Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 7 (Tiếp theo)

TẦM CỠ LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ TRUNG – VIỆT66
Quả thực, ít ai có thể hiểu được bản chất sâu xa của mối quan hệ Trung – Việt, sự quan tâm của Trung Quốc đối với bán đảo Đông Dương và ngược lại thái độ của nhân dân các nước Đông Dương đối với Trung Quốc mà không tham khảo thường xuyên quá khứ xa xưa nhất. Không phải vì quá khứ đó không tránh khỏi quyết định hướng phát triển hiện nay, ngay cả khi nó chứng kiến những điều không thay đổi hàng nghìn năm nay. Nhưng dần dần, các thế kỷ trôi qua tạo nên những mối liên hệ về văn minh và trau dồi ý thức dân tộc đến nỗi lịch sử không chỉ là một chuỗi tình hình nối đuôi nhau theo trình tự thời gian, lịch sử cũng tự nó là một nhân tố tự trị, giải thích từng phần mỗi lúc trong cuộc sống của một dân tộc. Phải chăng thông qua khái niệm mà các nhà lãnh đạo đã làm cho lịch sử tiến hóa có vai trò khi họ đưa ra những quyết định.

Có lẽ không phải là vấn đề nhắc lại đầy đủ mọi khía cạnh trong quan hệ Trung–Việt trải qua các [64] thế kỷ67. Nhưng có lẽ sẽ không phải là vô ích khi nêu lên những kết luận chủ yếu rút ra trong việc nghiên cứu tỉ mỉ các mối quan hệ đó.

Việt Nam: một nước đã từng triều cống Trung Quốc
Thực tế, trong chừng mực nước Việt Nam hiện thời là một quốc gia duy nhất trong vùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn minh Trung Hoa thì đó là một trường hợp duy nhất ở Đông Nam Á. Việt Nam vốn là một nước từ Trung Quốc mà hình thành nên68. Từ cuối đời Tần (thế kỷ thứ III trước công nguyên - tCn)69 [65] cho đến cuối đời Đường (thế kỷ thứ V) đất Việt gần như thường xuyên bị sáp nhập vào đế chế Trung Hoa với quy chế của một phong địa quân sự (đất phong cho tướng võ có công - ND) như dưới thời Hán, hoặc của một đất bảo hộ như dưới thời Đường70. Thế kỷ thứ X, khi Đại Việt thành một vương quốc “độc lập” thì đất nước cũng vẫn theo văn minh Trung Hoa. Không phải là cư dân Việt không duy trì được bản sắc văn hóa của riêng họ, không phải là không có những ảnh hưởng khác từ bên ngoài vào như Malay, Indonesia hoặc Ấn Độ và để lại dấu ấn trên nền tảng văn hóa bản địa. Nhưng sự xâm nhập của Trung Quốc có địa vị ưu thế đến nỗi không thể bác bỏ được rằng Vương quốc (Đại Việt) là sự kéo dài của thế giới Trung Hoa. Đặc biệt Nho giáo được đưa vào dần dần từ đời Hán, đã làm cho bộ máy Nhà nước và xã hội Việt mang những đặc điểm rất Trung Hoa, nhất là các thể chế công cộng và tư nhân: tổ chức vương quốc, bộ máy quan lại, quan hệ xã hội, v.v…

Vừa mới giành được “độc lập”, quốc gia mới mẻ này đã nhận phiên thuộc Trung Quốc (từ năm 972). Suốt 9 thế kỷ quan hệ phiên thuộc của Đại Việt đối với Trung Quốc đã duy trì Đại Việt trong phạm vi đất chư hầu của Trung Quốc. Tùy theo tình hình bên trong nước Trung Hoa hoặc bên trong vương quốc (Đại Việt) mà mối liên hệ phiên thuộc đó có thể nới lỏng một thời gian. Ở những thời kỳ khác, ngược lại sự áp chế của Trung Quốc có nhiều tính chất xâm lược hơn. Dưới triều Tống, Nguyên, Minh và Thanh, Đại Việt nhiều lần chịu ách [66] chiếm đóng quân sự của nước láng giềng hùng mạnh. Nhưng nhìn toàn cục, trong quan hệ hai nước hình thành một thế cân bằng nào đó, được xác nhận bằng việc Đại Việt triều cống đều đặn Trung Quốc.

Cần có đôi lời bình luận về chế độ triều cống này, kéo dài cho đến khi Pháp chiếm Việt Nam,71 là chỗ dựa độc nhất của mối quan hệ Việt–Trung cho đến cuối thế kỷ XIV. Thật ra, lệ triều cống không đơn giản nói lên sự quy phục của một nước ở biên cương đế chế Trung Hoa. Giữa hai nước cùng theo Nho giáo như Đại Việt và Trung Hoa, lệ triều cống đánh dấu sự quy phục thật sự, đồng thời còn là biểu hiện của một thứ “quan hệ qua lại”. Tất nhiên, mối quan hệ giữa bá chủ và chư hầu chủ yếu dựa trên sự bất bình đẳng, nhưng việc nộp cống cũng phản ánh một dạng “liên kết” nào đó của Đại Việt vào đế chế Trung Hoa, một ý thức nào đó tham gia vào cùng một trật tự chung. Triều Đại Việt cần được Trung Quốc tấn phong để mọi người phải thừa nhận mình cũng giống như một quốc gia hiện đại thời nay không thể bỏ qua sự thừa nhận quốc tế để tồn tại. Vả lại, theo quan điểm của Trung Quốc, khái niệm hai quốc gia riêng biệt tỏ ra không thích hợp mấy. Đúng hơn là thay bằng khái niệm hai thế giới tiếp giáp nhau: thế giới văn minh và thế giới không văn minh. Thế giới văn minh, theo Nho giáo, phải tuân lệnh Hoàng đế (chúng ta gọi là Hoàng đế Trung Hoa): muốn tham dự vào thế giới văn minh đó, bao gồm cả Đại Việt vì Đại Việt dùng chữ viết Trung Hoa theo lễ giáo Trung Hoa [67] là những biểu tượng của văn minh, thì Đại Việt không có lối thoát nào khác là tỏ ra thân thuộc đối với Hoàng đế72.

Như thế có nghĩa là việc triều cống, thật ra, bao gồm hệ một hệ thống quan hệ hết sức phức tạp. Đối với Trung Quốc, nó phản ánh sự lệ thuộc tối đa, trong đó, Trung Quốc có thể hy vọng duy trì sự bảo hộ đối với nước Việt mà không gây nên một sự phản ứng “dân tộc” nào của người Việt. Đối với Đại Việt, trái lại, việc triều cống lại phản ảnh nền độc lập tối đa có thể có được, nhưng lại không gây ra sự phản ứng “đế quốc” của Trung Hoa. Trong trường hợp này cũng như trường hợp kia, vì cả hai nước đều theo Nho giáo nên việc triều cống chứng tỏ ít ra một phần là cả hai nước73 cùng chung một quan điểm về giá trị của cống vật.

Vì vậy, không có gì ngạc nhiên rằng Đại Việt và sau đó từ thế kỷ XIX, Việt Nam,74 luôn luôn đã được Trung Quốc coi như là một quốc gia có một vị trí đặc biệt đối với Trung Quốc. Vào đầu thế kỷ XX [68] Tôn Dật Tiên coi Việt Nam nằm trong “phần đất đã mất của Trung Quốc75. Gần chúng ta hơn, chủ tịch Mao Trạch Đông, năm 1939 đã kết tội Pháp chiếm An Nam bằng cùng một lời lẽ giống như khi kết tội Anh chiếm Hongkong hay Bồ Đào Nha chiếm Macau76. Thực tế là trở lại việc sát nhập, như Tôn Dật Tiên đã làm, An Nam vào “phần đất đã mất”.

Không tính đến ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống đó chắc chắn sẽ là một sai lầm lớn. Di sản của lịch sử để lại là Trung Quốc không thể xem vấn đề Việt Nam là hoàn toàn “xa lạ” đối với mình77. Vả lại đế chế Trung Hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ “hòa bình kiểu Trung Quốc” đối với vùng đất biên cương phía nam. Và điều đó sẽ được thật sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng tại Genève. Một mặt, một yêu cầu bức thiết về quân sự: nền an ninh của các tỉnh phía nam Trung Hoa tùy thuộc vào hòa bình ở Việt Nam, đó là một thực tế. Mặt khác, một yêu cầu bức thiết về kinh tế: thung lũng sông Hồng là thị trường tự nhiên của [69] các tỉnh phía nam của Trung Quốc78 đó là một thực tế nữa.
Về phía Việt Nam cũng cái di sản lịch sử đó bắt họ phải chịu những sự ép buộc như thế, muốn coi thường cũng không được. Về mặt văn hóa, sự hấp dẫn đối với một nền văn minh đã ngự trị và thấm sâu vào toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhưng ngược lại về phía Việt Nam một ý chí mạnh mẽ và kiên trì, muốn trút bỏ ảnh hưởng của nền văn minh đó để khẳng định hơn nữa cá tính sâu sắc của Việt Nam. Về mặt chính trị: mối quan tâm tha thiết bảo vệ nền độc lập mỏng manh và khó khăn trong khi thừa biết rằng nền độc lập đó chỉ có thể đảm bảo và duy trì được được với sự thỏa thuận của Trung Quốc.

Ngoài ra, phải chăng cần nhắc lại rằng chính sự can thiệp của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã chấm dứt tình trạng phiên thuộc kéo dài hàng nghìn năm của Việt Nam đối với Trung Hoa? Chính là thắng lợi của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp – Trung (1884-1885) đã buộc đế quốc Mãn Thanh đang suy vong phải từ bỏ, bằng hiệp ước Thiên Tân (9/6/1985) quyền bá chủ của mình và thừa nhận nền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Giai đoạn lịch sử này là thiết yếu đối với ai muốn tìm hiểu thái độ của Trung Quốc ở Genève. Không những cái “hiệp ước bất bình [70] đẳng” mới mẻ đó làm hại đến uy tín đã bị sứt mẻ của đế chế Trung Hoa mà còn làm mất đi ở sườn phía nam mọi sự phòng thủ chống lại sự bành trướng của Pháp. Năm 1881, Tăng Kỷ Trạch [曾\u32000 紀澤/Tseng Chi-tse] đã nói: “nước An Nam ở sát bên cạnh Trung Quốc: an ninh xứ này có liên quan đến chúng ta. Việc bảo vệ An Nam chẳng khác gì việc bảo vệ những tỉnh phía nam Trung Quốc”79.

Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai tướng Raoul Salan, người ta đã thương lượng một trong các hiệp định Trùng Khánh [重庆] (28/2/1946) quy định việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa ở Đông Dương, còn ghi nhận: “Trung Quốc còn giữ [71] lại từ thời kỳ đó, một mối ác cảm ít nhiều đối với Pháp và Anh”80. Đại tá Li Tsiou trong Bộ tham mưu Trung Quốc cũng nhận xét: “Chúng tôi khó chịu khi trao trả Đông Dương cho các ông. Như Mông Cổ và Tây Tạng, Đông Dương của các ông vốn thuộc Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, đó là một trong những nước chư hầu của chúng tôi”81.

Cuối cùng, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nhất là ở Nam Kỳ và những nhu cầu về nhân công, đã lôi cuốn một số dân Trung Hoa vào Đông Dương tạo nên cho Trung Quốc có thêm một mối liên hệ với Việt Nam. Cuộc điều tra dân số cuối cùng năm 1937, đã đưa đến kết quả sau: Nam Kỳ có 171.000 Hoa kiều, Bắc Kỳ 35.000 và Trung Kỳ 11.000, tổng cộng 217.000 Hoa kiều trên toàn Việt Nam82. Nhưng sau chiến tranh thế giới, số dân Hoa kiều này tăng lên khá mạnh. Đúng là năm 1984 ước tính bao gồm cả Campuchia và Lào, là 850.000 Hoa kiều. Và đến năm 1953, một nguồn khác đưa ra con số 544.000 Hoa kiều “hợp pháp và được kiểm tra” riêng ở miền Nam Việt Nam83. Nếu Hoa kiều ở Việt Nam chưa phải chiếm số đông nhất so với các nước khác ở Đông Nam Á thì đó là một cộng đồng chính trị quan trọng không kém ở ngay sát biên giới Trung Hoa và [72] sẽ rất mau chóng trở thành một đối tượng giành giật giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập84.

Cách mạng Việt Nam và Trung Quốc.
Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, nhưng không phải vì vậy mà thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Vào cuối thế kỷ XIX những tư tưởng cải lương của Lương Khải Siêu [Liang Qi Shao] hoặc Khang Hữu Vi [Kang Youwei] đã có ảnh hưởng rộng lớn trong một số sĩ phu Việt Nam. Vả lại cũng chính là qua các bản dịch tiếng Trung Quốc, nhất là của Nghiêm Phục [严复] (1853-1921) mà những sĩ phu này đã tìm đến triết học thế kỷ XVIII của châu Âu, từ đó hình thành những trào lưu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đầu tiên của Việt Nam85. Đầu thế kỷ XX, Trung Hoa đã gắn bó mật thiết với chủ nghĩa dân tộc hiện đại của Việt Nam. Chính là lúc cách mạng thắng thế ở đế chế Trung Hoa mà Phan Bội Châu (1867-1940), chuyển từ chủ nghĩa quân chủ sang luận thuyết cộng hòa. Dưới ảnh hưởng của Tôn Dật Tiên [孫逸仙] và Đồng minh hội, năm 1912, ông tổ chức Việt Nam phục quốc đồng minh hội (đúng là Việt Nam Quang phục hội – N.D.) ở Quảng Châu, tập hợp phần lớn những người Việt Nam lưu vong, theo chủ nghĩa dân tộc. Từ đó, [73] nước Trung Hoa nhờ tư tưởng cũng như nhờ nơi ẩn náu và những thuận lợi mà Trung Hoa đem lại, không ngừng là trung tâm của cách mạng Việt Nam.

Phong trào Ngũ Tứ (mồng 4/5/1919) cũng như việc Tôn Dật Tiên đề ra chủ nghĩa Tam dân cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam. Đảng quốc gia của Việt Nam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập năm 1927 tại Hà Nội là một tiếng vang trung thành của Quốc dân đảng Trung Hoa: tổ chức giống nhau, chủ nghĩa giống nhau và hi vọng chấm dứt chế độ thống trị của Pháp với sự giúp đỡ của Trung Hoa dân quốc86. Chính ở miền Nam Trung Quốc, ở Quảng Tây, ở Vân Nam và nhất là ở Côn Minh [Kunming/昆明] mà những nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng tìm được nơi ẩn náu tự nhiên khi họ bắt buộc phải lưu vong để tránh khủng bố của Pháp ở Đông Dương kể từ 1939-1940.

Ngay từ đầu những năm 1920, chính người cộng sản Trung Quốc và người cộng sản Việt Nam cũng đã có những mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Năm 1922, chính Hồ Chí Minh đã gặp Chu Ân Lai [周恩來/Zhou Enlai] ở Paris87. Nơi đây cả hai người dốc sức tổ chức những người châu Á trong những nhóm cực tả ở thủ đô. Ba năm sau, sau một thời gian ở Moskva, Hồ Chí Minh được Quốc tế cộng sản phái về Quảng Châu [广州/Guǎngzhōu]. Ở đây, ông thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (hoặc gọi tắt là Thanh niên), đồng thời mở lớp huấn luyện chính trị, theo học có Phạm Văn Đồng, sau này là Phó thủ tướng của Việt Nam dân chủ cộng hòa [74] người dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Minh tại Genève88. Được Đảng cộng sản Trung Quốc giúp đỡ, nhóm này có quan hệ một thời gian với trường Đại học quốc gia về phong trào nông dân bấy giờ do Mao Trạch Đông làm hiệu trưởng trong khuôn khổ Quốc – Cộng hợp tác. Ngoài ra nhiều hội viên “Thanh niên” thi nhau gia nhập Đảng cộng sản Trung Quốc (đôi khi họ mang tên Trung Quốc) như Hồ Tùng Mậu sau này được Hồ Chí Minh giao cho lãnh đạo Hội Thanh niên sau cuộc khủng hoảng 192789.

Như vậy có nghĩa là ngay từ đầu phong trào cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với phong trào cộng sản Trung Quốc, ở đó những người cộng sản Việt Nam đã tìm thấy sự giúp đỡ to lớn và cả sự phác họa về tư tưởng chính trị, đáp ứng một phần sự quan tâm đến dân tộc của chính họ. Vì vậy, Đảng cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh thống nhất ngày 3/2/1930 ở Hongkong, đã gần gũi lâu dài với Đảng cộng sản Trung Quốc, ngay cả trong những lúc gian nan nhất, sau thất bại của cuộc nổi dậy ở Nghệ An [Xô Viết Nghệ Tĩnh] (mùa xuân năm 1930), cuộc nổi dậy chịu ảnh hưởng một phần của phong trào các Xô Viết Trung Hoa nổ ra năm 1927.

Những năm Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Quốc từ 1938 đến 194590 làm cho mối liên hệ đó bền chặt [75] thêm. Ở đó ông ta tiếp xúc thường xuyên với Chu Ân Lai, sau đó nhất là với tướng Diệp Kiếm Anh [Ye Jianying/叶剑英] (lúc này Hồ Chí Minh có quan hệ với Bát lộ quân ở Quý Dương [贵阳/Guìyáng], [tỉnh] Quí Châu [贵州/Gùizhōu] và Hành/Hoành Dương [衡阳/Héngyáng] (nguyên văn là Quế Dương, Quế Châu và Hàm Dương, người biên tập điều chỉnh), Hồ Nam [湖南/Húnán]. Những biện pháp khủng bố gắt gao của nhà đương cục Pháp đối với những người cách mạng Việt Nam cuối 1939 – đầu 1940 đã làm số đông những người lãnh đạo Đảng cộng sản Đông Dương cùng với những người theo chủ nghĩa quốc gia, nhất là những đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng chạy sang Vân Nam. Rất nhiều người làm ăn sinh sống ở dọc đoạn đường sắt Côn Minh–Hải Phòng trên đất Trung Quốc, và với sự giúp đỡ của Đảng bộ cộng sản Trung Quốc ở Vân Nam, đã lập lại cơ sở hạ tầng của Đảng được che giấu dưới tên “Hội ủng hộ Trung Quốc chống Nhật”. Từ tháng 5/1940, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp từ trong nước ra, đến liên lạc với nhóm này ở Côn Minh. Mối quan hệ giữa hai đảng còn được khẳng định rõ nét hơn nữa khi hai đảng ký kết một bản thỏa thuận về hợp tác tháng 8/1940: Trong lúc Đảng cộng sản Trung Quốc hướng dẫn cho Đảng cộng sản Đông Dương hoạt động, nhất là nhận đào tạo cán bộ Việt Nam tại trường Đại học chống Nhật ở Diên An [延安/Yan'an, thuộc tỉnh Thiểm Tây/陕西/Shǎnxī], thì Đảng cộng sản Đông Dương, về phần mình, cam kết hoạt động trong khuôn khổ Mặt trận thống nhất kháng Nhật đồng thời đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Pháp91.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét