Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

ĐỪNG LẬP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAM)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 8 (Tiếp theo)

Cuộc chiến do Bắc Việt khởi xướng có thể có chính nghĩa nếu nó dựa theo ý muốn của người dân miền Nam. Nhiều bình luận gia về chính sách Hoa Kỳ còn cho rằng Mặt Trận Giải Phóng đã có thể tung hoành tại các làng quê miền Nam vì ý thức hệ Cộng sản thích hợp với văn hóa Việt và các chương trình nhân đạo của bộ đội đã chiếm được sự hỗ trợ – trên câu nói cửa miệng “tim óc” - của dân làng. Cách mạng vô sản tại miền Nam Việt Nam, họ nói, cũng tương tự như Cách Mạng Hoa Kỳ.

So sánh hai điều này trên bất cứ phương diện nào cũng là một sự sỉ nhục xuẩn ngốc cho những Người Cha Lập Nước của Hoa Kỳ.

Người dân Việt không bao giờ có “tình yêu chủ nghĩa Cộng sản”. Sự ghét hận Cộng sản chảy trong huyết mạch người Việt. Trong truyền thống Việt Nam, một người lãnh đạo phải đạt tới quyền lực bằng tài đức, nhưng Cộng sản nắm quyền kiểm soát dựa trên bạo lực. Trong văn hóa Việt, cá nhân không chỉ sống để làm nô lệ cho tập thể, mà trái lại, xã hội phải giúp mở rộng sự tự do của mỗi cá nhân. Một lòng tin khôn cùng về sở hữu cá nhân (nhất là ruộng đất, nhà cửa), một khát khao sâu đậm cho tự do cá nhân, và sự bất bình đối với các thế lực không đạo đức là bản tính của người Việt. Chủ nghĩa Cộng sản, trái lại, bắt buộc mọi cá nhân phải nhất nhất phục tùng nhà nước. Đảng Cộng Sản phá hủy tư duy, xóa bỏ quyền tư hữu, và đòi hỏi sự tuân theo một cách mù quáng. Những cán bộ Cộng sản đều thấu hiểu rằng ý thức hệ của họ hoàn toàn trái ngược với tâm thức Việt. Một trong những lý do Cộng Sản Bắc Việt lập ra Mặt Trận Giải Phóng miền Nam là để người dân miền Nam không nhìn thấy bàn tay của Đảng Cộng Sản giật dây phía sau.

Để lôi kéo dân chúng về phía họ, người Cộng Sản không bồi đắp hy vọng, mà nuôi dưỡng và kích động lòng hận thù. Ngay cả một nhà văn phản chiến có tầm cỡ cũng nhận xét rằng một yếu tố thành công của “Mặt Trận Giải Phóng” là “hệ thống nuôi dưỡng lòng hận thù”. Như đa số các nước đang phát triển, miền Nam Việt Nam có những vấn đề với công bằng xã hội và sự lạm quyền của chính phủ. Đảng viên Cộng sản có nhiệm vụ thổi phồng các vấn đễ này lên để kích động dân Việt vào một sự hận thù điên cuồng. “Kích động hận thù”, phát biểu một lãnh đạo Mặt Trận Giải Phóng, “phải được làm luôn luôn không ngừng nghỉ, và theo sát phong trào tranh đấu như bóng với hình”. Với các lãnh tụ Cộng Sản, các đổi mới tốt đẹp là điều nguy hiểm cho họ. Khi có những chương trình đổi mới tốt đẹp, họ cảnh giác là các cán bộ đảng viên “có khuynh hướng tự mãn đưa đến hủ hóa và không nhiệt tâm kích động hận thù của đám đông, do đó… công cuộc cách mạng không đủ sôi động để đưa đến bạo động”.

Bạo động là chìa khóa thành công thứ hai của Mặt Trận Giải Phóng. Lực lượng Cộng sản tấn công toàn diện theo cách làm việc có hệ thống của họ, không chỉ chính quyền và quân đội, nhưng ngay cả dân thường. Mục đích của họ là tạo sự bất ổn và mất an ninh, gây rối loạn trong chính phủ bằng cách giết hại những viên chức có khả năng, và đe dọa người dân bằng cách cho họ thấy rằng không ai có thể bảo đảm an sinh cho họ.
Đối với Mặt Trận Giải Phóng, khủng bố và tàn bạo là tính toán chiến lược của họ.

Tại Long An, cán bộ Cộng sản đã lạnh lùng bắn vào lưng một người đàn ông Việt sau khi ông ta từ chối không chịu bắt con trai ông đào ngũ ra khỏi quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Năm 1967, khi Cộng sản chiếm một làng tại tỉnh Cái Bè, cán bộ Cộng sản đã giết 45 người vợ và con của các viên chức làm việc cho cơ quan địa phương. Tại Dak son năm 1967, Cộng sản giết 252 thường dân, 2/3 con số này là đàn bà và trẻ em, bằng cách phóng hỏa các mái tranh làng từng chiếc một do cán bộ Cộng sản thảy mồi lửa vào nhà. Cán bộ Cộng sản chôn mìn trên các con đường dân làng dùng để ra chợ buôn bán; liệng lựu đạn vào đám đông tại các nơi công cộng, chùa chiền, trường học; bao vây các trại tỵ nạn, và bắn phi đạn lung tung vào Sài Gòn, Đà Nẵng, và các thành phố lớn đông dân cư.. Kiểu khủng bố liên tục này giết hại hàng ngàn dân miền Nam Việt Nam mỗi năm.

Một vài trường hợp lính Mỹ có hành động tàn nhẫn đã bị đưa lên truyền hình, truyền thanh, và bị chỉ trích tơi bời giông bão bởi thành phần phản chiến. Khi Việt Cộng tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào dịp Tết Mậu Thân 1968, hình ảnh quân đội Hoa Kỳ giết lầm 175 người dân tại Mỹ Lai được truyền thông Hoa Kỳ đăng lên trang nhất của báo chí, và trở thành tin nóng nhất suốt một tuần lễ trên truyền hình. Sự tàn bạo vô nhân của Cộng sản, trong khi đó, vì xảy ra quá nhiều nên không còn ai xem là chuyện lạ nữa. (Trong dịp Tết Mậu Thân, Cộng sản đã giết và chôn sống tập thể gần 5000 ngàn người dân vô tội tại Huế - chú thích của người dịch). Dĩ nhiên là chúng ta không nên làm ngơ cho các tội ác chiến tranh do chính quân lính phe ta gây ra. Nhưng điều tối quan trọng là chúng ta phải biết phân biệt rõ ràng sự khác biệt. Hoa Kỳ chiến đấu để giảm thiểu và ngăn chặn sự tấn công của Việt Cộng trong việc giết hại dân lành. Bắc Việt cố tình tấn công vào dân chúng, và xem đó là điểm chính trong chiến lược của họ. Người lính Hoa Kỳ nào cố tình giết hại dân lành sẽ bị phạt tù tội. Quân Cộng sản được tưởng thưởng khi giết dân vô tội. (Cho đến hôm nay, Cộng sản Việt Nam vẫn còn tự ca tụng nhau về “Đại Thắng Mùa Xuân”, khi họ tràn vào miền Nam và giết hại dân lành Tết Mậu Thân 1968 - lời người dịch).

Mặt Trận Giải Phóng cũng có chính sách thủ tiêu hay bắt cóc bất cứ ai ra mặt chống đối hay có khả năng lãnh đạo một lực lượng chống đối Cộng sản. Lực lượng bí mật của họ, do Bộ Công An Cộng Sản Bắc Việt chỉ huy, có mặt tại khắp miền Nam Việt Nam. Cộng Sản lập các danh sách người họ muốn thủ tiêu và ra lệnh cho các nhóm ám sát đã được đảng huấn luyện bắt cóc và ám sát nạn nhân. Từ năm 1957 cho đến 1973, họ ám sát 36.725 người Việt miền Nam và mang đi mất tích 58.499 người khác. Trên thực tế, con số này còn cao hơn nhiều. Con số chính xác cho những người bị thủ tiêu và bắt cóc đã không thể định được trong dịp Tết Mậu Thân 1968. Một số người bị bắt cóc đã được thả về sau khi được Cộng sản nhồi sọ và huấn luyện đường lối của họ. (Đa số các người này là con em của đảng viên tập kết). Nhưng đa số người bị dẫn đi đã biệt tích không bao giờ trở lại. Họ đã bị ép hoặc gia nhập đảng hoặc bị xử tử như kẻ thù.

Đội ám sát của Mặt Trận Giải Phóng chú ý nhiều nhất tới các người lãnh đạo làng xã. Mỉa mai thay, họ phân biệt rõ ràng những ai có thể mua chuộc hối lộ được với những xã trưởng trung chính. Một người của Mặt Trận Giải Phóng sau khi hồi chánh đã cho biết khi gặp những tay xã trưởng tham ô, “Cộng Sản sẽ ra mặt chỉ trích chính quyền tham nhũng và kêu gọi lật đổ, nhưng trên thực tế, họ lại hỗ trợ và mua chuộc bọn quan tham này. Trái lại, đối với các vị lãnh đạo chính tâm và trung trực, hết lòng vì dân và hiểu rõ về đảng Cộng sản, họ xếp vào loại “kẻ phản quốc nguy hiểm” và không ngần ngại thủ tiêu những người này.”

Danh sách nạn nhân cũng gồm bất cứ ai giúp phát triển đời sống của dân cho tốt đẹp hơn, như nhân viên y tế, nhân viên xã hội, và thầy cô giáo, cho dù có liên hệ tới chính quyền miền Nam hay không. Khi hỏi tại sao một số thầy giáo bị ám sát, một đảng viên Cộng sản đã hồi chánh nói: “Bởi vì họ là người hiểu rõ các đường lối chính trị, họ là những người theo phe quốc gia, và có thể hướng dẫn và lãnh đạo quần chúng chống Cộng sản trong khu vực họ ở. Những người này bị xem là rất nguy hiểm cho đảng và nhà nước Cộng sản, do đó họ bị xếp vào thành phần “phản động”.

Những ai bị liệt vào loại “phản động” coi như đã tận số. Có lần, cán bộ Cộng sản chiếm được một làng nơi vị trưởng làng từng hợp tác với chính quyền Sài gòn. Việt Cộng đã bắt dân làng tập trung ngoài sân, có cả vị trưởng làng và gia đình ông ta. Trước mắt mọi người, họ chặt tay chân người vợ và các con vị trưởng làng, mặc cho họ gào thét đau đớn. Cuối cùng họ phanh thây vị trưởng làng. Sau khi bị ép buộc chứng kiến phiên tòa hãi hùng này, không một ai trong làng còn dám hợp tác với chính quyền địa phương nữa.

Trên đây không phải là một trường hợp riêng lẻ. Vào tháng hai, 1966, lực lượng Hoa Kỳ được lệnh giải thoát một làng ven biển ở tỉnh Bình Định. Một phụ nữ trẻ từng làm việc cho chính quyền miền Nam kêu gọi dân làng đừng chống đối. Cán bộ Cộng sản bắt chị, cột vào gốc dừa, và bắt dân tụ họp chung quanh. Trước tiên, cán bộ Cộng sản gào lên bản án hạch tội chị. Khi chị vùng vẫy, cán bộ Cộng sản giơ lên con dao cán dài, lưỡi con dùng để bổ dừa. Trong khi hai đảng viên Cộng sản khác ghì chị lại, tên cán bộ phóng dao đâm vào cơ thể chị, làm tan da nát thịt. Máu chị chảy ra ngoài và loang đầy đất. “Xử tử kẻ phản dân”, cán bộ Cộng sản đọc theo bản án trên giấy.” Đây là gương cho kẻ nào dám phản lại lực lượng giải phóng” Hắn xuyên một que tre qua tờ giấy và ghim vào vết thương của chị. Cán bộ Cộng sản bỏ mặc chị cho chết dần trong đau đớn để làm gương dọa dân làng.

Thế rồi chúng ta chỉ chú tâm đến lực lượng kháng chiến miền Nam, vốn do miền Bắc dựng nên và kiểm soát, chứng tỏ Hồ Chí Minh là một nhà phù thủy đại tài. Một nhà xảo thuật dựa vào sự nhanh tay, và điều tuyệt diệu nhất trong xảo thuật là cách dương Đông kích Tây. Trong lúc ảo thuật gia chuyển trái bóng từ vị thế thứ nhất sang vị thế thứ hai, ông ta phải chắc chắn rằng trăm con mắt khán giả đều đổ dồn vào trái bóng thứ ba. Sự thực là Bắc Việt Nam xâm lược miền Nam rất hiển nhiên với bất cứ ai để ý quan sát và nhận xét. Hoa Kỳ ý thức được các diễn biến này, nhưng đã không đưa ra được một kết luận hợp lý. Chúng ta chú tâm đến cái phông Hồ dựng lên - Mặt Trận Giải Phóng miền Nam – và như một nhà xảo thuật đại tài, Hồ đã cho chúng ta vào xiếc.

Quân đội và các chính trị gia Hoa Kỳ rơi vào bẫy của Hồ vì họ tự che mắt mình. Vào những năm đầu thập niên 1960, chiến thuật “chiến tranh cách mạng” của Cộng Sản đã làm mờ mắt các chiến lược gia của chúng ta. Mao đã sử dụng chiến tranh cách mạng để tiếm quyền tại Trung Hoa lục địa. Fidel Castro sử dụng nó tại Cuba. Vào tháng giêng 1961, Thủ Tướng Nga Xô là Nikita Khrushchev tuyên bố ông ta hỗ trợ cho “các cuộc giải phóng dân tộc” . Liên Xô đang tìm cách xâm lược các quốc gia này từ bên trong bằng cách cung cấp vũ khí cho các phong trào Cộng Sản ở những nước này thay vì phải tiến công qua biên giới.

Tổng Thống Kennedy tin tưởng rằng Cộng Sản xem các cuộc nổi dậy này như làn sóng của tương lai. Ông nói với một người hầu cận rằng ông đánh cuộc 9 ăn 1 là cuộc chiến trước mặt sẽ là chiến tranh cách mạng và Chiến tranh Việt Nam là thí dụ điển hình. Những người thân cận với Kennedy khuyên ông, và cả Johnson sau này, không nên tấn công Bắc Việt Nam cho tới khi dẹp yên lực lượng kháng chiến tại miền Nam. Lời khuyên của họ dựa trên căn bản ngây thơ rằng nếu chúng ta có thể dẹp yên các nguyên nhân tạo lực lượng kháng chiến trong nước, chúng ta không cần phải tấn công kẻ chủ mưu bên ngoài. Cố vấn chính trị của Kennedy không những ngây thơ mà còn thiếu khả năng nhận định căn bản. Họ đã không hiểu điều khác biệt quan yếu giữa chiến tranh du kích và cách mạng dân tộc. Chiến tranh du kích là một cách điều binh; chiến tranh cách mạng là một hình thức chính trị. Chiến tranh du kích tăng cường các hoạt động quân sự bình thường bằng cách cho các nhóm nhỏ thâm nhập vào bên trong chiến tuyến để phá rối, chặn tiếp vận, và khủng bố đối phương; chiến tranh cách mạng chủ trương lật đổ chính quyền dựa vào sự nổi dậy của dân chúng. Chiến tranh du kích giúp quân đội chính quy đạt đến thắng lợi bằng cách làm suy yếu địch quân; chiến tranh cách mạng đạt đến thành công bằng chính sự nổi dậy của người dân.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét