Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2010

XÓM CẦU NGANG

Hòa Đa

(Tiếp theo và hết)

Thằng hai con chín Ðẹt mang tiền trên bàn thờ xuống:
- Thầy Năm ghi giùm: sui cô Bảy hai trăm, sui bác Ba hai trăm, ba chồng con tư ba trăm... cứ ghi như vậy tía tui biết hà.

Bên ngoài bắt đầu lao xao mời chào, tiếng hai Phang:
- Dạ, mời chú tư ngồi vô bàn này cho đủ người! Dạ, chú về sao được, tới cúng ông Tư rồi, cũng phải uống ly rượu lạt với gia đình cho phải phép...

... Cứ như vậy, người nào tới lúc trời kêu cứ đi, kẻ còn lại vẫn cứ nếp cũ mà sống. Có người uống vài hớp rượu gắp vài món ăn cho phải lễ rồi xin kiếu, cũng có người mượn rượu gia chủ để miệt mài thỏa mãn. Có lần hai Phang buông thỏng “... hèn chi có người gọi đi phúng điếu đám ma là đi chia thịt!”

Xong đám, hôm cúng thất cho ông Tư, nghe bà con nói, ông Tư chết như vậy là ấm cúng, trong xóm ai cũng tới cúng, mấy người quen biết ở xóm Ðình, Ngọn Miễu cũng đến. Tiền phúng điếu, sau khi trừ hết mọi chi phí, chín Ðẹt còn “lời” hơn năm ngàn. Tư Em nói với tôi qua hơi rượu:
- Thầy Năm biết hông? không phải ai cũng được vậy đâu, hồi nẳm thầy chưa về; trong xóm, có ông hai Tổng chết. Nhà giàu quá, thằng con làm phách nói: “Lo gì! mỡ trôi tới đâu, lòng tong theo tới đó” dân trong xóm nghe được, không thèm tới! Chỉ có đám tá điền sợ mất ruộng, đến cúng cho có mặt, báo hại con bò, con heo gần một tạ với hơn chục gà vịt chết theo ổng lãng nhách. Sau mấy ngày, thằng con phải năn nỉ ông Năm thợ mộc hồi đó làm trùm trong xóm, đem khay trầu rượu xuống Xóm Ðình năn nỉ đám “dưng quan” xuống khiêng quan tài, mà ở bển nghe bên này không làm cũng phải cử người vô xin phép trước. Sau đó đám con cháu hai Tổng hết dám làm phách với dân trong xóm, nhưng câu nói “mỡ trôi tới đâu, lòng tong theo tới đó” còn hoài.

3

Ðám cúng thất cho ông Tư xong hôm trước, hôm sau cậu năm Côi dựng nhà. Cả đời gom góp, gần sáu mươi, cậu mới dựng được căn nhà có phần bề thế đó. Cậu năm về cặm dùi ở đây từ hơn ba mươi năm nay. Hồi đó chỉ có vài nóc gia, ruộng thì minh mông mà ở đâu cũng có chủ, phải mướn lại qua trung gian của tằng khạo. Ăn ít làm nhiều, ky cóp mua lại được mấy công đất cạnh bờ kinh, móc mương lên liếp lập vườn... Tính ra hơn hai mươi năm cậu mới đủ tiền đổ móng cuốn nền, lót gạch bông, tới đó hết vốn đành cất tạm căn nhà lá trên nền gạch bông, tuy coi khá hơn mấy nhà chung quanh nhưng ngó kỳ cục giống như mấy bát nhang chưn đèn bằng sành, bằng gỗ thô, ngự trên tủ thờ danh mộc có cẩn hoa văn xà cừ óng ánh.

Hai người con trai lớn của cậu Năm chuyên đổi ve chai lông vịt ở xa, mỗi chuyến ghe mất ba bốn tuần, cũng cần cù chắt mót như cha, góp tiền mua được bộ cột kèo bằng cây rừng từ xưởng cưa máy ngoài tỉnh. Ba cha con ky cóp gần cả chục năm nay, bây giờ mới dựng căn nhà tương đối kiên cố khang trang.

Ông Năm thợ mộc được mời tới xẻ đục gần tháng mới xong, lúc đó mỗi lần tôi có việc đi ngang, thế nào cậu năm Côi và ông Năm thợ mộc cũng hú vào uống nước trà. Ông thợ giỏi nghề và khéo tay, lại có tiếng là hiền đức, mát tay nên ai cũng cậy ông dựng nhà. Ông cũng lớn tuổi, biết nhiều tập tục nghi lễ cũ theo sách Văn Công Thọ Mai, nên ai có việc cũng nhờ tới ông. Tôi thích ông vì ông biết nhiều chuyện mà tôi không thấy trong sách vở hồi còn đi học. Có lần vui miệng ông Năm thợ mộc nói:
- Thầy năm biết hông, hồi mới học nghề, thầy tui dạy đóng cái “kệ” trước, mà không phải riêng tui, ai học nghề này cũng học đóng cái “kệ” trước.

- Sao vậy ông năm? sao không học đóng cái gì cho dễ mà đóng chi cái kệ cho khó trước?

- Thầy hổng biết, nghề này cưa xéo một chút, đục trật một chút, đẽo hư ... cái gì cũng nói “kệ” nó, hổng phải nghề này học đóng cái “kệ” trước à?

Lần khác, Hai Phang sửa lại chái nhà, kê phần gốc tre làm kèo chái lên trên, ông Năm thợ mộc cười cười nói:
- Trồng tre trở gốc lên trời, con chị xong rồi, tính tới con em.

Hai Phang khoái chí, chả là cô em vợ Hai Phang thấy cũng có cảm tình với ông anh rể đàn hay, hát giỏi xuất thân từ lực lượng tay súng tay cày này.

Hôm dựng nhà, tôi cũng lên góp một tay, gì thì gì, mình cũng làm thợ vịn thợ phụ được mà. Trước bàn thờ, bày sẵn ba hũ sành đựng đầy gạo, muối, nước, một con heo nhỏ và một con gà cột ở chân bàn thờ; trên bàn bày bình bông, xôi chè, bánh ngọt, và một dĩa trái cây gồm một trái mãng cầu, một trái dừa xiêm nhỏ, một trái đu đủ còn xanh và một trái xoài; cậu năm Côi quần áo chỉnh tề thắp nhang khấn vái, cầu quỉ thần, đất đai nhân trạch, tổ tiên ông bà, xin được “cầu vừa đủ xài” và trong nhà lúc nào gạo, muối và nước lúc nào cũng đầy lu đầy hủ, cầu cho lúc nào cũng nuôi được con heo, con gà để không bỏ phí đồ ăn thừa, hột thóc rơi rớt... Mơ ước của người bình dân đơn giản như vậy đó mà lắm lúc cũng không có được.

Cúng xong, mọi người xúm vào làm theo lịnh của ông năm thợ mộc, chỉ hơn nửa buổi, sườn nhà đã dựng xong. Cơm nước, gia chủ đã dọn sẵn trên ba bàn tròn, mời mọi người dùng bữa chờ nước lớn để gác đòn vông. Chuyện này thì có lần tư Em đã nói với tôi, người ta tin rằng, gác đòn vông lúc nước lớn gần đứng là lúc sung nhất, gia chủ nhờ vào sự đầy đủ của con nước mà làm ăn khá. Việc nhìn con nước lớn để làm những việc hệ trọng này, tôi chỉ thấy ở trong Nam. Như việc rước dâu chẳng hạn; ở chợ hay ngoài Bắc, ngoài Trung, thường người ta rước dâu vào giờ tốt; trong Nam, giờ tốt là giờ nước lớn đầy. Ông bà mình cũng khéo tạo thành một thứ tin tưởng có tính thực dụng, vì thường ở trong vườn người ta rước dâu bằng ghe, rủi giờ tốt rước dâu (như kiểu ngoài Trung, ngoài Bắc) nhằm lúc nước ròng sát đáy sông (dám có lắm chớ!) thì thiệt là phiền, làm sao đưa với rước cô dâu, chú rể và họ hàng hai bên xuống ghe qua bãi bùn lún tới gối?

Ðang ngồi chung bàn với Tư Em và Hai Phang, cậu Năm Côi lại khều tôi và Hai Phang nói nhỏ:
- Qua nhờ hai cháu một chuyện, tí nữa lúc thượng đòn vông, hai cháu làm sao cố cầm Bảy Lượm ở bàn nhậu, rượu thịt qua biểu sắp nhỏ lo, cứ cho chả uống thả giàn, làm sao đừng cho thằng chả leo lên mái...
- Sao vậy cậu năm? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại.

- Thằng chả cũng là thợ mộc, biết bùa Lỗ Ban! chả lên đó đóng bậy cây đinh ếm là qua khổ suốt đời. Cũng hổng chừng, chả lên đó làm bộ trật tay quăng cây búa đóng đinh của chả trúng nhằm ngạch cửa là qua cũng tiêu, cháu không biết chớ thằng chả độc lắm, chả ghét ai thì ếm cho tiêu luôn, nên qua sợ... Cả đời qua, cả nhà qua chắt mót dành dụm mới có được như vầy, qua sợ thằng chả ganh ghét làm bậy, thà tốn rượu thịt cho thằng chả mà qua có thể yên tâm...

Chiếc đòn vông có bịt hai vuông vải đỏ hai đầu kê trang trọng giữa nhà. Ba Quang từ bờ sông chạy vào kêu lớn:
- Nước đứng rồi, ông Năm ơi!

Hai người trung niên đã lên ngồi sẵn trên mái, hai người khác đang đứng chờ cạnh cây đòn vông. Ông Năm thợ mộc thắp nắm nhang đứng cạnh gia chủ, trước cây đòn, khấn. Sau khi cắm nhang vào bát, ông quay lại nói:
- Cẩn thận nhen bây, chuyện quan trọng đừng giỡn hớt không nên.

Hai người bước tới, cùng một lúc trang trọng nâng chiếc đòn vông, bước từng bước một lên hai chiếc thang được dựng sẵn. Tiếng ông Năm thợ mộc nhắc nhở:
- Ði lên cho đều, có hai chú nào quởn, vịn giùm hai cái thang cho vững...

Hai người ngồi sẵn đón hai dầu chiếc đòn vông, đặt đúng vào vị trí hai kèo trước và sau giao nhau...

Ðến chiều, căn nhà của cậu Năm Côi cũng dựng xong, chỉ còn ráp bộ cửa, ngày mai ông Năm Thợ Mộc sẽ lo. Gia chủ lại mời mọi người ăn, lần này thì nhậu thả cửa vì công việc đã hoàn tất. Tôi gần xỉn vì phải cùng Hai Phang chuốc rượu cho Bảy Lượm, nhưng cũng không kiếu về được vì cậu Năm Côi nài nỉ quá.

Tư Em cũng đủ đô, bắt đầu lè nhè nói thơ:
- Thày Năm biết “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” là gì hông?

Không đợi tôi nói, Tư Em giải thích luôn:
- Rượu gặp người tri kỷ (như thầy Năm đây) thì có trời mới biểu thôi. Thầy Năm hiểu hông thiên bôi thiểu là trời biểu thôi mà, phải hông thầy Năm, thầy dô cạn ly này tôi đọc thơ thầy nghe:
Rượu uống đừng say giữ tính thường
Tránh đường hoa nguyệt khỏi tai ương
Ðừng ham cờ bạc còn gia sản
Giận tức mà dằn họa khỏi vương

phải hôn thầy Năm. Thằng cha Bảy Lượm đó mà Lỗ Ban con mẹ gì, thầy Năm.

Tôi hoảng hồn đá chân Tư Em cản

- Thôi nghen Tư Em, rượu uống bậy được chớ lời không nói bậy được nghe Tư Em.

- Tui nói thiệt mà thầy Năm, hồi thầy chưa về đây, nhà thằng chả bị ăn trộm, chả đi khắp xóm nói chả sẽ ếm bùa, thằng lấy trộm nhà chả trong xóm chớ không đâu xa. Trong vòng bảy bảy bốn chín ngày không trả sẽ sình bụng mà chết. Chả dán lá bùa trên cây gòn đầu xóm, báo hại mấy đứa chăn trâu không dám đi ngang. Của mất không thấy trả lại, nhà thằng chả bị trộm lần nữa, lần này nó lấy bộ chưn đèn trên bàn thờ, chỉ chừa lại bát nhang. Không thấy thằng nào sình bụng chết, chỉ thấy cây gòn có dán bùa không biết sao nó chết queo. Lỗ Ban gì, lỗ hang thì có.

Tôi lấy cớ Tư Em xỉn rồi, xin kiếu đưa Tư Em về... dọc đường Tư Em cứ lảm nhảm “Con người sống phải biết Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín, phải hôn thầy Năm?” Tôi biết khi Tư Em nói tới đó là biết y sắp tiêu. Tư Em mạnh rượu hơn tôi nhiều, chỉ vì thiên bôi thiểu mà lần nào cũng chìm xuồng.

Hôm sau, Bảy Lượm khăn đóng áo dài đi qua lại trước nhà Tư Em chưởi:
- Ð.m. mày Tư Em, tao chưởi mày như vầy là tao chưởi có văn hóa, ăn mặc đàng hoàng mà chưởi, không phải như mày không có văn hóa, ở trần quần xà lỏn nói xấu tao... Cây gòn chết là nó tới số nó chết, thằng nào ăn trộm nhà tao, không chết trước thì cũng chết sau. Ð.m. mày Tư Em, có thằng nào không chết, có thằng nào chết mà bụng không sình lên...

Tư Em trong nhà, vẫn còn xỉn, nói vọng ra “Con người sống phải biết Nhân Nghĩa Lễ Trí Tín.”

Thế đó, đã gần cuối thế kỷ hai mươi mà người dân trong Xóm Cầu Ngang của tôi cũng còn mang đủ gần hết những cái tốt và xấu từ thời mới tụ dân lập ấp.

Houston - tháng 10/2006

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét