Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

Về Một Xóm Quê

Vậy là yên phần của chị Hai tôi. Còn mười đám ruộng nữa thì tôi về đến nhà. Và tôi sẽ thuật lại với ông tôi những giờ phút cuối cùng của chị. Có lẽ tôi phải kể lại tất cả những điều tôi viết trong các lá thư đã gửi về. Kể rằng suốt hai tháng nay, từ khi vào bệnh viện, chị tôi nằm liệt trên giường, mặt chị càng ngày càng teo tóp và da mặt vàng quá lắm đến nỗi trông như xoa nghệ. Chị trông vào đèn thấy ánh sáng vàng sẫm lại. Gần đây, ba bốn lần trong một ngày chị ngất đi, khi tỉnh dậy chị mân mê sờ thử các ngón tay mình, và cảm thấy mỗi ngón tay lớn dần lên, lớn bằng mỗi lóng mía tây. Chắc ông tôi cũng sẽ bảo tôi kể lại những cơn ho khiếp hãi của chị.


Như thế cái chết của chị có nhiều điều để nhắc nhở hơn là cái chết của anh Hai tôi. Khi anh tôi đi chuyến dân công cuối cùng, anh không cho giặt chiếc chiếu vẫn lót cho đứa cháu trai đầu lòng mới mười ba tháng; anh muốn mang theo cả mùi nước tiểu của con để những đêm nằm trên núi bớt nỗi nhớ con. Người con trai quê mùa đó ít đi xa nhà lắm. Khi ra đi lại không gặp may. Trong một quyển sách ngoại ngữ nào đó có câu:
La Victoire, un jour, les cherchant,
Les trouvera trois pieds sous terre...


Câu đó nói đến những người tốt số. Còn anh Hai tôi thì dẫu kháng chiến thắng lợi, Vinh Quang có muốn cũng không biết tìm đâu cho thấy hài cốt. Anh tôi chết không có mồ. Và cũng không chắc được vùi sâu đến ba tấc đất.

Còn mươi đám ruộng nữa thì tôi về đến nhà, gặp ông tôi và đứa cháu vừa mất mẹ. Tôi không thấy có gì buồn thảm lắm, mà chỉ thấy một cảm giác dã dượi. Trước cảnh chiều, lòng tôi thản nhiên, nguội lạnh như trước một cảnh điêu tàn đã quen thuộc. Con suối khô, cát dưới chân kêu rào rạo, còn giữ hơi nóng âm ấm. Một đường nước con, không ngập khỏi mắt cá chân, chảy ngoằn ngoèo giữa suối. Trước khi tôi trèo lên khỏi bờ suối bên kia, một con mèo từ trong bụi bước ra cách tôi vài mươi thước tây. Nó nghẻo đầu lại nhìn một lát bằng cặp mắt buồn rầu, rồi như thấy rằng tôi không phải là một nhân vật đáng quan tâm, nó tiếp tục đi thẳng.

Phải. Cả tôi và nó đều là những người và vật rất tầm thường, không có gì tuấn kiệt, cùng sinh trưởng ở một vùng quê không có gì đáng gọi là linh địa cả. Xóm tôi ở sát mép một khu đồi. Ngày xưa có nhiều gia đình rải rác ở sườn đồi và tận trên đỉnh đồi. Dần dà những gia đình ấy điêu tàn, suy sụp và lần lượt dời nhà xuống chân đồi. Bây giờ trên ấy thành ra gò hoang, còn lại mấy mươi cây dừa còi và ba cái giếng cạn mà trẻ chăn bò thường thi nhau đứng từ xa ném đá xuống như thảy tiền vào lỗ đáo.

Một lượt di cư ấy cũng chưa khiến cho vùng chúng tôi phát đạt. Toàn xóm gồm năm mươi ba gia đình, mà tính ra đã ngót mười gia đình có kẻ chết vì bệnh lao. Tôi cứ e ngại. Ðối với người đồng hương tôi đành phải nói lén lút vụng trộm, chứ thực ra sự kiện này chưa hề được xác nhận rộng rãi ở xóm tôi. Ông Ba Hề thuở sinh thời vẫn khăng khăng quả quyết rằng chứng bệnh của ông cần phải gọi chính danh nó là ho tổn. Kẻ nào bảo là ho lao đều sai cả. Hai Nhiên từ khi phát bệnh cho đến khi chết chỉ có sáu tháng, cho nên cứ theo lời thánh y qui định rằng “cửu khái thành lao” thì bệnh ho ấy dứt khoát chưa có đủ thời gian để thành bệnh lao chính thức. Còn ông Tám Linh, ban đầu ai cũng cho là mắc đúng bệnh lao. Mãi đến tháng bảy năm ngoái, một đêm nóng bức, ông rón rén mở cửa ra đi, xách theo một đoạn dây dừa; mờ sáng hôm sau người ta tìm thấy xác ông treo lủng lẳng trên một cành cây rù rì trước miễu mới hay ông ta mắc phải chứng tà. Các trường hợp khác cũng không đơn giản hơn chút nào, cho nên tôi có cho rằng tất cả mười người đều chết vì bệnh lao, chẳng qua là một lối nói hồ đồ, trong lòng riêng lấy làm ái ngại.

Trừ mười nhà bệnh tật kia ra, còn lại hơn bốn mươi gia đình để sống với đời thì cũng chưa có kẻ nào làm được điều gì hiển hách vẻ vang. Họa chăng có thể kể đến tên một kẻ hào hoa là Bái Công và một kẻ có chút công danh là phó lý Biên.

Bái Công đã già lắm và gầy nhom, đen thui thủi, râu tóc lưa thưa xơ xác. Chính tên thật là Bái, đáng lẽ nên gọi là ông Bái. Ông Bái, dịch ra là Bái Công cũng không sai nghĩa; vả lại người trong xóm đều đồng ý để cho ông ta chia một chút vinh quang của nhà Hán nên đều gọi ông là Bái Công. Bái Công sống không vợ không con đến già trong một túp nhà chật hẹp. Thuở bé Bái Công thích gánh pháo tre đi bán chợ Tết, đứng giữa hai bầu pháo, rao ba hoa năm bảy câu, bóc miếng giấy ngũ sắc dán trên ngòi, châm lửa, ném chiếc pháo vào giữa đám trẻ con xúm xít, đợi pháo nổ đánh đùng rồi cười ha hả. Lớn lên Bái Công thích đánh võ, đã từng rước thầy Tàu về nhà học hai năm. Tiếng đồn rằng ông ta có thể đứng trên cái hộp quẹt múa xong một ngọn thảo mà hộp quẹt không vỡ. Khi đã đứng tuổi Bái Công mới thích cờ và rượu. Nhiều lần, đêm khuya đi uống rượu về, Bái Công bị hai chân bất lực vất bỏ giữa đường. Người ta gặp ông nằm sấp úp mặt xuống bờ ruộng hát nghêu ngao, mặc cho lũ sao trời nhấp nháy sau lưng thâu đêm. Về già con người hào hoa đó sống chật vật, lui hui trong bếp nấu từng bữa cháo cho heo như một người đàn bà rất tầm thường.

Còn phó lý Biên trong thời kỳ nắm quyền hành cũng không để lại được một tiếng thơm. Một đêm khuya nào đó có người dân làng mở cửa vào phòng bất ngờ trông thấy phó lý Biên nằm chung giường với vợ mình. Trước sự phát kiến không hợp thời, ông phó lý phi thân qua cửa sổ rất nhẹ nhàng, tưởng rằng thế là đã tìm được một cách giải quyết công việc ổn thỏa nhất. Không ngờ việc đến tai viên chánh tổng. Viên này giẫy nẫy lên kêu rằng đêm hôm đó phó lý Biên đã dày xéo lên hạnh phúc của mình. Người dân làng đau đớn thêm một lần nữa. Vợ y thẹn thùng, sợ hãi thêm. Còn phó lý Biên thì gặp ngay một trở ngại trên bước đường công danh.

Sau những nhân vật như đã kể vừa rồi, tôi tưởng đã đến lúc có thể bắt đầu nói ít nhiều về gia đình mình. Khi tôi lớn lên thì các cô tôi đã đi lấy chồng, ba tôi đi làm ăn xa trong Nam, chú tôi lang bang. Ở nhà chỉ có cụ ông cụ bà đã cao niên, cùng má tôi và hai anh em tôi. Ba tôi thấy cảnh nhà cơ cực, bỏ nhà ra đi bảy tám năm mất dạng, không có một lá thư gởi về. Gia đình biết rằng ba tôi không phải là người bạc bẽo, phóng đãng, nhưng lệ thường ở quê tôi những kẻ bỏ nhà ra đi mà chưa dành dụm gầy dựng nên cơ nghiệp gì thì chưa chịu trở về và chưa lộ tung tích với bà con, vì tự lấy đó làm một điều xấu hổ. Chú tôi có chút học thức, nhưng lại thích sống tự do, lang bạt khắp nơi, không biết cày ruộng mà cũng không chịu đeo đuổi một nghề nghiệp gì, khiến bà tôi rất lúng túng mỗi khi phải trả lời với bà con xóm giềng về chức vụ của chú. May sao, không biết tự đâu, dân làng nảy ra cái ý gọi chú tôi là thầy ký. Ðó thực là một sáng kiến hay ho vẻ vang của quần chúng. Gia đình tôi liền xác nhận chức vị của chú ký, mặc dù chú không từng làm thông ngôn ký lục cho chính phủ bao giờ.

Thuở bé tôi mến chú. Chú thường nay đây mai đó, ghé về nhà không có định kỳ. Mỗi chuyến về của chú là một việc quan trọng trong gia đình, và là một cơ hội thích thú đối với tôi. Trong va-li của chú lần nào cũng có những món là lạ, xinh xắn: những tấm hình thực đẹp, những con voi, con khỉ tiện bằng ngà, bằng sừng, những cái nhẫn làm bằng vỏ ốc, bằng xà cừ, những cái khăn tay nhỏ xíu, những con bướm bằng bìa chỉ cần gác một đầu lên ngón tay là có thể lơ lửng chấp chới v.v...

Thường thường về đến nhà chú ký quay ra ngủ, để bù lại những đêm trước thức chơi bời hay đi xe đi tàu. Tôi lân la đến nằm bên cạnh, ngắm nghía những cái nhíp, cái dao con thật xinh dính vào xâu chìa khóa trễ ra ngoài túi, và tôi nằm hít mùi nước hoa thơm thoang thoảng bên mình chú ký, trí mơ tưởng đến cái thế giới thị thành kỳ lạ ở đâu đó, cách xa xóm đồi chúng tôi.

Phần nhiều mỗi lần chú ký về, ông bà tôi im lặng trong một vài ngày để chú nghỉ ngơi. Sự im lặng tôi thấy có phảng phất cái gì khó hiểu. Rồi sau đó khởi lên cuộc rầy rà to. Bà tôi mắng nhiếc, có khi lấy cây đập lên lưng chú tôi. Không khí trong gia đình căng thẳng mấy hôm, cho đến khi bà tôi dịu xuống thì chú ký lại nêu lên qua quít một lý do vu vơ rồi xách va-li ra đi. Cô tôi cắt nghĩa rằng ông bà tôi bất bình vì chú tôi đã ngót ba mươi tuổi đầu mà vẫn chơi bời, không chịu cưới vợ, không chịu nghĩ đến tương lai. Những khi bị chất vấn đến kỳ cùng, chú tôi vẫn khăng khăng bảo rằng chú chưa tìm ra một người đàn bà đủ đức hạnh để làm bạn trăm năm. Có lẽ chú ký tôi đã chọn qua ngót trăm người con gái, trong số đó có nhiều kẻ trước khi gặp chú thì vẫn hãy còn đứng đắn. Thế mà vẫn chưa tìm thấy đức hạnh. Cho hay việc tìm kiếm đức hạnh cũng kham khổ như việc ngậm ngải tìm trầm. Cả nhà tôi đành thúc thủ, để mặc chú tôi một thân băng mình vào giới phụ nữ bốn phương, xông pha mạo hiểm một cách tuyệt vọng.

May sao, cuối cùng rồi chú ký cũng gặp gỡ được thím ký, hiện thân của đức hạnh.

Trong những năm mà ba với chú tôi còn lang thang xiêu bạt thì cả gia đình trông cậy vào ông tôi. Ông tôi là một nhà nho thất thời, từng hỏng một lần ở trường thi hương. Thuở nhỏ ông đã nghe tiếng súng của nghĩa quân cụ cử Mai Xuân Thưởng bắn xạch xạch như tát nước gàu sòng làm cho sĩ tử khắp tỉnh bừng lên nao nức. Nhưng rồi tiếng súng cụ cử Mai im bặt, cụ cử Mai bị xử tử. Ông tôi cũng từng theo đám người lao nhao vác rựa đi “làm giặc” trước cổng thành Bình Ðịnh, rồi Pháp lại giải tán Giặc Rựa. Ông bèn đánh bạc một thời gian; sau đó, nguôi ngoai thế sự, ông tôi ra làm hương bản trong làng. Cứ thế suốt hai mươi năm trời ông tôi vừa phục vụ một chính phủ đặt dưới quyền người Pháp vừa nguyền rủa người Pháp thậm tệ. Và năm này qua năm khác, cả nhà tôi đau đáu nhớ trông ba tôi biệt tích, chú tôi phiêu lãng.

Vào những buổi trưa vắng vẻ, tôi lúc thúc ở nhà dưới, quanh quẩn chơi bên cạnh bà và má tôi, bỗng nghe ông tôi đang nằm một mình ở nhà trên, cất tiếng thét lớn:
“Quan hầu nhập yết, nhập yết, ãi ãi... Tâm như hỏa liệt hỏa liệt! Nhĩ tợ lôi oanh lôi oanh! Quan Vân Trường bội ngô huynh trưởng, hàng Tào lập công, Phi hỏi chơ: Hà sự đáo ngã thành, tất kỳ trung hữu trá. Chư tướng! Truyền chỉnh tu binh mã, mau bố liệt can qua. Âu là, huy xà mâu sát phá oan gia! Trăm lạy đại ca, ngàn lạy đại ca, xin chiếu giám cho Phi, phen này Phi nói thiệt, huyền thủ cấp báo ngô ca trưởng...” 1
Giọng thét dồn dồn đầy nộ khí vang lên trong ngôi nhà vắng lặng, bỗng dưng phát lên rồi bỗng dưng dứt hẳn, làm cho chung quanh tưng hửng sững sờ. Chúng tôi lại càng thấy cảnh nhà vắng vẻ và trống trải thêm. Có khi một lát sau nghe có tiếng guốc lẹp kẹp của ông tôi. Tôi rụt rè ngẩng đầu lên thì thấy nét mặt ông tôi lại bình thản, đôi khi có một vẻ lạnh tanh ngao ngán, chẳng còn đâu là dấu vết của cái nộ khí bừng lên trong giọng hát vừa rồi. Bà tôi không ngừng công việc, liếc nhanh về phía ông, ái ngại. Không ai nói gì, nhưng trên tất cả mọi người tôi cảm thấy rõ ràng đè nặng một mối buồn về cảnh nhà ly tán.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét