính chuyện bán cái gì đó để sống tiếp nửa tháng còn lại, đa phần chẳng biết bán gì ngoài việc đem tem phiếu tiêu chuẩn đi bán. Phiếu vải đem bán đầu tiên, sau đến phiếu thực phẩm. Chỉ cần có đủ gạo ngày hai bữa là xong, ăn gì chẳng được, mặc gì chả xong. Thời đó nhiều người chỉ có một bộ áo quần tươm tất, gọi là áo quần đi làm, ngày mặc đi làm, tối về giặt là phơi khô ngày mai lại mặc đi làm tiếp.

Mình ở khu chung cư 24 Lê Lợi- Huế, cạnh nhà thằng Thịnh (Nguyễn Thế Thịnh) và anh T. Anh T. làm cùng sở với mình, anh hiền lành nhu mì, suốt ngay có khi không nói được một tiếng. Anh ở với thằng con trai trong cái phòng nhỏ hẹp như phòng mình. Cứ mỗi kì lĩnh lương, anh chia lương ra 30 phần bằng nhau, lấy dây chun cột thành 30 “bó” nhỏ, cất kín vào tủ. Mỗi ngày anh đem một “ bó” tiền ra tiêu, chỉ tiêu đúng “ bó” ấy thôi, thiếu thì nhịn, kiên quyết không chi lạm sang “bó” khác. Ngày nào có khách, anh buộc phải chi thêm “ bó” khác thì ngày sau hoặc anh xách xe đi “thăm” nhà bà con, bạn bè kiếm bữa cơm, họăc anh nằm co nghiến răng nhịn đói.

Năm 1988, Đảng phát động công cuộc Đổi mới, anh em họp chi bộ phê phán cơ chế bao cấp rất hăng, anh T. vẫn ngồi yên không nói gì. Đến khi anh em tranh nhau phê phán hăng quá, anh dơ tay, nói tui có ý kiến. Anh đứng dậy mếu máo, nói các đồng chí nói chi thì nói, không được nói xấu chế độ. Nói xong anh đứng khóc oà như trẻ nhỏ. He he

BLOG BÙI TÍN
Những kẻ vắng mặt bị chỉ mặt
http://www.voanews.com/vietnamese/news/a-vang-mat-chi-mat-12-11-2010-111716614.html

Thật ra chỉ có 16 nước từ chối đến Oslo dự lễ. Điểm mặt, phần lớn là những nước độc đoán, dị ứng nặng với nhân quyền, nhẵn mặt với thế giới. Đó là Iran, Irak, Ảrập Xê út, là Sudan, là Afganixtan, Kazháctan, là Venezuela, là Serbia, là Tunisia và Maroc ở Bắc Phi, và tất nhiên là còn Cu Ba và Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và có nước Nga, có tật giật mình, từng phản đối việc tặng giải Nobel Hòa bình cho nhà vật lý hạt nhân Andrei Sakharov hồi 1975, lúc ấy ông Sakharov cũng bị tù, bà vợ Élenna đang ở Mỹ đến nhận thay chồng. Thật là đẹp mặt cho16 kẻ vắng mặt, càng bị vạch bộ mặt không sạch sẽ về nhân quyền.


Hình: AP

Chiếc ghế danh dự bỏ trống được trang trọng đặt tấm Bằng tặng thưởng lớn với tên ông Lưu Hiểu Ba, kèm theo là lời tuyên bố của Chủ tịch Giải Nobel Th. Jagland: ‘chính vì ông Lưu bị cấm đến đây mà việc trao tặng ông giải Nobel Hòa bình càng là cần thiết’

Ngày 10 tháng 12 vừa qua, đúng vào ngày kỷ niệm 62 năm Ngày công bố bản Tuyên ngôn Nhân quyền 10 tháng 12 năm 1948, tại thủ đô Oslo của Na Uy đã diễn ra lễ trao giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2010.
Nhà đấu tranh bất khuất cho Nhân quyền Lưu Hiểu Ba là nhân vật chính trong buổi lễ đã không thể có mặt vì đang ngồi tù với bản án 11 năm với tội danh ‘âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân’. Vợ ông cũng không được sang Na Uy nhận giải thay mặt chồng vì bà đang bị quản thúc. Nhà bà bị công an bao vây suốt mấy ngày nay.
Có nhiều nước được mời sang Na Uy dự lễ đã công khai từ chối, cố tình lẩn tránh sự có mặt. Chính những kẻ này đã được công luận thế giới điểm rõ mặt nhất, chỉ thẳng vào mặt mấy ngày nay.

Đó trước hết là bộ mặt giận dữ, trâng tráo, hàm hồ của chính quyền độc đảng Bắc Kinh. Họ cay cú gọi những người xét giải Nobel là ‘những tên hề’ – ‘the clowns’ . Trước đó họ hăm dọa, ngăn cản chính phủ Na Uy không nên để cho Ủy ban Nobel chọn ông Lưu Hiểu Ba, vì đó là một tên tù hình sự có tội. Họ không hiểu rằng ở một nước dân chủ các tổ chức xã hội luôn độc lập với chính quyền.

Việc họ quản thúc bà vợ ông Lưu, ngăn cản bà xuất ngoại, còn bao vây nhà bà, tra hỏi, cấm cản bạn bè đến chúc mừng, thăm hỏi là thái độ gấp ba lần thấp hèn. Thấp hèn thứ tư nữa là họ cấm không cho báo đài trong nước nói đến việc ông Lưu được thưởng. Thấp hèn thứ 5 là họ lập tường lửa từ giữa tháng 11, mọi thư từ Lưu và Hiểu trên mạng đều bị ngăn chặn, cả tin đó bị xóa bỏ. Thấp hèn thứ 6 là họ vội phịa ra ‘Giải thưởng Khổng Tử’ (!) cũng phát giải vào tháng 12 này nhằm đánh lạc hướng, nhưng thật vô duyên, chẳng có ai để ý.
Trò hề thứ 7 của họ mới vô duyên thậm. Đó là kêu gào toàn thế giới tẩy chay, qua miệng lưỡi uốn éo của bà phát ngôn Khương Du, dám khẳng định là đa số nước trên thế giới tẩy chay ‘trò hề Oslo’, và ‘mọi nước có chủ quyền quốc gia đều khước từ lời mời đến Oslo’. Bà ta còn dở trò dậm dọa, cong cớn: ‘nước nào đến dự sẽ hứng chịu những hậu quả’.

Thật ra chỉ có 16 nước từ chối đến Oslo dự lễ. Điểm mặt, phần lớn là những nước độc đoán, dị ứng nặng với nhân quyền, nhẵn mặt với thế giới. Đó là Iran, Irak, Ảrập Xê út, là Sudan, là Afganixtan, Kazháctan, là Venezuela, là Serbia, là Tunisia và Maroc ở Bắc Phi, và tất nhiên là còn Cu Ba và Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Và có nước Nga, có tật giật mình, từng phản đối việc tặng giải Nobel Hòa bình cho nhà vật lý hạt nhân Andrei Sakharov hồi 1975, lúc ấy ông Sakharov cũng bị tù, bà vợ Élenna đang ở Mỹ đến nhận thay chồng. Thật là đẹp mặt cho 16 kẻ vắng mặt, càng bị vạch bộ mặt không sạch sẽ về nhân quyền.
Đáng chú ý là lúc đầu có tên của Philippin trong danh sách không đẹp đẽ này, nhưng vào ngày 8-12, Manilla cải chính là không có thái độ như thế.

Cuối tháng 10, báo chí Bắc Kinh hý hửng loan tin buổi lễ trao giải Nobel năm nay bị hủy vì không biết sẽ trao cho ai nhận. Nay họ bị tẽn tò to. Lễ càng thêm hấp dẫn, đang truyền đến triệu triệu ngưòi xem tivi, đọc báo, nghe truyền thanh khắp 5 châu 4 biển, hình trên chiếc ghế danh dự bỏ trống được trang trọng đặt tấm Bằng tặng thưởng lớn in nhiều màu với tên ông Lưu Hiểu Ba, kèm theo là lời tuyên bố của Chủ tịch Giải Nobel Th. Jagland: ‘chính vì ông Lưu bị cấm đến đây mà việc trao tặng ông giải Nobel Hòa bình càng là cần thiết’.

Nhân dịp này, báo chí quốc tế lại chỉ mặt 4 nước đã từng không cho công dân nước mình đến đây nhận giải, đó là nước Đức Quốc Xã, nước Liên Xô cộng sản, nước Miến Điện độc tài quân phiệt và nay là Trung Quốc độc đảng. Cũng đẹp mặt!

Bộ mặt của chính quyền độc đảng Việt Nam trong sự kiện quốc tế nổi bật này cũng thật đáng buồn. Trước đó, sự kiện bà Aung San Suu Kyi – Nobel Hòa bình được tự do cũng không mảy may được cho dân biết trên báo và đài. Vẫn là cái trò bịt tai, bịt mắt nhân dân trong thời buổi truyền thông nhanh nhậy. Thế mà gọi là quyền được thông tin của người dân! Sự kiện Lưu Hiểu Ba cũng vậy. Vẫn phải theo lệnh Bắc Kinh. Thật khốn khổ, khốn nạn cho Ban Tuyên huấn và Bộ thông tin truyền thông. Mà giải thích ra sao? Vì ông Lưu là một tội phạm hình sự, âm mưu lật đổ chính quyền! Thì cũng như anh Điếu Cày, như chị Lê Thị Công Nhân… âm mưu lật đổ chính quyền, dù cho họ chẳng có tấc sắt. Nhưng người dân vẫn biết, biết rõ, biết đầy đủ, vì càng cấm càng gợi tò mò, vẫn theo câu châm ngôn dân dã:
Những người đảng ghét, dân yêu
Ngẫm ra không ít bậc ‘Siêu anh tài’
Những người đảng đến vỗ vai
Xem ra phần lớn là loài bất nhân…

Đảng đàn em ghét ông Lưu Hiểu Ba vì đảng đàn anh dạy thế. Do đó mà Việt Nam không có mặt ở Oslo với thế giới để chia vui với cả loài người tiến bộ, chuộng tự do, yêu dân chủ, để Việt Nam vì vắng mặt nên càng bị lộ mặt không sạch sẽ, bị chỉ mặt vi phạm nhân quyền với chính dân mình, đồng bào mình, giống Trung Quốc như đúc vậy.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét