Thứ Hai, 22 tháng 11, 2010

Vấn đề Nhập Thế Xuất Thế trong Phật Giáo và Ky Tô Giáo

Nguyễn Hoài Vân

MỘT SỰ PHÂN HÓA ĐÁNG THƯƠNG
Vì kém hiểu biết, người ta thường dán cho các tôn giáo những nhãn hiệu, rồi phong cho cái này là tốt, là đúng, chê bai cái kia là thấp kém, là lầm lạc. Thái độ ấy cũng vô lý và đáng thương như câu chuyện mấy đứa trẻ mồ côi đập nhau chí tử, để tranh cãi rằng: “Cha tao giàu hơn cha mày, mạnh hơn cha mày, v.v…”, mà không biết rằng chúng đều là anh em ruột cùng chung cha mẹ!


Thông thường, người ta hay bảo Ky Tô Giáo, là “tích cực, nhập thế”, còn Phật giáo, là “tiêu cực, xuất thế”. Để làm giảm bớt luận điệu lầm lạc này, chúng ta có thể cùng nhau nêu lên một số tính chất tiêu cực và xuất thế trong tư tưởng Ky Tô Giáo, rồi nhìn qua vài khía cạnh tích cực, nhập thế của Phật giáo.

VÀI MẶT TIÊU CỰC TRONG TƯ TƯỞNG KITÔ GIÁO
Xin chọn vài thí dụ, lấy từ thần học của Thánh Augustin (354-430), được coi như một cột trụ của Giáo Lý Ky Tô Giáo. Vị thánh này là người đã “sáng chế” ra “tội Tổ Tông” hay “tội nguyên thủy” (péché originel), để chống lại quan điểm “nhân chi sơ, tính bổn thiện” của Thày Khổ Tu Pélage (khoảng 350-420). Trong khi Pélage cho rằng con người có tự do, và có thể tích cực chọn lựa giữa làm việc thiện hay làm việc ác, thì Augustin quả quyết con người chỉ có thể làm việc ác. Nếu một số nhỏ cá nhân có làm được việc thiện, để hy vọng được cứu rỗi, thì đó là do Hồng Ân Thiên Chúa. Augustin nhấn mạnh là Thiên Chúa chỉ ban phát Hồng Ân của Ngài cho một số người được chọn lọc (praedestinati), theo những tiêu chuẩn riêng của Ngài mà không ai có thể hiểu nổi. Tuy nói vậy, nhưng Augustin cũng vẫn “bật mí” cho chúng ta biết một tiêu chuẩn trọng yếu: đó là số người được hưởng nhờ ơn Chúa, và được giải thoát, phải bằng với con số Thiên Thần bị giáng chức và bị tống cổ ra khỏi Thiên Đàng! Những người còn lại, thuộc về tập thể bị loại trừ (massa perditionis), sẽ bị thiêu đốt đời đời trong Hỏa Ngục. Ý kiến “tiền định” tương tự cũng có thể được nhận thấy trong Thánh Thư của Thánh Phao Lồ gửi tín hữu La Mã (Rom, 8:28-30).

Vì con người hoàn toàn phải chịu đựng một cách tiêu cực sự chọn lựa sẵn có của Thiên Chúa, để làm việc thiện và để giải thoát, nên chúng ta có thể khẳng định tính cách hiển nhiên tiêu cực của tư tưởng này. Tuy nhiên không thể từ lập luận này mà bảo Ky Tô Giáo là tiêu cực...

VÀI KHÍA CẠNH TÍCH CỰC TRONG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
Phật giáo coi bản tánh của mọi chúng sanh đều là Phật. Chỉ cần bỏ những mù quáng, mê chấp, thì nhận ngay ra mình là Phật. Không ai bị bỏ rơi, không có “massa perditionnis” vì mọi người đều đã sẵn là Phật. Đó là một quan điểm tích cực rất rõ ràng. Mặt khác, cũng không cần sự cứu rỗi từ bên ngoài vì Phật ở sẵn trong mình rồi, chứ không phải từ một nơi chốn thần tiên nào đó đến cứu độ mình. Tức là mỗi người cần tích cực đi tìm giải thoát, với sự soi sáng tự nhiên của Phật Tính nơi mình, để thay đổi cách nhìn của mình về sự vật, về mình, và để tìm thấy chính mình.

Trên con đường tu tập, Phật giáo dạy phải thực nghiệm, chẳng nên tin vào giáo điều lý thuyết. Nói cách khác, phải tích cực tìm hiểu, chứ không thụ động tin theo vị thần này hay ông thánh nọ, để rồi mù quáng tiêu cực loại bỏ những gì không nằm trong « giáo lý » của mình.

Đối với vấn đề thiện ác, Phật giáo cũng có một nhãn quan đặc biệt tích cực. Khi sự ác được chấp nhận như hậu quả của lẽ nhân duyên, thì không còn có thái độ tiêu cực loại bỏ. Kẻ sát nhân, người gian hiểm, chẳng qua cũng chỉ là nạn nhân của nghiệp báo chập chùng, nhân duyên chồng chất, chứ trong bản tánh họ vẫn là Phật! Biết đâu chính nhờ những hành động tàn ác kia mà họ ý thức, giác ngộ và trở thành bậc Chánh Giác? Với tinh thần ấy, người ta thông cảm, tìm hiểu những nhân duyên của một hành động tàn ác, và tìm cách nâng đỡ, chứ không loại trừ cá nhân làm việc ác ấy. Nếu có phê phán, thì người ta phê phán hành động chứ không phê phán con người. Điều này rất tích cực, vì nó không bao giờ loại bỏ khả năng hướng thiện dù trong bất cứ tình huống nào.

Nói: Anh « là » (you are...) xấu xa, như trong ngôn ngữ Tây phương thông thường, rất khác với: « anh đã làm một việc xấu xa ». Câu nói thứ hai có ý nghĩa tích cực quan trọng.

Những quan điểm vừa nêu có phải là đặc thù của Phật giáo hay không? Hoàn toàn không. Dưới một hình thức khác, những quan điểm ấy đều hiện hữu trong tư tưởng Ky Tô giáo (thí dụ niềm tin con người « là một » với Thiên Chúa, qua Đức Ky Tô). (*)

TƯ TƯỞNG XUẤT THẾ TRONG KITÔ GIÁO
Chúng ta có thể dựa vào một số lời nói của chính Đức Ky Tô để nhận ra một khuynh hướng xuất thế rất đậm nét trong Kitô giáo.

- Trong Phúc Âm thánh Gioan (15:19), Đức Ky Tô nói rất rõ: “Các con không thuộc về thế gian, thầy đã đặt các con ra ngoài thế gian”. Và khi toàn quyền La Mã Pilatô tra vấn Ngài, Ngài cũng tuyên bố: “Vương quốc của Ta không thuộc về thế gian” (Gio-An.18:36).

- Thật ra, Đức Ky Tô không những chủ trương đứng ngoài thế gian, mà Ngài còn coi thế gian là nguồn của sự dữ, là vương quốc của Ác quỷ, là sự chống phá lại công trình của Ngài. Ngài nói: “Thế gian thù ghét Ta vì Ta chứng minh được rằng những công trình của thế gian đều xấu xa” (Gio-an 7:7). Một lúc khác, trong lời cầu nguyện với Thiên Chúa, Ngài nói: “Con đã truyền cho họ (các môn đệ) lời nói của Cha và thế gian đã thù ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, như chính con cũng không thuộc về thế gian.” (Gioan 17:14). Rõ rệt hơn nhất, trong Gioan 12:31, Ngài gọi Ác quỷ là “Vua của thế gian” và trong Gioan 12:30, Ngài phán: “Từ nay, Ta không còn nói chuyện với anh em được nữa, vì Vua của thế gian này đã đến”.


Chúng ta cũng có thể chú ý đến một câu chuyện được kể lại trong tất cả các bộ Phúc Âm trừ Phúc Âm Gioan. Đó là chuyện Ác quỷ cám dỗ Đức Ki Tô:

Trước khi Đức Ki Tô thu nhận môn đệ và bắt đầu giảng dạy, Ngài vào sa mạc tĩnh tâm trong bốn mươi ngày. Lúc ấy, Ác quỷ đến cám dỗ Ngài. Có ba sự cám dỗ, sau khi Đức Ky Tô đã vượt qua hai sự cám dỗ đầu tiên, thì Ác quỷ đưa Ngài lên một đỉnh núi cao và chỉ cho Ngài thấy tất cả thế gian với những vương quốc giàu mạnh, vinh quang, những lâu đài lộng lẫy, những thú vui vô số và bảo Ngài phải khuất phục nó, thì thế gian sẽ thuộc về Ngài. Đương nhiên là Đức Ky Tô lại khước từ thêm một lần nữa, với câu nói bất hủ: “Vade retro, Satanas” (Sa Tăng, hãy cút đi !). Đức Thích Ca cũng đã từng bị Quỷ Vương cám dỗ một cách tương tự...

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy Ác quỷ Sa Tăng chính là Vua của thế gian, và Đức Ky Tô với quyền năng của Ngài, cũng có thể ngự trị trên thế gian, y hệt như Ác quỷ. Mặc dầu vậy, Đức Kitô đã chọn khước từ thế gian, thậm chí sau này còn chấp nhận cho thế gian giết chết mình…

Thật ra quan điểm xuất thế đã hiện hữu trong tư tưởng Do Thái, đặc biệt từ khi dân tộc này bị lưu đày vào năm 538 tới 587 trước Công Nguyên. Khi ấy trong nỗi buồn tha hương, vong quốc, đất nước hoàn toàn bị phá hủy, người Do Thái chỉ còn biết ngước mắt kỳ vọng nơi một quê hương trên trời. Quê hương thật, đất nước thật của họ, từ đó, chính là Nước Trời, chứ không còn là một mảnh đất nào trên cõi thế nữa. Thánh Phao Lô, trong Thánh Thư gửi người Do Thái (11:14), cũng đã nhắc lại niềm tin này.

Một tư tưởng khác rất phổ thông trong Ky Tô giáo, là sự xác quyết sẽ có một ngày tận thế. Tất cả những gì con người xây dựng được nơi thế gian đều sẽ bị hủy diệt. Đức Ky Tô, trong các đoạn Phúc Âm Mát-Têô 24, Mác-cô 13 và Lu-ca 21 đã nói về vấn đề này. Tức là sẽ không có một thế gian tốt đẹp, viên mãn, trường cửu như con người thường ước mong. Lịch sử sẽ không phải là một giòng sông đưa nhân loại đến bờ hạnh phúc, hay một con đường xa lộ dẫn cái xã hội mà ta đang sống đến với Thiên Chúa như Hegel từng quan niệm. Nước Chúa sẽ không phải là sự nối dài của cái xã hội mà ta đang sống, đang chăm lo bồi đắp. “Tất cả đều sẽ bị hủy diệt” đó là lời Chúa!

Nhiều người sẽ nói: đó là chuyện xa vời, ngay bây giờ, vẫn phải chăm lo cho gia đình, cho xã hội, cố sức xây dựng bình an hạnh phúc, v.v.. Đó là những ý tưởng rất chính đáng của đại đa số con người. Nhưng Đức Ky Tô nghĩ sao?

Về gia đình, Ngài bảo với các môn đệ, tức với tất cả chúng ta, rằng phải bỏ hết tất cả những ràng buộc gia đình, để theo Ngài. Đức Ky Tô nói: «Nếu kẻ nào đến với ta mà không từ bỏ cha mẹ mình, vợ con mình, và cả chính đời sống của mình, thì người ấy không thể là môn đệ của ta» (Lu-ca 14-26). Khi có môn đệ xin được về nhà từ giã gia đình trước khi lên đường theo Ngài, Đức Kitô từ chối ngay tức khắc, và nạt rằng: «Kẻ nào đã bắt tay vào cày ruộng (tức là đã theo Ta) mà còn nhìn về phía sau, thì kẻ ấy không xứng đáng vào Nước Chúa!» (Lu-ca 9-26). Một môn đệ khác xin về chôn cất cha mình vừa mới qua đời, ngài cũng từ chối rằng: «Cứ để người chết chôn người chết, phần anh hãy đi rao giảng nước Trời» (Lu-ca 9:59-60). Phải nói là chính Đức Ky Tô cũng đã hoàn toàn từ bỏ gia đình mình. Trong Phúc Âm, không khi nào thấy Ngài gọi mẹ Ngài là “mẹ”, mà chỉ nói « bà kia » (femme !). Và một ngày nọ khi đang ở giữa đám đông, thì có người đến báo tin cho Ngài biết rằng: “Mẹ anh và các em anh đang tìm anh ngoài kia”. Đức Ky Tô rảo mắt nhìn quanh cử tọa, rồi nói: «Đây là mẹ ta, đây là anh em ta, tất cả những ai hành động theo thánh ý Chúa, đều là mẹ và anh em ta» (Mác-cô 3:32-35).

Còn đối với xã hội ? Đức Ky Tô nói rất rõ: «Đừng lầm tưởng rằng ta đến để mang lại hòa bình trên trần thế, ta không đến để đem lại bình an, mà chính là để đem lại gươm đao, cho người con trai nổi lên chống lại cha mình, người con gái chống lại mẹ mình, người con dâu chống lại mẹ chồng, người trong một gia đình đối nghịch lại với nhau» (Mát-Têô 10:34-35). Trong Phúc Âm Lu-ca, Ngài cũng nói một câu tương tự (Lu-ca 12:51-53). Việc “đem lại gươm đao” cũng được nhắc đến ở đoạn Phúc Âm Lu-ca 22-36, khi Đức Ky Tô nói với các môn đệ: “Ai chưa có võ khí thì hãy bán áo choàng của mình đi mà mua lấy một thanh gươm.”

Đương nhiên là thái độ này của Đức Ky Tô không mấy gì là “politically correct”, và nhiều người “thông minh” hơn Ngài đã phải lập tức giải thích rằng: Ngài nói vậy nhưng phải hiểu khác, phải hiểu rằng… ngược lại! Cũng như khi Ngài dạy phải bỏ hết tiền bạc, tài sản, hay cho rằng «Người có của vào nước Trời còn khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim». Những lời nói ấy làm rộn sự “bình an” hưởng thụ của nhiều người. Họ không thể nào chấp nhận chúng được. Vì thế, họ phải dạy khôn Đức Ky Tô, bảo Ngài phải hiểu những lời Ngài nói một cách khác, hợp với những nếp suy tư trưởng giả và những ham muốn thường tình của họ hơn. Đừng quên, người đương thời đã đem Chúa Kitô ra đóng đinh trên thập giá, thậm chí ngay chính những kẻ trong gia đình Ngài cũng đã muốn bắt giữ Ngài, vì họ cho rằng: “Nó đã mất trí !” (Mác-cô 13:21)

PHẬT GIÁO VÀ KHÁI NIỆM NHẬP THẾ
Phật giáo không phân biệt thế gian với “ngoài thế gian”. Tất cả đều là tâm (vạn Pháp quy tâm). Vậy thì chỉ có Tâm. Nếu chỉ có Tâm mà thôi, thì xuất thế phải ra ngoài Tâm. Khi ấy, thử hỏi cái gì sẽ ra ngoài Tâm? Có phải cũng là tâm hay không? Tâm làm sao phải ra ngoài Tâm được? Vậy, Phật giáo không thể xuất thế !

Một cách nói khác: Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, vậy thì Phật ở đầy trong thế gian này, nhìn đâu cũng thấy Phật, Phật làm sao mà xuất thế được? Đây cũng là một cách giải thích nghệ thuật của Phật giáo, đặc biệt là của Thiền Tông, với những bài thơ hay những bức họa đầy tình thân ái, mô tả những cảnh vật nhiều khi rất nhỏ nhoi, những con người nhiều khi rất bé mọn, những động tác nhiều khi rất tầm thường, diễn đạt niềm cảm thông sâu sắc với tất cả những gì chung quanh. Nhất định là các nghệ sĩ và Thiền sĩ ấy không khước từ thế gian, không coi thế gian là hiện thân của sự Ác… Sự Ác có chăng thì chỉ là kết quả của vô minh, chứ dưới tấm màn vô minh ấy, vẫn luôn tiềm tàng Phật tính.

Một lập luận khác có thể được nêu lên là hạnh nguyện Bồ Tát, từ chối sự giải thoát cho riêng mình khi còn bất cứ chúng sinh nào chưa được giải thoát, chính là một tư tưởng nhập thế triệt để. Phật giáo Mật Tông cũng tin ở Phương Đông có một vị Phật tên là Aksobhya (A Súc Bệ), tượng trưng cho sự nhập thế, cứu độ, đi từ vô biên vào thế giới hữu hạn để thực hiện sự cứu độ và đi từ hữu hạn đến vô biên để thực hiện sự giải thoát…

DANH HIỆU CỦA QUỶ VƯƠNG
Trong truyền thống Do Thái, Ky Tô và Hồi Giáo, người ta gọi Ác Quỷ là Sa Tăng. Trong tiếng Do Thái cổ, chữ ấy được dùng để chỉ người có trách nhiệm lên án người khác trong một phiên tòa, như một loại Công Tố Viên ngày nay. Nói rộng ra, tất cả những kẻ lên án người khác, đều có thể được gọi là Sa Tăng! Và khi chúng ta lên án bất cứ ai, thì đó chính là tiếng nói của Quỷ Vương trong chúng ta. Vì thế, Đức Kitô mới nói: “Đừng lên án, để khỏi bị lên án”. Và nhất là đừng lên án cả một tập thể, cả một cộng đồng, thậm chí cả một phần nhân loại, vì tín ngưỡng của họ. Chúng ta có thể nghĩ được rằng tất cả những người không cùng tôn giáo với chúng ta, trong đó có bạn bè của chúng ta, thậm chí ông bà tổ tiên của chúng ta, đều đáng bị vứt xuống một địa ngục nào đó hay không? Phải chăng họ đều là những ác quỷ, hay những “chuẩn ác quỷ”? Dù cho chúng ta có thuộc về tôn giáo nào đi chăng nữa, thì chúng ta cũng vẫn là thiểu số trong toàn nhân loại. Vì thế, lên án những người khác tôn giáo với mình, chính là tự đặt mình vào một địa ngục ngay từ bây giờ với vô số “ác quỷ” nhan nhản chung quanh mình!

Thật ra, có những sự lên án gay gắt, nhưng cũng có những chê bai lịch sự, tuy không kém phần trịch thượng, kiểu như: Đạo ấy chưa hiểu tới, hay chưa đạt đến trình độ này, trình độ khác. Tôi nói thái độ này cũng vẫn là một sự lên án, vì ta không thể biết nó sẽ trở thành gay gắt lúc nào, và vì nó có thể gợi lên những phản ứng gay gắt nơi những người bị mình chỉ trích. Thái độ ấy cũng vẫn là thái độ của Sa Tăng, của Ác Quỷ.

Hơn lúc nào hết, cần đi tìm những điều giống nhau trong các tôn giáo, các giòng tư tưởng, hơn là đào sâu những khác biệt.

NGUYỄN Hoài Vân
cập nhật 21 tháng 11 - 2010


(*) Lời Đức Ky Tô : “Con cầu nguyện cho tất cả những ai tin nơi con, để tất cả trở thành Một. Cũng như Cha, thưa Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha, và họ cũng ở trong chúng ta" (Gioan 17 : 20-21)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét