Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

Phương Thức Tiếp Cận, Ngôn Ngữ, và Sửa Ðổi Văn Hoá

Tôn Thất Thiện
 
Thay đổi và sửa đổi
Trước đây tôi đã có dịp bàn về vấn đề thay đổi văn hoá. Từ ngữ “thay đổi” đã gây ra một số hiểu lầm. Tôi đã dài dòng giải thích rằng “thay đổi” văn hoá không phải là “thay thế” văn hoá, mà là “thay đổi về” văn hoá. Nó không có nghĩa vất bỏ toàn bộ văn hóa Việt Nam, tạo ra một khoảng trống, và lấy văn hoá Tây phưong, và đặc biệt đặt biệt văn hoá Mỹ, thay vào khoảng trống đó. Tuy nhiên, một số độc giả, có lẽ vì quá bị ám ảnh bởi mối lo Việt Nam bị “Tây phương hoá,” vẫn không thấy như vậy, và đã hăng say chống đối quan niệm “thay đổi” văn hoá.

Ðiều trên đây làm sáng tỏ một điểm: thay đổi/sửa đổi văn hoá là một vấn đề tế nhị, dễ gây bất đồng và tranh cãi, nhất là khi đề cập đến văn hoá “cổ truyền” Việt Nam. Không ít người dị ứng khi nghe đề cập đến “thay đổi văn hoá,” và, đối với những người rất hăng say trong việc “bảo tồn văn hoá Việt Nam,” “duy trì các giá trị truyền thống,” “sợ mất gốc,” đề cập đến “thay đổi văn hoá” hầu như là một sự khiêu khích. Ðể tránh hiểu lầm tôi sẽ dùng từ ngữ “sửa đổi” thay vì “thay đổi,” hay, nếu có dùng từ ngữ “thay đổi,” thì kèm thêm từ ngữ “về,” khi bàn về nhu cầu xét lại những giá trị văn hóa Việt Nam.

Cả hai từ ngữ “thay đổi” và “sửa đổi” đều hàm ý nhu cầu xét lại để xem sự lựa chọn và sắp xếp ưu tiên về các giá trị đạo lý, giáo dục, chính trị, xã hội, v.v... trong quá khứ đã ảnh hưởng thế nào về văn hoá và tình trạng hiện tại của Việt Nam, mà đặc điểm là chậm tiến, để biết cần giữ lại những gì, bỏ đi những gì, thâu nhận thêm những gì, thay thế những gì, sửa đổi những gì, trong viễn ảnh cải tổ xã hội Việt Nam để cải thiện đời sống của dân và đưa Việt Nam vào quỹ đạo của thời đại hiện tại.

Một điều thứ hai, cũng rất quan trọng, và cũng liên hệ đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ, là cách tiếp cận của người biên khảo. Như sẽ được trình bày ở đoạn dưới, cách tiếp cận được phản ảnh trong sự lựa chọn từ ngữ. Phần khác, sự lựa chọn từ ngữ lại ảnh hưởng đến sự tiếp nhận hay khước từ những giải pháp được đề nghị.

Ai biết ít nhiều về xã hội học, nhân chủng học, đều biết rằng sửa đổi xã hội là một việc rất khó, rất phức tạp, và sửa đổi toàn bộ văn hoá – cách suy nghĩ, hành động, cư xử, hệ thống giá trị, tâm lý – của một cọng đồng, nghĩa là đòi hỏi cọng đồng đó phải theo một văn hoá hoàn toàn mới, với những lối suy nghĩ, hành động, cư xử mới, những giá trị mới – ngược, hay chỉ khác với những giá trị mà họ đã quen qua hàng trăm năm – là một điều không những khó, mà có thể nói là không thể làm được. Sửa đổi cấp tốc và toàn diện – bỏ ngay hết văn hoá cũ và đem thay thế vào đó một văn hoá mới – là một điều không thế nào làm được – một tuyệt đối – , nhất là trong một thời gian ngắn và nếu cọng đồng đông đảo. Không làm được vì luật trì hãm xã hội không cho phép. Văn hoá thuộc về lãnh vực tâm lý, và vì nó thuộc về lãnh vực tâm lý, nó rất khó sửa đổi. Sức ù lỳ của nó hết sức lớn.

Ý nghĩ sửa đổi văn hoá xuất phát từ nhận định Việt Nam đã bị mất chủ quyền và bị ngoại bang đô hộ vì yếu. Một nhận định rất tầm thường! Ai cũng đồng ý. Không cần phải tranh cãi. Nhưng giải thích tại sao có tình trạng này là một vấn đề gây nhiều bất đồng và tranh cãi. Và làm sao ra khỏi tình trạng này lại là một vấn không những đã gây nhiều bất đồng và tranh cãi hơn nữa, mà còn đưa đến chém giết nhau trong hơn nửa thế kỷ.

Hai phe chém. giết nhau thường được gọi là “phe quốc gia” và “phe cọng sản.” Quốc gia chủ trương “tự do”; Cọng sản chủ trương “xã hội chủ nghĩa” mô hình “mác-lê”. Thật ra thì cuộc chiến chỉ là để quyết định ai thắng ai bại để dành dành quyền sửa đổi xã hội Việt Nam theo quan niệm của mình một khi độc lập đã dành lại được.

Nay, nội chiến đã chấm dứt, Việt Nam đã độc lập thống nhất, phe cọng sản đã thắng và đoạt được toàn quyền áp dụng giải pháp mình chủ trương – giải pháp xã hội chủ nghĩa mác-lê. Nhưng cho đến nay, hơn 30 năm sau, không những vấn đề vẫn chưa được giải quyết, mà tình trạng lại tồi tệ hơn. Tình trạng này thế nào, mọi người Việt Nam, ngoài cũng như trong chính quyền, đều biết. Tại sao có tình trạng này?

Ðương nhiên, là vì Ðảng nắm toàn quyền, Ðảng Cọng Sản, hay đúng hơn, tập đoàn lãnh đạo đảng này, đã làm sai, và đã làm sai vì nhận định vấn đề sai và áp dụng những giải pháp sai.

Giải pháp cọng sản, mô hình “xã hội chủ nghĩa” mác-lê đã thất bại.

Chúng ta rơi vào tình trạng “Back to square one...”

Một văn hoá độc hại... Thà không có...

Vấn đề vẫn còn nguyên. Nó là một vấn đề căn bản cần được giải quyết. Nó được đặt ra cho tất cả mọi người Việt Nam, đặc biệt là giới tự nhận là “trí thức,” “tư tưởng gia,” “người đáng lãnh đạo” dân tộc... cần giải đáp rõ ràng, dứt khoát, và nhất là đưa ra những giải pháp khả thi và đem lại kết quả tốt đẹp.

Ngày nay, sau giai đoạn dồn hết tâm trí vào cuộc tranh đấu dành độc lập, càng ngày càng rõ rằng vấn đề thực sự là một vấn đề văn hoá, và căn nguyên của sự chậm tiến của Việt Nam là chúng ta bị mang một di sản văn hoá Khổng Giáo quá nặng.

Mọi việc hư hỏng vì, như Nguyễn Gia Kiểng đã tóm tắt rất đúng trong Tổ Quốc Ăn Năn, sưu khảo sâu rộng nhất đến nay về vấn đề này, chế độ ngự trị Việt Nam ngày nay, chủ nghĩa cọng sản, “chỉ là một cải tiến của Khổng Giáo,” và về bản chất “cọng sản và Khổng Giáo chỉ là một” (TQAN, tr.236).

Theo anh Kiểng, Khổng Giáo không phải là một đạo lý mà là một luân lý. Nó sai ngay từ đầu và trở thành “độc hại” vì không biết đổi mới, đã khai thác triệt để hai tính xấu của Khổng Tử là “tinh thần thủ cựu, bài bác điều mới lạ và tinh thần bất dung” (tr. 331). Nó là “một văn hoá độc hại” vì nó đã tạo ra trong dân gian những tập tính xấu: óc thủ cựu, óc bất dung, sùng bái người xưa, logic bạo lực, tâm lý tôi đòi, nhẫn nhục trước độc tài chuyên chế, triết lý ở ẩn, tránh nguy hiểm, chờ thời. Nó là một hệ thống ý thức tôn trọng chế độ quân chủ cực quyền, bảo thủ, và bất dung (tr. 275).

Về phần chế độ cộng sản thì nó đã làm phá sản hoàn toàn đạo đức truyền thống: dưới chế độ cộng sản “con người đã trở thành vị kỷ, lưu manh, thô lỗ” (tr.234). Cọng sản đã kéo dài “bởi vì chúng ta chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo một cách quá nặng nề.” Do đó, anh chủ trương nên dẹp bỏ Khổng Giáo đi. Anh nói rằng: nếu có người hỏi: xã hội ta đặt trên nền tảng giá trị Khổng Giáo, bỏ Khổng Giáo đi thì còn lại gì, anh nói phải trả lời dứt khoát rằng: “chẳng thà không có gì còn hơn là có thuốc độc.” (tr.454)

Ta có thể khó chịu về tính cách gắt gao, cực đoan, và có thể nói là khiêu khích, của những phán xét trên, nhưng ta phải công nhận rằng, trên căn bản, và phân tách vấn đề một cách khách quan, quan điểm đó đúng. Nhưng ở đây ta phải nhấn mạnh và nói lên rằng: nó đúng từ điểm nhìn hiện đại, trong sự tìm giải pháp cho những vấn đề hiện đại của Việt Nam trong bối cảnh chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật... của thế giới hiện đại. Nếu ta lên án văn hóa Khổng Giáo thì ta chỉ nên phê phán nó từ lúc mà phương Ðông tiếp xúc với phương Tây trở đi, lúc mà rõ ràng rằng nó không có khả năng giải quyết những vấn đề mới, nghĩa là trong khoảng thời gian từ triều Tự Ðức đến nay. Về thời gian trước đó thì ta không đặt vấn đề như vậy được. Ta phải dùng một lối tiếp cận khác. Ta không thể dùng những tiêu chuẩn của hiện đại để phê phán các thế hệ trước ta một cách chính xác và công bằng được. Mà nó lại có thể gây chống đối.

Ta không thể đánh giá văn hoá Khổng Giáo, văn hoá cổ truyền, của bao nhiêu thế hệ trước ta, là một văn hoá “độc hại” và “chẳng thà không có nó còn hơn là có” vì nó là “thuốc độc” được. Vì như vậy là nói rằng lịch sử của 2-4 ngàn năm qua của Việt Nam hoàn toàn là một chuỗi thất bại, về tất cả mọi mặt. Rõ ràng không phải như vậy. Thất bại chắc chắn là có. Nhưng thành công cũng có. Mà thành công phải nhiều hơn thất bại thì Việt Nam mới thành một quốc gia tổ chức, có cơ cấu, quy củ, sức mạnh để chống lại sự thôn tính của Trung Quốc và bành trướng về phương Nam, trở thành quốc gia mạnh nhất vùng Ðông Nam Á, tồn tại đến thời Tự Ðức, và sau đó, vẫn còn một phần nào còn nhựa khí để tranh đấu không ngừng trong gần một thế kỷ để dành lại độc lập và thoát được khỏi đô hộ Pháp.

Nói cho đúng, thì văn hoá Khổng Giáo đã thích hợp cho các thế hệ Việt Nam trước khi phương Ðông va chạm với phương Tây, nghĩa là đến đầu thế kỷ XVIII. Nó là văn hoá cao nhất, “đỉnh cao của trí tuệ” thời đó. Trong hệ thống văn hóa này, Trung Hoa chiếm hàng đầu, và địa vị độc nhất. Việt Nam, tuy chiếm địa vị thứ hai, nhưng thực ra chỉ được coi như một phần của Trung Hoa. Văn hoá của Việt Nam là văn hoá vay mượn, văn hoá Trung Hoa chép lại. Trung Hoa là quốc gia văn minh nhất và độc nhất Thiên Hạ thời đó. Vì vậy, họ kiêu ngạo, tự đắc. Và Việt Nam cũng kiêu ngạo, tự đắc theo. Trong một Thiên Hạ chỉ có một quốc gia đó, chỉ có một văn hoá được chấp nhận, là Khổng Giáo! Khổng Giáo cũng là Number one of... one!!! Nhứt lớp, nhưng lớp chỉ có một học sinh! Tuy nhiên, trong tình trạng “First of one” này, người Trung Hoa và Việt Nam, dùng văn hoá Khổng Giáo, đã giải quyết được các vấn đề của họ một cách hữu hiệu và êm thấm. Văn hoá Khổng Giáo là một văn hoá thích hợp cho họ. Cho đến khi phuơng Tây xuất hiện. Lúc này có hai văn hoá đồng lưu, và văn hoá phương Tây lại tỏ ra là mạnh hơn. Văn hoá Khổng Giáo không còn thích hợp nữa trong việc gây sức mạnh cho Trung Quốc và Việt Nam để đối đầu với phương Tây.

Nhưng ngược lại, ta cũng không thể lấy Khổng Giáo làm tiêu chuẩn để phê phán, suy luận và quyết định về hiện tại được. Ðó là thái độ, lối tiếp cận, của những người khư khư đòi “bảo tồn văn hoá cổ truyền,” nhất quyết duy trì “những giá trị truyền thống,” không muốn nghe nói đến “thay đổi văn hóa,” chống lại hiện đại hoá, vì sợ “mất gốc.”

Mỗi thế hệ giải quyết các vấn đề của họ trong bối cảnh lịch sử của thời họ, tùy hoàn cảnh của họ thời đó, với những ưu tiên về nhu cầu của họ, với những phương tiện – kiến thức, kỹ thuật, dụng cụ – mà họ có trong tay ở thời họ.

Cho nên, vấn đề phải tiếp cận từ góc độ hữu hiệu hay không hữu hiệu, thích hợp hay không thích hợp, chớ không phải tốt-xấu, đúng-sai, hay-dở, tà-chính. Câu hỏi căn bản thành: văn hoá cổ truyền/Khổng Giáo có thích ứng được hay không với những nhu cầu mới, trong bối cảnh thế giới mới – mà điều kiện tồn tại phát triển hệ trọng nhất là có thái độ khoa học, sẵn sàng thay đổi không ngừng –, nghĩa là nó có hữu hiệu hay không trong sự giải quyết các vấn đề của xã hội, đặc biệt là nhu cầu phát triển của xã hội đó? Như anh Kiểng đã nhấn mạnh, và nói đi nói lại mãi, điều kiện căn bản của phát triển là đổi mới. Mà điều kiện căn bản của đổi mới là tự do. Nhưng, với Khổng Giáo, không thể có tự do được, vì KhổngGiáo không chủ trương tự do. Cho nên, ngày nay, văn hoá Khổng Giáo không thích hợp cho sự bảo đảm tồn tại và phát triển của Việt Nam nữa. Ta chỉ cần biết vậy. Xấu, tốt, là những phán xét có tính cách cá nhân. Nên khó làm tiêu chuẩn cho một sự đồng thuận rộng rãi.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét