Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Phương Thức Tiếp Cận, Ngôn Ngữ, và Sửa Đổi Văn Hóa

Tôn Thất Thiện

(Tiếp theo và hết)

Dẹp tuốt: Không được
Nhưng thay đổi toàn bộ – vất bỏ tất cả, dẹp tuốt – là một vấn đề khác, và không làm được. Chính anh Kiểng cũng công nhận như vậy. Phát triển đòi hỏi một văn hóa và một tâm lý mới, nhưng “thay đổi văn hoá là điều khó nhất” (tr.394). Chúng ta khó có thể trừ bỏ một văn hoá vì “nó là một phần của chính chúng ta” (tr.394). Anh ấy thành thực thú nhận rằng chính anh cũng là một sản phẩm của văn hóa Khổng Giáo. Cũng như mọi người Việt Nam khác anh đã chấp nhận nó “một cách vô tình” (tr.369). Những ai sợ mất mát văn hoá truyền thống không nên lo âu vì “quí vị có muốn cũng không bỏ được đâu...”(tr.370) Nó có sức sống dài dẳng, và “nếu quả quyết và dứt khoát thì cũng chưa chắc gì sau 50 năm nữa chúng ta thay đổi được.” (tr.370) Nó là một di sản 2000 năm vẫn khống chế chúng ta, và tất cả người Việt đều bị “nhiễm độc rất nặng nề vì nền văn hoá Khổng Giáo.” (tr.370)

Ngày nay, sau khi lấy lại được độc lập, quyền tự do lựa chọn con đường thoát ra khỏi tình trạng chậm tiến, lạc hậu và nô lệ thì, thay vì đi vào một lối mới để thực hiện những nguyện vọng trên đây, cọng sản lại tái lập văn hoá Khổng Giáo dưới một hình thức cải tiến. Việt Nam lại bị dẫn vào bế tắc. Chúng ta trở lại thời Tự Ðức... Vấn đề đâu vẫn còn đó.

Nhưng, như đã nói ở trên, ngày nay vấn đề đã sáng tỏ. Có một sự đồng thuận rộng rãi về lý luận. Phát triển là nhu cầu ưu tiến số 1 của Việt Nam. Muốn phát triển phải đổi mới. Muốn đổi mới phải có tự do. Với văn hoá Khổng Giáo không thể có tự do được. Như vậy cần dẹp bỏ văn hóa Khổng Giáo đi. Nhưng thay đổi văn hoá toàn bộ và tức khắc là một điều không làm được. Chỉ có thể sửa đổi từng phần. Vấn đề cần xét là: sửa đổi gì, và thế nào? Ở đây cần có một sự đồng thuận thật rõ ràng và rộng rãi, vì nó là điều kiện căn bản để thi hành những sự thay đổi. Thiếu điếu kiện này thì thay vì phát triển ta sẽ mục kích những cuộc tranh cãi, dằng co vô tận.

Vấn đề trên đây cần được bàn cãi tường tận, và hy vọng rằng sẽ nhiều người chú ý đến và tham gia vào cuộc bàn cãi này, nhất là đóng góp vào sự nhận chân những điều cần sửa đổi, và phương thức cải thiện tình trạng.
Trong công việc sưu khảo, tham luận về vấn đề, cần nhất là bình tĩnh, khách quan, vô tư, thực tiễn, kìm chế tinh thần dân tộc tự ái cực đoan, và xu hướng bảo thủ tiềm tàng trong tất cả mọi người. Việc này đòi hỏi áp dụng phương pháp khoa học vào sự phân tích xã hội Việt Nam. Nhưng nếu tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng di sản Khổng Giáo, không phải ai cũng ý thức được, hay chấp nhận, điều này. Cho nên muốn nắm vững vấn đề cần quyết tâm làm một cuộc tự vấn thẳng thắn và thành thực thì mới đi đến kết quả thực tế.

Vấn đề rộng lớn, không thể bàn trong một bài được. Dưới đây chỉ đưa ra một vài ý kiến để góp phần vào việc suy ngẫm để tìm kiếm giải đáp cho vấn đề.

Tháp cây và sửa đổi văn hoá
Ta có thể áp dụng phương pháp tháp cây vào việc sửa đổi văn hoá Việt Nam, đem những điều hay nhất về khoa học kỹ thuật của văn hoá phương Tây, nặng về vật lý – phần nhánh –, ghép vào văn hoá nặng về đạo lý của phương Ðông phương/Khổng Giáo – phần gốc – thì ta sẽ có được một văn hoá cân bằng, thích hợp với hiện đại, có thể thực hiện được sự sửa đổi cần thiết cho phát triển Việt Nam, mà không phải liệng bỏ hết văn hoá cổ truyền của ta đi.

Tất nhiên trong sự giữ lại một phần văn hoá cổ truyền Việt Nam, ta phải lựa chọn giữ lại những gì vẫn còn thích hợp, nghĩa là có giá trị truờng cữu và phổ cập trong nhân loại. Mà ở đây, rất may là, xét kỹ, Khổng Giáo là một loại văn hóa có nhiều giống, và cả văn hoá Khổng Giáo lẫn văn hoá phương Tây đều chứa những giá trị phổ cập trong nhân loại.

Các giống Khổng Giáo đều nhấn mạnh đạo đức là căn bản của xã hội. Ta có thể nói rằng giống đạo đức, với luân lý đi theo nó, mà Nho sỹ Việt Nam chủ trương không còn thích hợp cho ngày nay. Nhưng ta không thể phủ nhận rằng một xã hội không thể được coi là văn minh, có thể tồn tại và tiến được nếu không có đạo đức. Cho nên, nếu ta loại bỏ hay suy diễn lại một số giáo quy luân lý của Khổng Giáo, hay phần lớn của những giáo quy đó, ta vẫn phải giữ lại một số giáo quy khác. Vấn đề này là vấn đề chính trong sự sửa đổi văn hoá. Nó rất rộng, cần được rất nhiều người bàn để đi đến một sự đồng thuận lớn. Trong sự bàn cãi này cần có sự tham gia của rất nhiều giới, đặc biệt là các lãnh đạo tinh thần thuộc tất cả các tôn giáo, các nhà lãnh đạo tư tưởng, lãnh đạo trong lãnh vực giáo dục, chính trị, xã hội...

Tốt hơn hết là nên lập ra một Ban/Nhóm Nghiên Cứu về vấn đề này, với ba nhiệm vụ chính: 1/ thảo ra một bộ quy luật đạo đức luân lý làm căn bản cho một xã hội/quốc gia Việt Nam thích ứng với nhu cầu và điều kiện hiện đại để hướng dẫn sự phát triển của Việt Nam trong 30-50 năm tới; 2/ dự thảo một đề án dài hạn cho sự thực hiện sửa đổi văn hoá Việt Nam; đề án này phải nói rõ làm thế nào để thực hiện những mục tiêu cần đạt 3/ dự thảo quy chế một Cơ Quan Quốc Gia Về Sửa Ðổi Văn Hoá, gồm đại diện của tất cả các giới nêu trên, biệt lập với chính quyền, để theo dõi sự thi hành của đề án trên đây. Việc này cần làm gấp, trước khi chế độ cọng sản chấm dứt. Nếu đợi đến lúc đó mới bắt đâu, thì quá trễ, và Việt Nam sẽ rơi vào một tình trạng hỗn loạn lớn.

Sửa đổi văn hoá, tự nó, là một vấn đề rất rộng, chỉ có thể bàn cãi tường tận trong Ban/Nhóm nói trên. Ở đây, chỉ có thể đưa ra vài ví dụ.

Trong luân lý Khổng Giáo, “Tam cương,” “Ngũ thường,” “Tam tòng,” Tứ đức” là những khái niệm và đức tính then chốt, thường được nhắc đi nhắc lại. Nhưng nó cũng bị thời gian làm cho biến đổi. Qua thời gian, đặc biệt là từ 1883 đến nay, khái niệm “Tam cương” – theo vua, theo chồng, theo cha – đã “loãng” đi, thay đổi hầu như gần hết. Nay ít ai nhắc nhở đến nó, hay chấp nhận tính cách tuyệt đối của sự phục tùng mà nó đòi hỏi. “Tam tòng” – theo cha, theo chồng, theo con – cũng vậy. “Tứ đức” – công, dung, ngôn, hạnh – thì nay có thể nói rằng nếu nó còn được để ý trong giới phụ nữ ngày nay, nó chỉ còn là một điều nhiệm ý. Trong giới trẻ, nhất là trong giới tỵ nạn ở các quốc gia phương Tây, thì nó lại là một điều coi như không hề được nghe, hay không cần nghe, nói đến.

Riêng về “Ngũ thường” – nhân, lễ, nghĩa, trí, tín – thì thực ra nó không phải là những đức tính, đạo lý, riêng gì cho Việt Nam. Nó là cơ sở đạo lý cho mọi xã hội văn minh, cần thiết cho trật tự, ổn định, bảo đảm điều kiện phát triển cho xã hội đó. Anh Kiểng cũng công nhận rằng Khổng Giáo mà anh lên án là Khổng Giáo “dựa vào kinh sách,” chớ trong đời sống hằng ngày nó “không đến nỗi như vậy (tr. 299). Như đã nói ở trên, nó đã được “nhân bản hoá.” Cho nên “Ngũ thường” là “những giá trị của mọi nền văn minh chứ không riêng gì của Khổng Giáo” (tr. 299-300). Nó là những giá trị “đã được cải thiện dần dần với thời gian và đi vào quần chúng.” Và, hơn nữa, “đó là những giá trị của mọi xã hội và mọi nền văn minh chứ không riêng gì của Khổng Giáo (tr.293).

Một số giá trị cổ truyền khác không những cần được giữ lại hay định nghĩa lại, mà còn cần phát huy vì nó cần thiết cho mọi xã hội, và nhất là một xã hội đã băng hoại về đạo lý như xã hội Việt Nam sau mấy thập niên cai trị của cọng sản. Trong loại đầu có hai đức tính đã được quý trọng trong quá khứ. Ðó là Liêm và Sỉ. Trong loại thứ hai cần ghi Ái Quốc, nhưng không hiểu theo nghĩa của các Nho sĩ nữa – “ái quốc” = “trung quân” –, mà hiểu theo quan niệm mới, là yêu đồng hương, và quý trọng sinh mạng và tài sản của họ, và quý trọng tài nguyên của đất nước. Ðó là những ý niệm mà ta nên nhớ khi xét vấn đề sửa đổi văn hóa Việt Nam.
Nói chung, ngày nay, nhất là đối với giới trẻ, Khổng Giáo không còn là mẫu mực cho hành vi và một vấn đề làm cho họ bận tâm suy nghĩ. Nhưng nó vẫn sống dai, và còn mạnh, trong tiềm thức của mọi người Việt. Ðiều này, chỉ có ai chú tâm về vấn đề mới thấy rõ.

Một ý niệm khác, cũng rất quan trọng, là: các nền văn hoá khác nhau không phải vì chúng chứa đựng những giá trị khác nhau mà vì nó dành cho các giá trị những trọng lượng khác nhau. Cho nên, khi chúng ta nói cần thay đổi về văn hoá là “chúng ta muốn nói cần thay đổi trọng lượng tương đối” của các giá trị dựa trên kinh nghiệm của phương Tây vì “văn hoá phương Tây tôn trọng cá nhân và do đó phát triển được tối đa ý kiến và sáng kiến, trong khi các văn hoá phương Ðông đều coi thường con người và làm thui chột trí tuệ.” Ðiều mà phương Ðông phải học hỏi trước hết của phương Tây lại là điều họ muốn phủ nhận: chủ nghĩa cá nhân tự do.” (tr.385)

Về những giá trị phương Tây, ngoài Tự do, ta cần thâu nạp một số giá trị để bồi bổ cho thiếu sót rõ ràng nhất của văn hoá Việt Nam, đặc biệt là Tổ chức và phương thức sinh hoạt dân chủ trong đời sống kinh tế và chính trị. Một loại giá trị nữa rất cần đưa vào văn hóa Việt Nam vì trong Khổng giáo hoàn toàn không có giá trị này là những khái niệm Bình đẳng và Công bằng xã hội, hai giá trị ngày nay được coi như giá trị phổ cập của nhân loại.

Thực ra, những giá trị thường được coi là những giá trị của phương Tây đã tạo ra sức mạnh của phương Tây – hoà bình, tự do, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, nhà nước pháp trị, đối thoại, hợp tác, lợi nhuận, liên đới, môi trường – không phải là những giá trị gì riêng của phương Tây, mà “là những giá trị phổ cập của loài người, có sẵn trong mọi dân tộc và mọi nền văn minh,” (tr.371) và những dân tộc nào phát huy chúng đã trở thành giàu mạnh.

Như vậy, khi ta nói ghép văn hoá phương Ðông và văn hoá phương Tây, ta muốn nói lấy những giá trị đạo đức hay và có tính cách phổ cập của phương Ðông ghép vào những giá trị tự do khoa kỹ hay và có tính cách phổ cập của phương Tây thành một văn hoá tổng hợp cân bằng, hữu hiệu, và thích hợp với điều kiện hiện đại.

Kết luận
Xã hội nào cũng cần hai điều kiện: đạo đức và kiến thức – đạo lý và vật lý – để tồn tại và phát triển. Ngày nay, sự thực này rất rõ rệt, không còn là một đề tài tranh cãi nữa, nhất là đối với các nước nghèo đói.
Nguyên do của nghèo đói là chậm tiến. Muốn hết nghèo đói, phải ra khỏi tình trạng chậm tiến. Làm sao? Ðây là vấn đề gây tranh cãi vô tận. Nhưng càng ngày người ta càng thấy rõ rằng về căn bản đây là một vấn đề văn hoá. Các quốc gia nghèo đói bị tình trạng đó vì văn hoá của họ không thích hợp với phát triển, nhất là ở giai đoạn hiện đại.

Riêng về Việt Nam, thì có một sự đồng thuận ở điểm: sự phát triển của Việt Nam đã bị cản trở vì văn hoá Việt Nam thiếu khoa học kỹ thuật, điều kiện của phát triển, mà điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật là tự do. Với văn hoá Khổng Giáo Việt Nam không có tự do được. Thêm nữa, chế độ ngự trị Việt Nam trong hơn 30 năm nay, chế độ cọng sản, lại “chỉ là một chế độ Khổng Giáo cải tiến.” Làm sao ra khỏi tình trạng này, và trong trình bày giải pháp, lựa chọn ngôn ngữ thế nào cho đạt được một sự đồng thuận rộng rãi, là một sự thách thức cho tất cả những người Việt Nam ưu tư về xứ sở, ngoài cũng như trong nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét