Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Genève 1954)

Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 6 (Tiếp theo)

Phá thế cô lập với phương Tây.

Quả vậy, triển vọng của sự cần thiết mở cửa về kinh tế với bên ngoài đặt ra vấn đề quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và cộng đồng quốc tế không xã hội chủ nghĩa.


Khi hội nghị Genève khai mạc, chỉ mới có 20 nước có quan hệ ngoại giao với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trong đó 11 nước là những nước xã hội chủ nghĩa. Đi đầu là Liên Xô, đặt quan hệ với Bắc Kinh ngày 3/10/1949, theo sau là tám nước dân chủ nhân dân khác, trong cùng tháng đó, rồi đến lượt Anbani ngày 23/11/1949, và sau cùng trong loạt đầu tiên các nước đặt quan hệ với Trung Hoa nhân dân là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 18/1/195046 chậm 3 tháng so với các nước xã hội chủ nghĩa khác. [52]

Bảng 4


Nước Trung Hoa theo cách diễn đạt của Mao Trạch Đông đã “đứng hẳn về một bên” [nhất biên đảo]. Quan hệ với phe xã hội chủ nghĩa nhất là với Liên Xô trong nhiều năm, là trung tâm của chính sách đối ngoại. Vào mùa xuân năm 1954, hiệp ước đồng minh Trung-Xô, ngày 14/2/1950 chắc chắn là một trong những luận cứ chủ yếu của sự cân bằng chiến lượng ở Viễn Đông47a. [53]

Tuy nhiên việc kéo dài đàm phán mới ký kết được hiệp ước nói trên, việc Liên Xô áp đặt thời hạn cho việc từ bỏ những lợi ích của họ ở Trung Quốc, việc đòi bồi hoàn trong một số trường hợp, ý muốn của Liên Xô muốn lập các công ty Xô–Trung để tham gia khai thác ở Tân Cương là bấy nhiêu dấu hiệu của những mối bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc đằng sau những hiệp định nói trên. Việc nước Nga Sa hoàng tham dự vào việc phân chia đế chế Trung Hoa cũ và mối quan hệ khó khăn giữa Stalin và Đảng cộng sản Trung Quốc trong những năm trước “giải phóng” hãy còn quá mới trong tâm trí nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc để trong một ngày có thể xóa đi hằng chục năm giữ kẽ với nhau, hoặc thậm chí kình địch thật sự với nhau. Có nghĩa là nếu sự liên minh với Liên Xô đem lại cho chế độ mới của Trung Quốc một sự ủng hộ bên ngoài về quân sự và kinh tế tuyệt đối cần thiết với Trung Quốc thì ngược lại sự liên minh đó không phải là không đặt ra với Trung Quốc một vài vấn đề quan trọng. Kể từ năm 1956, Mao Trạch Đông đã công khai nói ra những khó khăn ông ta đã phải vượt qua trong năm 1949-1950 để ký được hiệp ước 14 tháng 247b.

Nói chung, phần đông các chuyên gia và những người có trách nhiệm về chính trị ở phương Tây đều tin rằng có những khó khăn đó.

W. Rostow, chẳng hạn, chỉ tin ở tính bền vững của liên minh Trung – Xô trong chừng mực sự liên minh đó cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Đối với W. Rostow, sự bành trướng cộng sản, dù là của Liên Xô ở châu Âu hay của Trung Quốc ở châu [54] Á, chỉ giải thích được rằng các chính phủ Moskva và Bắc Kinh liên minh với nhau là để chống kẻ thù chung: Mỹ và Nhật Bản. Nhưng ông ta thêm:
“Điều cũng có thể đúng sự thật là một số đông những người cộng sản Trung Quốc, trong khuôn khổ các mối quan hệ chặt chẽ và liên tục với Liên Xô, gây sức ép nhằm những mục tiêu như sau: Các lực lượng vũ trang Trung Quốc ngày càng độc lập đối với cố vấn và trang bị của Liên Xô; Liên Xô thu hẹp quyền lực và giảm bớt sự mặc cả ở vùng biên giới; Trung Quốc phụ thuộc đến mức tối thiểu về ngoại thương với khối cộng sản; và nói chung Liên Xô chỉ có khả năng tối thiểu tác động trực tiếp, kiểm soát hoặc thậm chí theo dõi sự phát triển bên trong của chế độ cộng sản Trung Quốc”48.

Một nhà quan sát thành thạo như Robert C. North cũng cho rằng “sẽ phạm sai lầm nếu nghĩ rằng chính sách của Trung Quốc tất yếu là chính sách của Nga”49. Ông ra viết: “Chắc chắn là những xung khắc giữa cộng sản Trung Quốc và cộng sản Nga có thể sẽ ngày càng trầm trọng mà Mỹ và đồng minh phải tìm cách phát hiện và khai thác”50.

Như vậy, Bộ Ngoại giao (Pháp) cũng nghĩ là có thể thấy rõ “một vài sự khác ý” giữa Trung Quốc và Liên Xô. Theo Bộ đó, chuyến đi thăm Moskva của Kim Nhật Thành [Kim Il Sung] cuối 1953 đã “rõ ràng đưa ra ánh sáng sự sa sút ảnh hưởng của Trung Quốc và việc lập lại [55] ưu thế Nga ở Bắc Triều Tiên”. Nhưng lời phát biểu của Kim Nhật Thành về “Liên Xô là người bạn trung thành và gần gũi nhất của nhân dân Triều Tiên” đã được đặt ra một cách cẩn thận. Đồng thời, theo các nhà quan sát nước ngoài, lập trường của Trung Quốc và Liên Xô trong việc tổ chức hội nghị bàn về vấn đề chính trị ở Triều Tiên, tỏ ra có sự khác nhau. Tháng 8/1953, Liên Xô đề nghị với các nước trung lập ngoài châu Á (Ba Lan, Tiệp Khắc, Syria, Ai Cập, México) tham gia hội nghị trong khi Trung Quốc hồi tháng 9 cùng năm đó, lại đề nghị một danh sách các nước trung lập châu Á (Miến Điện, Indonesia, Pakistan, Ấn Độ). Cuối cùng, Bộ Ngoại giao (Pháp) cho rằng “sự vụng về của Visinski [Андре́й Я. Выши́нский] đưa ra không đúng lúc vấn đề Trung Quốc gia nhập Liên hợp quốc” “có lẽ không phải hoàn toàn là ngẫu nhiên”51. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao Pháp cũng nói thêm rằng “tuy nhiên cũng phảo đề phòng là không nên cường điệu ý nghĩa của các dấu hiệu đó. Chính phủ Bắc Kinh - mà sự trung thành về mặt học thuyết là không có gì phải hoài nghi trong hoàn cảnh hiện nay, hết sức cần đến sự viện trợ của Liên Xô để thực hiện kế hoạch công nghiệp hóa”. Tóm lại, mặc dù có nhiều dấu hiệu tỏ ra có sự không ăn ý nhau giữa Moskva và Bắc Kinh, người ta còn do dự trong việc chấp nhận rằng hai nước có thể tiến hành những chính sách đối ngoại khác biệt: “Người ta sẽ chứng kiến một ngày kia sự phân chia lãnh thổ Âu – Á này ra hai khu vực ảnh hưởng, một ở phía tây dành cho Moskva, một ở Viễn Đông dưới sự bảo trợ của Bắc Kinh. Tuy nhiên, có thể là vô ích và nguy hiểm [56] nếu xây dựng một chính sách dựa trên những hi vọng xa xôi và có thể sẽ là ảo tưởng”52.

Đó cũng là sự phân tích gần giống với những điều mà các bộ trưởng ngoại giao Pháp, Anh, Mỹ trình bày trong cuộc gặp gỡ tại Bermuda (từ 4 đến 7/12/1953). G. Bidault, trong cuộc gặp ngày 4/12 đã nhấn mạnh rằng “theo ông ta, những mối quan hệ giữa hai nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên Xô không thoải mái như người ta tưởng”. Việc gọi đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc Kuznetsov [Василий В. Кузнецов] về Moskva tỏ ra có ý nghĩa đối với cách nhìn đó của ông ta*.

Ba ngày sau trong cuộc họp ngày 7, J. Dulles đưa ra một luận điểm rất gần với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp. Trong khi thừa nhận rằng “tình trạng quan hệ giữa Bắc Kinh và Moskva có vẻ không rõ ràng đối với ông ta”. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có sự “khó khăn giữa hai thủ đô”, ông ta nói thêm rằng “tính chất tế nhị của các mối quan hệ đó (…) là do ở Mao Trạch Đông, một lãnh tụ quan trọng có uy tín nhiều hơn cả bản thân G. Malenkov [Гео́ргий М. Маленко́в] khó mà các nhà lãnh đạo mới của Liên Xô có thể ra lệnh cho ông ta. Nếu người Nga đề cao Mao, chính là vì họ cảm thấy bắt buộc phải cư xử với ông ta như là người cùng phe cánh và bình đẳng”*. Điều đó dẫn J. Dulles đến kết luận; “Ở đó có một nhân tố có thể sử dụng nếu người ta muốn khai thác một vài sự chia rẽ trong phe cộng sản”*. [57]

Những khó khăn tiềm tàng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô càng tô đậm thêm quan hệ giữa Bắc Kinh với các thủ đô của thế giới trung lập châu Á, mặc dù những mối quan hệ đó còn chưa mở rộng lắm. Đến trước hội nghị Genève, mới có bốn nước của thế giới thứ ba thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tất cả đều là những nước trung lập ở Nam Á và Đông Nam Á: Ấn Độ, Miến Điện, Indonesia năm 1950, Pakistan năm 1951.

Bảng 5


Quan hệ Trung - Ấn là trụ cột của toàn bộ các quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trung lập châu Á. Tuy nhiên, cho đến mùa xuân năm 1954, quan hệ Trung - Ấn còn rất sơ sài, mới chỉ có vài hợp đồng cung cấp [58] ngũ cốc được ký kết năm 1951 và 1952. Chỉ đến khi ký hiệp ước về Tây Tạng ngày 29/4/1954, sau khi hội nghị Genève khai mạc được ít ngày53 mới đánh dấu bước khởi đầu thật sự của sự xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Ấn Độ54. Một tình hình tương tự trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với Miến Điện và Indonesia từ tháng 5/1951 cho đến năm 1954 mới chỉ đem lại những kết quả hết sức hạn chế. Hiệp định thương mại đầu tiên với Miến Điện chỉ được ký vài ngày trước khi khai mạc hội nghị Genève ngày 22/4/195455 hai hiệp định thương mại với Indonesia được ký ngày 12/4/1952 và 30/11/1953 (hiệp định đầu chỉ là bán chính thức); ba hiệp định với Pakistan ký ngày 12/4/1952 (bán chính thức) và 14/3/195356.

Năm 1954, những quan hệ đó là một trong những “cửa sổ” hiếm hoi của Trung Quốc mở ra với thế giới bên ngoài không phải là xã hội chủ nghĩa. Việc mở cửa này càng có ý nghĩa ở chỗ hai trong số các nước đó, Ấn Độ và Pakistan đều là thành viên của khối Thịnh vượng chung (Liên hiệp Anh) và Chính phủ Bắc Kinh có thể hy vọng, bằng con đường này, thiết lập một vài cuộc tiếp xúc có ích với người Anglo-Saxon. Nhưng phạm vi hạn chế của những quan hệ đó [59] cũng nói lên sự cô lập của Trung Quốc trên trường quốc tế. Thật là ít ỏi nếu sau ba năm Trung Quốc mới đi đến chỗ khai thác những quan hệ ngoại giao đã được thiết lập với châu Á trung lập trong những năm 1950-1951.

Ngoài ra, ở Tây Âu mới có sáu nước công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Vương quốc Liên hiệp Anh lo lắng duy trì quyền lợi ở Hongkong và ở Trung Hoa lục địa, đã đi đầu trong việc này ngày 6/1/1950, nhưng 4 năm sau quy chế đại diện Anh tại Trung Quốc vẫn chưa được quy định và sự rắc rối giữa London và Bắc Kinh vẫn còn nguyên vẹn57. Hà Lan đã công nhận Trung Hoa nhân dân ngày 27/3/1950, nhưng vẫn chưa trao đổi đại diện ngoại giao mà đáng lẽ phải được phái đến rồi. Thụy Điển và Đan Mạch, ngược lại, đã đặt quan hệ ngoại giao bình thường với chế độ mới từ tháng 5/1950, trong lúc Thụy Sĩ và Phần Lan nối tiếp nhau công nhận Trung Hoa nhân dân vào những tháng sau. Cuối cùng, đến trước hội nghị Genève, khả năng bình thường hóa quan hệ giữa Trung Quốc và Na Uy được đặt ra58.

Con số hạn chế các nước Tây Âu đặt quan hệ với Trung Quốc chủ yếu là do “sự phủ quyết” do Mỹ áp đặt đối với mọi hình thức, làm dịu tình hình căng thẳng, về ngoại giao hoặc về thương mại, với “Trung Hoa đỏ” trong thời kỳ khủng hoảng Triều Tiên. Các cường quốc châu Âu, tất cả đều bận tâm xây dựng lại nền kinh tế của họ, và do đó tất cả đều phụ thuộc nhiều, ít về tài chính với Mỹ, không thể tự cho phép có một lập trường căn bản khác với Mỹ trong thái độ với [60] Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đúng là cách cư xử của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu cũng không khuyến khích các nước Tây Âu công nhận Trung Quốc.

Bảng 6


Sau cùng, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã khiến cho Mỹ vội vã thành lập một hệ thống an ninh quan trọng ở châu Á và Thái Bình Dương.

Ngay từ ngày 17/10/1950, chính phủ Washington đã ký với Thái Lan một hiệp ước viện trợ, theo đó, Mỹ cung cấp vũ khí cho quân đội Thái Lan và cử một phái đoàn quân sự đến Bangkok59. Sau đó, với hội nghị San Francisco, những hiệp định [61] tương trợ tăng thêm nhiều. Ngày 31/8/1951, Mỹ ký với Philipines - mà Mỹ đã trao trả độc lập cách đây mấy năm - một hiệp ước tương tự được Manila chuẩn y vào tháng 8/1952. Ngày 1/9 khối ANZUS được thành lập (gồm Australia, New Zealand, Hoa Kỳ). Đó là một hiệp ước an ninh ba bên, theo đó Washington cam kết bảo vệ hai nước ở Thái Bình Dương chống lại sự đe dọa “có thể từ nước Nhật Bản tái vũ trang hoặc từ Trung Hoa cộng sản”60. Cuối cùng, ngày 8/9/1951, Mỹ và Nhật Bản ký hiệp ước hòa bình và hiệp ước phòng thủ đối chọi với liên minh Xô–Trung ký kết trước đó một năm rưỡi.
Hệ thống an ninh Mỹ đã được mở rộng từng phần đến cả Đông Dương, ít nhất cũng là một cách gián tiếp. Tuyên bố của Harry S. Truman ngày 27/6/1950 đã liên kết cố gắng của Pháp với chính sách của Mỹ ở biển [Nam] Trung Hoa (tức biển Đông – N.D.), bởi vì trong các biện pháp do Tổng thống Mỹ quyết định nhằm đối phó với sự xâm lược cộng sản ở châu Á có việc trang bị cho quân đội liên hiệp Pháp cũng như đặt một phái đoàn quân sự Mỹ ở Đông Dương61. Ngày 18/5/1951, đã có một cuộc họp ban tham mưu Mỹ, Pháp, Anh ở Singapore nhằm xây dựng chiến lược phòng thủ chung ở Đông Nam Á, đặc biệt ở Đông Dương62. Các cuộc tham khảo ý kiến khác, tiến hành đầu năm 1952 đã đưa đến cuộc họp [62] vào tháng 10 năm đó, giữa năm nước, ngoài đại biểu Pháp, Anh, Mỹ còn có đại biểu Australia, và New Zealand. Tháng 4/1953, một cuộc hội nghị mới họp ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) quyết định thành lập Bộ tham mưu đồng minh thường trực (Staff Agency) gồm năm nước, có nhiệm vụ đảm bảo việc tiếp xúc thường xuyên giữa các thủ đô có liên quan cũng như phối hợp các cố gắng quân sự ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương63.

Các buổi họp này, về thực chất đã báo hiệu các cuộc thương lượng, vào cuối năm 1953, nhắm đi đến một hiệp ước an ninh nhiều bên ở vùng này64.

Vào thời gian trước hội nghị Genève, ngoài hệ thống các hiệp ước khác nhau nói trên, còn phải kể thêm hiệp ước phòng thủ chung Mỹ - Triều Tiên ký ngày 8/8/1953 và khoảng cuối năm 1953 và đầu năm 1954, triển vọng hợp tác quân sự chặt chẽ giữa Hoa Kỳ và Pakistan65.

Bấy nhiêu yếu tố gắn liền với nhau, chỉ có thể làm cho Bắc Kinh thấy đó là sự đe dọa trực tiếp đến nền an ninh của Trung Quốc.

Nhưng những nhân tố chính trị, kinh tế hoặc chiến lược trong lúc này không phải là những nhân tố duy [63] nhất quyết định thái độ của Trung Quốc đối với vấn đề Đông Dương. Tính truyền thống lâu dài trong quan hệ với Việt Nam và ở trình độ thấp hơn với Lào và Campuchia cũng sẽ đóng vai trò quyết định.

(Còn tiếp)

47a Xin nhắc lại rằng “Hiệp ước hữu nghị đồng minh và tương trợ” trước hết là một hiệp định phòng thủ chống mọi cuộc “xâm lược mới” của Nhật Bản hoặc của một nước đồng minh của Nhật” (điều 1).
47b Mao Trạch Đông: Tuyển tập, tập V, tr. 328.
48 W. Rostow, sđd tr. 131.
49 C. North: Moscow and the Chinese Communists (Moskva và cộng sản Trung Quốc) Stanford University press, 1953, tr. 270.
50 C. North, sđd, tr. 277.
51 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á – châu Đại Dương 15/10/1953), bản ghi nhớ về Trung Quốc, tr. 5-6.
52 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á – châu Đại Dương 26/11/1953), bản ghi nhớ về Trung Hoa nhân dân, tr. 5-6.
* Từ đây, những dấu (*) là để chỉ những nguồn tài liệu chính thức chưa được phép công bố.
53 Xem chương IV.
54 Về đại cương mối quan hệ Trung - Ấn trước 1954, xem chương VIII.
55 Về đại cương mối quan hệ Trung -Miến vào thời kỳ này, xem chương VIII.
56 Về các hiệp định này xem D. M. Johnston & Hungdah Chiu, sđd.
57 Về việc tiến triển quan hệ Anh–Trung Quốc, xem chương V.
58 Việc này sẽ diễn ra ngày 5/10/1954.
59 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á – châu Đại Dương 30/11/1950). Bản ghi nhớ về vấn đề an ninh Thái Bình Dương.
60 Như trên, tr. 2.
61 The Department of State Bulletin, 3/7/1950. Bản tiếng Pháp trong Bulletin quotidien de presse étsrangere số 1614, 28/6/1950.
62 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á – Châu Đại Dương 30/11/1953), tr. 4-6.
63 Staff Agency họp ba lần, 15-30/6/1953 ở Pearl Harbor, tháng 2/1954 ở Singapore, xem chương II.
64 Vấn đề phòng thủ Đông Dương chống lại sự can thiệp của Trung Quốc sẽ đề cập ở chương II.
65 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á – châu Đại Dương 30/11/1953). Bản ghi nhớ về vấn đề giao lại căn cứ Pakistan cho Hoa kỳ. Cũng xem Chronique de Politique étrangère (Biên niên chính sách đối ngoại) quyển VII, số 3, tháng 5/1954. Một hiệp định quân sự Mỹ - Pakistan được thực sự ký kết tháng 5/1954.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét