Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

12 năm nhìn lại: Việt Nam có nên ký lại hiệp ước về biên giới với Trung Quốc

Trương Nhân Tuấn

(Tiếp theo và hết)

Việc nghiêm trọng và tệ hại nhất đã xảy ra làm thay đổi đường biên giới, qua các hồ sơ tìm thấy, là do việc nhiều cột mốc biên giới không còn ở đúng vị trí ban đầu (sẽ nói ở dưới). Hồ sơ lưu lại không tìm thấy những dấu vết điều chỉnh lại vị trí các cột mốc đã dời đi. Điều nầy có nghĩa là các Công Ước về biên giới 1887, 1895 không những không được tôn trọng mà còn vi phạm nặng nề.

Ðồ tuyến bên giới Quảng Ðông, sau 10 năm cắm mốc, kiểm soát lại thì nhân viên sở Ðịa Dư Ðông Dương (nói trong báo cáo mật ghi trên) có kết luận :
« Si maintenant l’on compare le document de 1893 au 1/100.000 à la carte régulière à la même échelle faite 10 ou 11 ans plus tard, on constate que les deux documents ne sont pas superposable. Ceci n’est pas surprenant, mais ce qui l’est, c’est que le tracé de la frontière et l’emplacement des bornes ne concorde pas toujours. On a aucun moyen d’expliquer ces différences. »


Tạm dịch : « Nếu người ta so sánh bản đồ 1/100.000 vẽ năm 1893 với bản đồ cùng tỉ lệ 10 hay 11 năm sau thì thấy rằng hai bản đồ đó không chồng lên được với nhau. Việc nầy không lạ nhưng việc đáng ngạc nhiên là vị trí cột mốc thì không còn trùng hợp. Người ta không có phương tiện nào để làm sáng tỏ việc này ».

Vùng biên giới Quảng Tây, những nhân viên sở SGI cũng nhìn thấy khuyết điểm của biên bản cắm mốc của Ðại Tá Galliéni. Phần Ðông Quảng Tây, các cột mốc thiếu phần ghi chú vị trí vì lý do biên bản của ông Frandin đã không tìm thấy. Nhưng thật ra, biên bản của Frandin đã được tác giả tìm thấy và có chụp hình đăng lại ở chương 3. Ngày 15 đến ngày 30 tháng 6 năm 1914, trong dịp kiểm soát các cột mốc vùng Lạng Sơn , nhân viên kiểm soát có bản báo cáo về vị trí các cột mốc như sau :
4 cột mốc ghi trên bản đồ nhưng không thấy trên thực địa.
6 cột mốc có trên thực địa nhưng không có trên bản đồ.
7 cột ở đúng vị trí trên bản đồ nhưng không đúng số đã ghi.
21 cột mốc chính xác.
5 cột mốc không ghi số đã tìm thấy. Có lẽ các cột mốc nầy hiện hữu trước năm 1886 (tức các mốc lịch sử đã được hai bên Việt-Trung cắm).

Vùng biên giới Vân Nam, từ Sông Hồng đến biên giới Quảng Tây thì được phân giới và cắm mốc rõ ràng, nhưng phía hữu ngạn sông Hồng thì hoàn toàn mù mờ. Từ sông Hồng đến sông Ðà thuộc đoạn thứ 5, không cắm mốc nào. Ðoạn nầy chỉ được phân định năm 1887 trên bản đồ bằng những đường nối các điểm mà các điểm nầy chưa chắc đã hiện hữu.

Xin ghi lại một đoạn trích trích tài liệu « Historique d’apres le rapport de M. DUREAU de VAULCOMTE, député, fait au nom de la Commission parlementaire chargée d’examiner la convention du 26 juin 1887 relative à la frontière - Câu chuyện qua tờ trình của ông Dân Biểu DUREAU de VAULCOMTE, thực hiện nhân danh Ủy Ban Quốc Hội khảo xét Công Ước biên giới ngày 26 tháng 6 năm 1887 :
« Nous possedons une feuille d’une de ces cartes, plus exactement une reproduction d’une copie conforme. On y trouve les indications suivantes: Cinquieme section de la frontiere. Echelle 1/24000. Signe: Constans, Prince King Soung.
Les seuls noms identifiables sont: Riviere Noire, Lai-Chau, Phong To; tous les autres sont chinois; il s’agit donc bien d’une carte chinoise. La frontiere est marquee d’un trait ponctue de lettres A a E; elle correspond exactement au descriptif de la convention. Cette carte n’est qu’un croquis tres mal dessine, etabli de chic, sans mesures faites sur le terrain. Elle ne ressemble que de tres loin a la carte reguliere faite ulterieurement. Sauf au depart du Fleuve Rouge, la frontiere tracee sur ce croquis n’a aucun rapport avec la frontiere actuelle. C’est celle du Vice-Roi.
En somme, deux ans apres la signature du traite de paix, on avait tout juste reconnu 120 kilometres de frontiere; tout le reste, plus de 1,000 kilometres figurait sur des cartes fantaisistes. La Convention n’etait pratiquement qu’un chiffon de papier et tout restait a faire.


Tạm dịch như sau : « Chúng tôi có một tấm trong nhiều tấm bản đồ đó, đúng hơn là một bản sao y bản chánh. Ta thấy trong đó những dấu hiệu sau đây : Vùng thứ 5 của đường biên giới. Tỉ lệ 1/24.000. Ký tên Constans, Prince King Soung.

Các tên nhận diện được là: Sông Đà, Lai Châu, Phong Thổ; tất cả những tên khác là chữ Tàu; như vậy đúng đây là một bản đồ của Tàu. Đường biên giới được vạch bằng một đường nối các chữ A đến E . Phù hợp hoàn toàn với các điểm mô tả trong công ước. Tấm bản đồ này chỉ là một sơ đồ vẽ rất sai, lập nên do sự khéo tay, không hề dựa lên những đo đạc trên thực địa. Nó không giống một tí nào bản đồ thông thường vẽ sau này. Ngoại trừ khởi điểm của sông Hồng, đường biên giới vẽ trên sơ đồ này không có một tương quan nào với đường biên giới hiện nay. Đây là bản đồ của Tổng Đốc (Vân Nam).

Kết cuộc, hai năm sau khi ký hiệp ước hòa bình, người ta chỉ biết có 120 Km đường biên giới; phần còn lại, hơn 1.200 Km vẽ trên các bản đồ vô căn cứ. Công ước trên thực tế chỉ là một mảnh giấy vụn và tất cả đều phải làm lại. »


Hình trên : Bản đồ phân định 1887 vùng biên giới Vân Nam.

Nhờ báo cáo này mà đường biên giới được phân định lại một cách cẩn thận hơn.

Ðoạn 5 được phân định lại năm 1895 (xem chương 4) và toàn vùng biên giới nầy chỉ cắm có 4 cột mốc.
Một bản tường trình khác, cũng của nhân viên SGI, ghi :
« En face d’une Chine anarchique et impuissante tout specialement en 1900 (Boxers – siège des légations, etc.) des initiatives individuelles de Chefs de Postes ou de leurs administres avaient beau jeu. Peut-être pourrait-on leur attribuer cette pérégrination des bornes qui s’étend presque à la totalité de la frontière du Kouang Si – de nôtre côte Province à Lang Son et deuxième territoire militaire. Toutefois cette explication entraine un nouveau mystère: quelle peut être la raison de ces pérégrination (sic)? En principe ce nouveau système d’abornement devrait constituer une amélioration du premier. Or l’examen des cartes montre qu’il n’en est rien. Par example au Nord de Chi-Ma, la commission Gallieni avait placé la borne 40 dans un col au bord d’une piste; les bornes 39 et 41 l’encadraient a environ trois kilomètres. Sur le 1/100.000, vérifié en 1914, ces deux bornes se sont rapprochées a 100m de la borne 40 et le No. 42 en est a 600m, de sorte qu’entre 42 et 43, il y a un trou de pres de 10 km d’une frontière très sinueuse. »

Tạm dịch như sau : « Đối diện với một nước Trung Hoa hỗn loạn và bất lực , đặc biệt vào năm 1900 (vụ Boxers tức khởi nghĩa Nghĩa Hòa Ðoàn, bao vây sứ quán v.v.. ) những hành động cá nhân của các trưởng trạm hay của các nhân viên thì rất tự-tiện. Người ta có thể qui trách cho họ về việc "viễn-du" của các cột mốc, trải dài hết cả biên giới Quảng Tây, từ bờ biển cho đến Lạng Sơn, qua vùng 2 Quân-Sự . Nhưng sự giải thích nầy đem đến một bí ẩn mới: Lý do nào dẫn đến việc viễn du (sic) nầy ? Thông thường thì việc phân giới và cắm mốc lần sau cùng sẽ bổ khuyết cho lần phân giới trước. Nhưng khi khảo sát bản đồ thì việc nầy không đúng. Thí dụ phía bắc Chí Mã, phái đoàn Gallieni đã cắm cột mốc số 40 trên một cái đèo, bên lề một đường mòn; các cột số 39 và 41 bao bọc cột này cách khoảng 3 Km. Trên bản đồ 1/100.000, kiểm lại năm 1914, hai cột nầy xít lại cột 40 khoảng 100 m và cột số 42 khoảng 600m, kết quả là giữa hai cột 42 và 43, có một lỗ hổng 10 Km trên một đường biên giới ngoằn ngoèo ».

Như thế, ta thấy từ vùng Lạng Sơn ra đến biển, hầu như toàn bộ cột mốc đã bị thay đổi vị trí từ những năm 1900.

Mặc khác, theo những biên bản ghi lại vị trí các cột mốc, một số lớn đã không xác định rõ rệt. Một vài thí dụ :
Cột số 1 : giao điểm giữa sông Thiên Hà với con đường từ Cúc Phương đến Lão Ao Trang, dưới chân một cụm núi chắn ngang.
Cột số 2 : trên đường từ Long Ba Mỹ (龍波美) đến Bạch Thạch Nhai (白石崖).
Cột số 3 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Giáp Mã Thạch (夾馬石).
Cột số 4 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Tân Trại (新寨)..
Cột số 5 : đường từ Nam Trại đến Thủy Ðối Phòng (水碓防).
Cột số 6 : đường từ Thiên Hà Trại (千河寨) đến Thủy Ðối Phòng.
Cột số 7 : đường từ Tân Trại đến Tân Ðiếm (新店), ở gần Ðộc Mộc Kiều (獨木橋).
Cột số 8 : đường từ (Mãnh Khang) Mường Khương (猛康) đến Tien Tang.

Ðây là những mốc tiêu biểu được cắm trên đoạn thứ 1 thuộc biên giới Vân-Nam , nguyên bản tiếng Pháp và Hoa. Ta thấy những mốc số 2, 5,6, 8 không được mô tả chính xác. Thí dụ, « trên đường từ Nam Trại đến Tân Trại », nhưng không nói rõ cột mốc cách Tân Trại hay Nam Trại là bao nhiêu ? Ta thấy rất nhiều cột mốc được ghi chú như vậy. Như thế, giả sử có một cột mốc bị dời đi , nay khám phá ra, chính phủ hai bên làm thủ tục cắm lại. Trường hợp như vậy phải cắm ở đâu, lấy thí dụ trên, phải cắm ở đâu trên đường từ Nam Trại đến Tân Trại ?

Xin ghi tiếp phần kết luận bản tường trình của sở Địa Dư Đông Dương thực hiện năm 1948 ghi trên. Hồ sơ nầy vẫn còn được CAOM xếp vào loại mật. Có nghĩa là người nghiên cứu được quyền công bố chi tiết nhưng không được tiết lộ tên người liên hệ viết trong tài liệu:
« La construction, si l’on peut dire, de la frontiere entre l’Indochine et la Chine a demande douze ans d’efforts.
De ce travail que rest-t-il? Des bornes placees sur le terrain d’une part et sur la carte au 1/100,000 d’autre part. Il faut remarquer toutefois que la carte au 1/100,000 s’arrete avant le Mekong, laissant en blanc environ 150 kilometres de frontiere. En outre, la reconnaissance de 1914 a montre qu’entre la carte et les bornes la concordance n’etait pas absolue; comme il semble bien que cette reconnaissance ait ete isolee – et elle a ete faite il y a plus de 24 ans – on peut se demander dans quelle proportion cette concordance existe aujourd’hui.
En la matiere, la carte au 1/100,000 est insuffisante. Sans meme parler des erreurs qu’ont pu commettre des topographes debutants dans le leve du terrain, la precision du 1/100,000 est en planimetrie de 15 a 20m; la carte ne pourrait donc deceler eventuellement que des deplacements de borne d’assez grande amplitude.
….
Une autre question peut-etre posee: les bornes ont-elles ete placees judicieusement? N’y en a-t-il pas trop a certains endroits et pas assez a d’autres? L’examen de la carte au 1/100,000 donne la reponse. Il est indeniable que nombre de bornes sont parfaitement inutiles tandis que certains points qui appellent une borne en sont depourvus. Une revision de l’abornement serait donc justifiee. C’est bien entendu une vue d’avenir assez lointain. »


Tạm dịch như sau : Sự xây dựng, nếu ta có thể gọi thế, đường biên giới Việt Trung đã đòi hỏi 12 năm nỗ lực.

Công trình nầy còn lại gì ? Các cột mốc được cắm một mặt trên thực địa và mặt khác được ghi trên bản đồ 1/100.000. Phải nhấn mạnh rằng, bản đồ 1/100.000 ngừng lại trước sông Mékong, bỏ một khoảng trống khoảng 150 Km biên giới. Mặt khác, một cuộc thám sát vào năm 1914 cho thấy rằng sự phù hợp (về vị-trí) giữa bản đồ và các cột mốc thì không tuyệt đối. Chắc rằng việc thám sát nầy là duy nhất – và nó đã làm từ 24 năm qua – người ta tự hỏi với sai số nào cho vị trí (giữa cột mốc ghi trên bản đồ và cột mốc trên thực địa) đó hiện hữu hôm nay.

Theo chuyên môn thì bản đồ 1/100.000 không đủ chính xác. Không nói đến những sai lầm có thể phạm phải của các trắc địa viên mới vào nghề trong lúc đo đạc, sự chính xác của 1/100.000 trắc diện là từ 15 đến 20 m. Bản đồ vì vậy chỉ có thể phát hiện khi khoảng cách dời cột mốc tương đối lớn.



Một câu hỏi khác có thể đặt ra : Các cột mốc đã được cắm một cách hợp lý ? Phải chăng có chỗ thì nhiều, có chỗ thì không đủ ? Khảo sát bản-đồ 1/100.000 sẽ có câu trả lời. Không thể chối cãi rằng số lượng cột mốc thì thực sự vô dụng, trong lúc nhiều nơi cần đến thì không có. Một sự xét lại việc phân giới cắm mốc sẽ là chính đáng. Nhưng chắc chắn là trong một tương lai khá xa. »

Ta thấy rằng có ba nguyên nhân chính đưa đến việc vị trí các cột mốc bị đặt vấn đề : Kỹ thuật cắm mốc, sự thiếu chính xác của biên bản cắm mốc và sự thiếu quan tâm của chính quyền. Nhưng nội dung tổng quát đường biên giới Việt Trung theo Công Ước 1877 và 1895 chưa thấy bị đặt thành vấn đề. Viên chức viết bản tường trình nầy cho rằng : « Une revision de l’abornement serait donc justifiée ». Một cuộc kiểm soát lại việc phân giới (tức việc cắm mốc) sẽ là việc chính đáng.

Có cần phân định lại đường biên giới Việt Trung hay không ? Ý kiến của người Pháp trước đây ghi lại cho thấy việc nầy không cần thiết. Nhưng việc kiểm soát lại các cột mốc và điều chỉnh cho thích hợp vị trí của nó theo Công Ước 1887-1995 là việc phải làm.

Đường biên giới Việt-Trung, nói như Charles Fourniau, Giáo Sư (quá cố) viện Đại Học Aix-En-Provence, chuyên gia về Việt Nam, là « một thực tế đã bắt rễ sâu xa » giữa hai dân tộc Việt và Hán.

Ý kiến của viên chức sở Địa Dư Đông Dương : biên giới Việt Trung trên đất liền nên được phân giới lại. Ðây là một đề nghị hữu-lý. Các cột mốc đã bị dời đi phải được đem trở về vị trí cũ của nó.

Vấn đề là biên giới Việt Trung phân giới lại như thế nào để ít thiệt hại nhất cho Việt Nam ? Xin trích ý của nhà bác học Lê Quí Ðôn, viết trong Kiến Văn Tiểu Lục : Hiểu biết tường tận về đất nước là yếu tố quan trọng nhất để giữ nước.

Nghiên cứu nội dung hai hiệp ước tháng 12 năm 1999 phân định biên giới trên đất liền và hiệp ước tháng 12 năm 2000, ta thấy đường biên giới đã có nhiều thay đổi. Ðó là những đoạn tương ứng với câu văn trong hiệp ước « đường biên giới theo đường đỏ ». Trong vịnh Bắc Việt thì có những thiệt hại đáng kể (xem chương 5).

Theo những người trách nhiệm việc phân định biên giới của Việt Nam thì vịnh Bắc Việt chưa được phân định nên nay phải phân định và đây là một thắng lợi cho Việt Nam . Trong chương 5 người viết đã đưa ra nhiều dữ kiện lịch sử và pháp lý, chứng minh rõ ràng là vịnh Bắc Việt đã được phân định theo Công Ước 1887.
Nhưng vấn đề quan trọng và nó có thể gây bất mãn trong mọi tầng lớp dân chúng là việc phân định lại vịnh Bắc Việt năm 2000 đã không đặt trên căn bản công bằng theo luật Biển 1982. Việt Nam bị thiệt hại trên mọi điểm.

Lẽ ra, nếu hai nước cùng đồng ý đặt lại vấn đề biên giới, như Trung Hoa và Việt Nam cùng đồng ý phủ nhận công ước 1887 để phân định lại vịnh Bắc Việt và biên giới trên đất liền, việc công bằng là phải đặt tất cả những vấn đề về biên giới liên quan đến công-ước 1887. Có nghĩa là phải đặt lại vấn đề vùng đất Tụ Long, đất Ðèo Lương, đất Kiến Duyên và Bát Tràng, vùng mũi Bạch Long cuối cùng là vịnh Bắc Việt. Việt Nam có thể nhượng bộ ở Vịnh Bắc-Việt (như hiệp ước 2000), vì theo công ước 1887 Trung Hoa bị thiệt. Ngược lại, Trung Hoa phải phải nhượng bộ ở các vùng đất liên hệ ở biên giới, vì theo công-ước 1887 Việt Nam bị thiệt.

Nhưng thực tế đã không như thế. Trung Quốc đã đạt được tất cả những gì họ muốn, trên biển cũng như trên đất liền (xem chương 8). Việt Nam bị thiệt hại mọi nơi, trên biển cũng như trên đất liền. Hiệp Ước Phân Ðịnh Biên Giới Trên Ðất Liền ký ngày 30 tháng 12 năm 1999 và Hiệp Ước Phân Ðịnh Lãnh Hải Trong Vịnh Bắc Bộ ký ngày 31 tháng 12 năm 2000 vì vậy đều là những hiệp ước bất bình đẳng.

Trương Nhân Tuấn
(Trích từ chương 7 cuốn « Biên Giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành hình và những tranh chấp ».)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét