Thứ Hai, 1 tháng 11, 2010

SỔ TAY KINH TẾ THÁNG 11: 1/11/2010

Phạm Đỗ Chí

MỸ: MỌI CON MẮT DỒN VỀ BẦU CỬ 2/11 VÀ CHÍNH SÁCH FED HÔM 3/11

Ngày mai, QH Mỹ sẽ có bầu cử giữa kỳ để dân chúng tỏ lộ sự tín nhiệm của họ với đảng Dân chủ của TT Obama. Các tin tức báo chí và thăm dò dư luận đều cho dự báo đảng Cộng hòa sẽ thắng lớn ở cả hai viện và nhất là lấy lại đa số kiểm soát Hạ viện.

Như vậy các lo ngại từ vài tháng nay của Tòa Bạch ốc sẽ thành hiện thực, khi các chính sách của TT Obama sẽ gặp nhiều khó khăn khi QH có thể phủ quyết hay ngăn cản nhiều đạo luật do ông đề xướng hay bênh vực.

Nhất là vài khuôn mặt quan trọng của đảng Cộng hòa vừa lên tiếng đe dọa nếu chiếm đa số trong kỳ bầu cử này, họ sẽ làm vô hiệu hóa một số đạo luật vừa được ban hành trong 2 năm qua do thắng lợi của Nhà Trắng, quan trọng nhất là hai đạo luật về (i) áp dụng hệ thống kiểm soát tài chính (financial regulations) chặt chẽ hơn và (ii) đạo luật lịch sử về bảo hiểm y tế cho khối dân nghèo ở Mỹ.

Đặc biệt là các chính sách kinh tế để giải quyết nạn thất nghiệp đang ở mức cao 9,6% cũng như ổn định hệ thống tài chính ngân hàng sẽ bị chậm lại, khó giúp đẩy mạnh đà hồi phục kinh tế Mỹ và toàn cầu đang chậm lại từ quý 3 (GDP của Mỹ chỉ tăng 2% trong quý này).

Ngoài ra đến hôm kia là buổi họp quan trọng của FED thông báo về chính sách nới lỏng tiền tệ QE 2 (Quantitative Easing 2) đang được cả thế giới tài chính sôi nổi chờ đợi trong quyết định sẽ tăng liền lần này số mua cao các trái phiếu vào khoảng 500-600 tỷ USD để bơm thêm thanh khoản vào nền kinh tế Mỹ với tác động lớn ngay lập tức, hay chỉ tăng nhỏ giọt làm nhiều kỳ, mỗi kỳ mua độ 100 tỷ.

Chọn lựa thứ hai này của FED nhằm tránh làm xao động thêm nền tài chính thế giới, nhất là nguy cơ chiến tranh tiền tệ khi các ngân hàng trung ương khác có thể cũng tiếp tục nới lỏng thêm chính sách tiền tệ của họ để bảo vệ tỷ giá và thúc đẩy thêm độ tăng trưởng kinh tế trong nước của mình.

Cần nhắc lại là sau khi FED can thiệp mạnh mẽ từ giữa năm 2008 qua chính sách QE lần đầu bằng cách mua mạnh mẽ trái phiếu nâng cao 3 lần bảng giá trị cân đối (balance sheet) của họ từ 800 tỷ USD lên 2400 tỷ USD, nhiều lo ngại đã xuất hiện về tỷ giá của tiền USD và ảnh hưởng đến mức thanh khoản quá cao trong hệ thống tài chính toàn cầu và đã là một động lực chính đẩi giá vàng lên cao khi giới đầu tư và đầu cơ mua vàng như một tài sản an toàn (safe heaven asset).

Nếu lần này FED mua luôn 600 tỷ USD trái phiếu, bảng giá trị sẽ lên tới 3000 tỷ USD và càng làm vàng có giá trị hơn như tài sản để dành dù lạm phát chưa bốc ngay trong ngắn hạn. Đây là lý luận mà ít người để ý khi cho rằng lúc kinh tế chưa phục hồi mạnh thì lạm phát còn thấp và giá vàng sẽ phải xuống mạnh! Như một thách thức, vàng hiện đang ở mức gần kỷ lục $1,360/ounce sau khi đụng mức $1,388 cách đây 2 tuần. Sổ Tay Kinh Tế này đã từng nhắc lại lý luận cũ là giá vàng còn có thể leo lên các đỉnh cao mới trong 2-3 năm tới, sau mức $1,400-$1,450 mà nhiều người đoán từ lâu cho cuối năm nay.

Kỳ họp của nhóm G-20 vừa rồi ở Seoul đã giúp giảm bớt căng thẳng cho cảnh cáo về một cuộc chiến tiền tệ hay tỷ giá có thể đe dọa thương mại quốc tế và làm chậm thêm phục hồi kinh tế toàn cầu khi các cường quốc lên tiếng hứa hẹn cộng tác để tránh “cuộc chiến” đó. Nhưng các quan sát viên quốc tế vẫn khó quên hiện tượng “thy the neighbor” (hiểu nôm na là mặc kệ anh hàng xóm) đã xảy trong kỳ đại suy thoái kinh tế, lúc mỗi nước chỉ theo chính sách vị kỷ thi nhau phá giá đồng tiền của mình để giữ mức xuất cảng cao, giảm nhập cảng, và áp dụng bảo hộ mậu dịch.

Vì thế chính sách “Nới lỏng Tiền tệ” tiếp tục của Mỹ cũng đã bị nhiều kinh tế gia có uy tín chỉ trích như kém hiệu lực để kích thích tăng trưởng hay giảm thất nghiệp ở Mỹ. Chẳng hạn GS Joseph Stiglitz (đã từng đoạt giải Nobel) mới lên tiếng cho rằng chính sách này của FED nếu ban hành ngày mai sẽ có rất ít hiệu lực, ngược lại có thể làm tăng nguy cơ khủng hoảng về chiến tranh tiền tệ.

Lý luận chính của ông là hiện nay lãi suất ở Mỹ quá thấp và đang ở trong tình trạng “bẫy thanh khoản” (liquidity trap) như Nhật Bản từ năm 1980, nới lỏng tiền tệ không giúp lãi suất hạ thêm bao nhiêu và cũng khó làm các xí nghiệp lớn thay đổi chính sách đầu tư của họ. Trong khi đó do các ngân hàng đang xiết chặt chính sách tín dụng làm khó việc cho vay đối với các xí nghiệp nhỏ và vừa hay các cá nhân và hộ tiêu thụ (households) (thí dụ tìm vay mua nhà cửa hay xe hơi đang rất khó).

Do đó TS Stiglitz đề nghị mạnh mẽ việc áp dụng chính sách tài khóa như chi tiêu công sẽ có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp hơn đến tiêu dùng và kích thích kinh tế. Một số nhà kinh tế khác cũng hỗ trợ chính sách này bằng cách cấp tiền thưởng (tax credit) cho các xí nghiệp thuê thêm nhân công, hay cổ võ chính phủ cả liên bang lẫn tiểu bang thuê trực tiếp thêm nhân viên trong các dự án xây dựng hạ tầng.

Cũng không thể quên chính sách giảm thuế để kích thích kinh tế như dưới thời TT Bush hay TT Reagan, nhưng lại chạm mạnh vào một nguyên tắc lý tưởng trong triết lý và chính sách đã nêu rõ của TT Obama là tái lập công bình trong hệ thống thuế bằng cách đánh thuế người giàu nhiều hơn và chỉ giảm hay dãn thuế cho giới trung lưu và người nghèo. Nhưng nếu đảng Cộng hòa thắng lớn như đa số dự báo thăm dò đang chỉ ra, có thể năm tới TT Obama sẽ phải tái lập một số chính sách giảm thuế trước áp lực của QH mới. Nhất là vì Nhà Trắng đang mất đi các nhân sự chiến lược giúp điều hòa chính sách, nhất là về kinh tế.

Tựu chung, theo ý kiến người viết Sổ Tay KT, cũng khó thiên về riêng chính sách tiền tệ hay chính sách tài khóa mà cần sự phối hợp hài hòa cả hai chính sách.

Nới lỏng tiền tệ làm hạ lãi suất Mỹ và thế giới đã là liều thuốc kích thích các thị trường chứng khoán toàn cầu, nhất là ở Mỹ, như dự báo trong hai tháng 9 và 10 vừa qua. Như đã bàn trong Sổ Tay tháng trước, giải pháp tiền tệ còn hiệu quả mạnh mẽ có thể là theo chính sách đề nghị của Bill Gross (CEO của công ty đầu tư trái phiếu PIMCO), đưa ra giải pháp mạnh bạo là phải giảm hẳn thêm 1-2 điểm phần trăm (percentage points) cho lãi suất tín dụng bất động sản (mortgage rate) để làm tăng giá nhà cửa độ 10%-15% vào mùa xuân năm tới để làm hồi phục nhanh chóng khu vực xây cất và mua bán nhà cửa và từ đó cả nền kinh tế Mỹ. Sau đó dân chúng Mỹ có thể thêm lòng tin để chi tiêu mạnh tay hơn và bớt đi thái độ thận trọng từ 2 năm nay trong việc lập lại cân bằng tài khoản cá nhân của họ (balance sheet repair). Nên thêm vào đó các liều lượng thích hợp của chính sách tài khóa như đã bàn ở trên, nhưng một số tiểu bang như California không dễ có option này trong tay do tình trạng ngân sách quá thâm hụt và nhiều nợ cao hiện nay của tiểu bang này, vốn do có nhiều chính sách chi tiêu về entitlements quá rộng rãi.

Các biến động do kết quả cuộc bầu cử QH tại Mỹ và thông báo chính sách QE 2 của FED nêu trên sẽ có ảnh hưởng mạnh đến các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.

VIỆT NAM

Ổn định Lạm phát, Tỷ Giá và Lãi Suất:
Cái Nhìn Ngắn Hạn và Dài Hạn

Tuần này, giới truyền thông quốc tế cũng rộ lên với bài phân tích của IMF cho rằng các nền kinh tế mới nổi đang dẫn đầu sự phục hồi kinh tế toàn cầu, dù có đang chậm lại từ quý 3 năm nay do tăng trưởng kinh tế Mỹ bị chậm lại hơn dự báo đầu năm, châu Âu khủng hoảng nợ công, hay kinh tế Nhật vẫn còn ì ạch, và cũng do Trung Quốc đang cố “làm nguội bớt” nền kinh tế để tránh tình trạng “bong bóng”.

Thêm vào đó là tin ước tính các nền kinh tế mới nổi ở châu Á sẽ nhận được các “dòng vốn nóng” đáng kể khoảng trên 900 tỷ USD năm nay, tức là gấp rưỡi mức năm 2009. IMF cũng đề nghị một lô chính sách và biện pháp để trung hòa tác động của các dòng vốn đó lên kinh tế mỗi nước. Chuyện này nhắc lại cho chúng ta câu chuyện tương tự của dòng vốn gián tiếp gần 10 tỷ đô la đã vào Việt Nam năm 2007 và gây không ít khó khăn cho tình hình vĩ mô năm đó.

Khi các nước bạn láng giềng đang xôn xao với khó khăn “tiền vào nhiều” phải đối phó của anh nhà giàu, thì Việt Nam lại đang khổ tâm với nỗi niềm của anh nhà nghèo nhận được “tiền vào ít”, nhất là với tin dòng vốn nóng không vào Việt Nam hay ngay cả nguồn FDI cũng đang chậm lại trong quý 3. Nguyên nhân là lòng tin của giới đầu tư nguội dần với tình trạng kinh tế vĩ mô bất ổn, nhất là mức lạm phát sẽ vụt tăng trở lại đến gần với 2 con số, tỷ giá tiền VNĐ đã mất trên 10% trong vòng 12 tháng qua và được dự báo còn tiếp tục xuống làm giá trị đầu tư mất dần. Ngoài ra niềm tin của giới đầu tư trong nước và các doanh nhân cũng ở tình trạng tương tự với lãi suất cao và thị trường tín dụng gần như tê liệt.

Vì vậy với cái nhìn ngắn hạn, cần phải ổn định được lạm phát, tỷ giá và lãi suất để vừa tránh một cuộc khủng hoảng tiền tệ với các biến số vĩ mô có thể vượt vòng kiểm soát, vừa thu hút trở lại các dòng vốn trực tiếp và gián tiếp.

Nhìn xa hơn trong dài hạn, vấn đề ổn định vĩ mô-- như sẽ được phân tích ngắn gọn dưới đây-- sẽ cần đến như điều kiện tiên quyết là việc tái cấu trúc nền kinh tế vốn đang rất kém hiệu quả của Việt Nam nhằm đạt được độ tăng trưởng bền vững và có chất lượng hơn trong thập niên tới.

Tại sao biến động từ tháng 9 với lạm phát và tỷ giá tăng vọt?

Sau nhiều tháng đã được kìm hãm, lạm phát tháng 9 tăng vọt 1,31 % so với tháng 8 và tháng 10 tăng 1,05% so với tháng 9 (tăng 7,5% từ đầu năm). Tình trạng tăng giá có thể tiếp tục trong 2 tháng còn lại của năm do sự tăng cung tiền nhanh chóng trong quý 2 và 3, cũng như ảnh hưởng của giá dầu đang trở lại mức 85$/thùng và mức tăng giá thực phẩm trong 2 tháng vừa rồi, nhưng quan trọng nhất là ảnh hưởng của tỷ giá sau kỳ điều chỉnh 2,1% vào tháng 8 vừa qua. Dự báo mức lạm phát cuối năm có thể tăng lên quanh mức 9,5% đến 10% (nếu giá cả hai tháng tới tiếp tục tăng từ 1,0% đến 1,2%), vượt xa mục tiêu là 7-8%.

Vấn đề chi tiêu công và nợ công cũng tiếp tục tạo áp lực do phải giải quyết những vấn đề tồn tại của các tập đoàn lớn cũng như các chi tiêu lớn cho lễ hội gần đây.

Mặc dù các chỉ tiêu kinh tế được cải thiện, thị trường tài chính vẫn tiếp tục bất ổn gây thêm sự thiếu lòng tin nơi các nhà đầu tư về cả chứng khoán lẫn bất động sản. Chỉ số VN Index tiếp tục giảm và xuống quanh mức thấp tâm lý của nhà đầu tư chứng khoán là 450.

Quan trọng nhất là tình hình tỷ giá ngày càng biến động theo chiều giảm giá mạnh của Đồng VN trên thị trường tự do. Tỷ giá này đã lên vọt từ 19,500 VND/USD vào đầu tháng 9 vượt qua mức cảnh báo tâm lý là 20,000 trong tuần thứ ba tháng 10 và đạt mức 20,500 cuối tháng, do những lo ngại hiển nhiên của thị trường rằng lượng vốn vay vượt quá bằng USD của khu vực ngân hàng sẽ tạo nên lực cầu mạnh về USD từ giờ đến cuối năm khi những khỏan vay đến hạn phải trả, đi với nó là áp lực của cán cân thanh toán do thâm hụt thương mại vẫn ở mức cao và tin đồn về sự sụt giảm mạnh của tổng dự trữ ngoại hối chính thức. Ngoài ra còn có sự chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới (giá vàng trong nước đang thường xuyên cao hơn giá vàng thế giới cả trên triệu VND mỗi lượng nên xuất hiện tình trạng gom USD để nhập lậu vàng qua biên giới).

Điều này làm tỷ giá trong thời gian tới có thể tiếp tục biến động mạnh và làm gợi nhớ cùng tình hình vào tháng 5, 2008 về tỷ giá, đã thúc đẩy NHNN và bộ Tài chính cùng họp báo thông báo mức dự trữ ngoại hối chính thức và những biện pháp ổn định quan trọng. Thiếu thông báo này, nạn đầu cơ có thể làm trầm trọng thêm việc giảm giá VND tới một điểm khó kiểm soát (21,000) chỉ trong vài tuần tới.

Khi có dấu hiệu của dòng tiền nóng đổ vào Việt Nam và ngay cả FDI bắt đầu giảm, thị trường tiền tệ sẽ có thể bị ảnh hưởng khó ngăn chặn bởi các lực đầu cơ trong nước và quốc tế, nếu thiếu những chính sách thích hợp và quyết đoán từ phía lãnh đạo tài chính cùng những biện pháp tăng cường thông tin kinh tế.

Giảm áp lực lên tỷ giá của dòng xoáy lạm phát-tỷ giá-lãi suất

Ngân hàng trung ương (NHNN) muốn tăng cung tiền và tín dụng nhanh chóng như từ tháng 4 để làm giảm mức lãi suất cho vay hầu kích thích tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu 6,5% đề ra cho năm nay . Tuy nhiên, lãi suất bằng VND khó có thể giảm xuống do tác động của việc tăng tỷ giá VND/USD và lãi suất USD lên cao trong hai tháng qua, do lãi suất VND được kỳ vọng bằng xấp xỉ với lãi suất USD cộng mức phần trăm (%) giảm tỷ giá của VND sau một thời gian đạt mức quân bằng, do sự dễ dàng luân chuyển giữa các tài sản bằng tiền mặt trong nền kinh tế bị đô la hóa nặng nề như VN.

Thí dụ dễ hiểu như sau gần 12 tháng qua, từ lúc tiền VND bị giảm giá lần đầu 5% vào cuối tháng 11/2009, rồi 3% vào tháng 2/2010 và 2% vào tháng 8/2010, giá VND đã bị giảm chung quanh mức 10% tức là đích xác sự khác biệt giữa lãi suất VND và lãi suất USD trong cùng thời gian qua.

Khi NHNN muốn tăng cung tiền và tín dụng nhanh chóng như mấy tháng vừa qua để làm giảm lãi suất VND, tác dụng thực tế lại ngược lại vì tăng tiền lại làm tăng kỳ vọng lạm phát cũng như gây thêm áp lực lên tỷ giá trên thị trường tự do, ngoài ra lãi suất huy động trên USD lại tăng trong mấy tháng qua do nhu cầu ngoại tệ đang rất cao, kết quả là lãi suất huy động trên VND vẫn khó giảm xuống DƯỚI mức cao hiện tại là 11%.

Ngoài ra, việc sử dụng vốn không hiệu quả và các khó khăn tài chính của các tập đoàn lớn trong thời gian qua làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước. Điều này cũng làm cho lãi suất trái phiếu khó điều chỉnh giảm.
Nói chung nếu áp lực lên tỷ giá không được ngăn chặn bởi sự giảm bớt
 tăng cung tiền và tín dụng, sẽ khó lòng giải quyết được các bế tắc của thị trường tín dụng và hệ thống lãi suất để “khai thông” cho các thị trường chứng khoán và nhà đất cũng như của cả nền kinh tế cho năm tới.

Chưa kể là tỷ giá của VND một khi đang vượt quá mức tâm lý 20,000 VND/USD sẽ có thể gây ra một cuộc khủng hoảng làm mất niềm tin của dân chúng nhất là giới đầu tư và có thể tạo ra các thiệt hại tài chính lớn hơn nhiều do “dòng xoáy” lạm phát-tỷ giá gây ra. Tỷ giá VND giảm sẽ làm tăng giá hàng nhập cảng và tạo thêm áp lực lên CPI, rồi từ CPI lên cao trở lại sẽ lại gây áp lực giữ mặt bằng lãi suất cao và làm tiền VND thêm mất giá, ngoài vấn đề nan giải từ nhiều năm là nhập siêu và thất thu trong cán cân vãng lai.

Từ lý luận về dòng xoáy trên, cái nhìn dài hạn hơn về việc ổn định tỷ giá và lãi suất là việc cấp thiết phải kiểm soát mức lạm phát trở lại khoảng 4%-5% mỗi năm. Vấn đề này đòi hỏi nhiều phân tích định tính cũng như định lượng một cách khoa học hơn hiện nay cho việc thiết lập và áp dụng chính sách tái cấu trúc và ổn định kinh tế một cách đồng bộ trên nhiều mặt:

Thứ nhất là nghiên cứu định lượng để ấn định mức cung tiền thích hợp hàng năm nhằm đạt các mục tiêu tăng trưởng GDP, lạm phát và giảm cán cân thanh toán quốc tế/vãng lai bằng một phương pháp lập trình tài chính đơn giản (financial programming) được áp dụng trong nhiều nước. Người viết bài đã áp dụng một phép tính hồi qui đơn giản (regression analysis) cho các dữ kiện thống kê hàng năm (1999-2007) và tìm thấy tổng phương tiện thanh toán (M2) đã tăng theo (%) hàng năm bằng 1,7 lần mức tăng (%) của GDP danh nghĩa. Điều này hàm ý rằng mức cung tiền tăng nhanh so với GDP như vậy đả ẩn chứa một mức lạm phát cao hằng năm hơn mong muốn.

Ngoài “bề nổi” nhu trên do chính sách tiền tệ, “tầng ngầm” và là nguyên do tiềm ẩn đích thực của lạm phát ở Việt Nam là chính sách tài khóa với chi tiêu công quá mạnh trong khu vực đầu tư, gây nên mức đầu tư/GDP là 42%--cao nhất Á châu sau Trung quốc--và với mức hiệu quả thấp đã được bàn rộng rãi đã gây nên áp lực lạm phát do làm giảm mức tổng cung tiềm năng (potential supply).

Sau hết là việc cấp thiết phải tái cấu trúc kinh tế để làm gỉảm nhập siêu nếu muốn giảm áp lực lâu dài lên tỷ giá. Nhập siêu ở Việt Nam từ nhiều năm nay có lẽ không phụ thuộc đơn giản vào tỷ giá mà là do cấu trúc sản xuất, rõ hơn là do xuất cảng chỉ dựa vào nguyên liệu thô và chính sách gia công phụ thuộc rất nhiều vào nhập cảng. Nếu muốn cải thiện cán cân thương mại, cần nhiều nghiên cứu sâu về cấu trúc mô hình input-output để làm giảm ICOR và tăng giá trị gia tăng trong xuất cảng.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét