Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

Ngày mai về xứ lạ

Nguyễn Hiền

- Mai mày về bển rồi.

Tiếng nói rơi vào khoảng không mênh mông vùng ngoại ô thành phố. Chiều nắng rát mặt. Tôi ngồi trên chiếc cầu làm bằng hai tấm ván thô bắt ngang khoảnh đìa nhỏ, bên dưới ngập một thảm rau xanh rì, rợn gió. Chị tôi ngồi bên, ống quần vén lên tới đùi, để lộ hai cẳng chân với bắp chuối tròn mập, gót chân sần sùi nẻ nứt, đây đó những đường gân xanh và những vết sẹo xuống đến hai bàn chân rửa chưa sạch bùn. Trời đã xế chiều, đám rau muống vừa được xáo vội trong nước đục ngầu dưới đìa và tụm thành bó nằm sắp lớp một bên bờ nước. Mùi nhựa rau mới cắt bốc lên hăng hăng mũi, trộn lẫn mùi nước bùn. Chị vuốt những sợi tóc mai lấm tấm mồ hôi trên thái dương, lập lại một lần nữa câu nói trống không:
- Mai mày về bển rồi. Mới vậy mà lẹ dữ.


Tôi lặng im. Dư vị những ngày nghỉ về ở với chị vẫn còn đậm nét trong đầu. Nhìn lại, ba tuần lễ qua đi như chớp. Hai chiếc va li đồ đã sẵn sàng cùng tôi trở về xứ lạnh. Tôi lảng sang chuyện khác, lập lại một câu mấy tuần nay tôi vẫn nói:
- Thấy chị hồi này sống thoải mái em cũng mừng.

- Tao từ hồi nào tới giờ vẫn thoải mái. Tới đâu hay tới đó. Chỉ biết lúc nào Trời còn thương thì tao còn sống, vậy thôi.

- Chị ăn nói lẩm cẩm như bà già.

- Chớ sao. Mày không thấy tóc tao bắt đầu bạc rồi hả?

Tôi nhìn sang bên, im lặng, như đồng ý với lời chị nói. Quả thực. Những sợi tóc lưa thưa khô xác hai bên màng tang đã bắt đầu chịu thua ông thần thời gian, đành phai dần màu đen tuổi trẻ. Tôi nói trỏng:
- Hay tại nắng. Sao chị không mang nón? Cháy tóc hết.

Chị ngồi im không trả lời, hai bàn chân đung đưa cọ vào nhau cho bụi đất rơi trở lại xuống đám rau muống lao xao. Tôi nhìn bóng hai chị em đổ dài xuống mặt đìa, dường như đâu đó có những con cá nhỏ đớp nước, sủi tăm thành từng vòng nhỏ chập chờn. Tôi hỏi:
- Sao hồi nào tới giờ đâu thấy chị nói có nuôi cá...

- Cá nào?

Tôi chỉ mấy tăm nước. Chị cười:
- Ðâu phải cá. Bọt nước dưới sình đó. Rau mọc đặc nghẹt như vầy cá đâu còn chỗ mà lội. Gái ơi Gái! Ra sắp rau con, hồi sáng này chú Bảy nói chiều tới sớm lấy rau đặng tối chú còn đi đám giỗ bên ngoại nè.

Con Gái trong nhà chạy ra, lẹ làng xắn ống quần ì ọp lội xuống đám rau lềnh bềnh. Những vũng bùn bị khuấy đục ngầu, sủi bong bóng. Nó hỏi vói lên:
- Chú Bảy có nói chừng nào chú tới không dì? Sao hồi bữa qua con hổng nghe chú ấy nói kìa?

- Thì hồi mai này thằng Bé vừa qua nhắn với tao. Chị quay lại nói với tôi: ‘Cái thằng Bảy. Lo làm lụi hụi, ngày đám giỗ cũng quên tiêu luôn.’

Con Gái ở với chị, vừa coi nhà, đi chợ, nấu cơm, vừa phụ chị trong việc vớt rau, rửa rau. Con Gái, tên khai sinh của nó là Kim Chi, chị gặp một sáng đứng lơ ngơ trên bến xe đò, chiếc rổ đựng mấy xâu bánh ú còn nóng phỏng tay vừa bị một thằng đầu tém lạng xe Dream ngang qua xớt mất. “Ðồ lưu manh ở đâu ấy. Xe Dream gì mà thèm mấy cái bánh ú. Nó muốn chọc con nhỏ thì có.” Chị nói với giọng tức tối, như muốn chia sự phẫn nộ. Thấy nó tội nghiệp, chị hỏi gia cảnh, rồi cùng nó xuống tuốt Long An, tới nhà xin cho nó được về ở với chị, vừa giúp công việc nhà, vừa để có người hủ hỉ. Có con Gái ở bên, chị không còn sợ những đêm trở gió nhức đầu không có người cạo. Hơn nữa, bữa cơm có hai người cũng bớt cô quạnh. Trong một lá thư gửi sang cho tôi, lúc kể về con Gái, chị đùa: Tao bây giờ sống như tiên. Có người làm, còn hơn thời xưa. Tôi về thăm chị, rớt vào cảnh tiên, duy Tiên nữ cùng nàng hầu triền miên rau muống ao nhà và cá đìa hàng xóm.

*

Chị đưa hai tay lên bóp be sườn, uốn lưng kêu lụp cụp. Hình ảnh một cô thư ký năm nào, tóc đen mượt dài đến ngang lưng dường như đã lùi xa vào một chốn nào đó trong ký ức. Nhìn sang chị, tôi chỉ tìm thấy một người đàn bà đang đi vào tuổi an phận. Chị đã qua khỏi tuổi bốn mươi một đỗi xa. Bốn mươi con gái xứ tôi kể như đã được xếp vào rương đồ cũ, chỉ chờ đóng nắp. Mười hai bến nước, long đong chẳng tấp được vào bến nào, còn nói gì trong với đục.

Ngày tôi về thăm, ngỡ ngàng khi theo chị về xóm. Xóm nhỏ, ít dịp đón khách từ xa đến. Chiếc xe tội nghiệp nhấp nhổm, bốn bánh cố tránh những ổ gà nhấp nhô trên đường đất vàng quạch. Ðám con nít rồng rắn bu theo xem tôi từ ngoài đường cái vào tới trong nhà như đi xem hát hội. Lần đầu tiên tôi sống trong không khí vùng quê mà tưởng như mơ. Những kỷ niệm xưa trong gia đình, cùng cha mẹ và người chị đã mất hút theo căn nhà mấy năm trước đã sang cho người chủ mới. Từ cảnh sống ban ngày bon chen nơi xứ tạm dung, vật lộn với chồng phiếu xuất nhập để tối về nằm bẻ những ngón tay kêu lắc cắc và lo sợ nghĩ đến ngày hôm sau, bỗng dưng tôi bước vào những ngày thảnh thơi, chỉ có ba chuyện: ăn, chơi, và tán dóc. Thời gian dường như dài ra gấp mấy lần. Tôi hoàn toàn sống trong những cảm giác mới, mọi chuyện chung quanh như cùng một lúc ập vào đầy ngũ quan. Căn nhà mái tôn kêu răng rắc trong nắng trưa. Hai chiếc lu chứa nước mưa ngoài sân, ngó vào thấy lăng quăng trồi lên hụp xuống. Ðìa rau muống cung cấp thức ăn mỗi ngày. Ngay cả ngôi mộ của má mấy tuần rồi tôi vẫn đi thăm, cũng còn rất mới và rất lạ với tôi. Có cũ chăng, chỉ là bầu trời đêm nhiệt đới đầy sao lấp lánh mà ở xứ người tôi không bao giờ thấy, bây giờ vừa tìm lại. Khác hơn mọi người, tôi trở về quê hương mà không tìm được những kỷ niệm xưa, trở về để chỉ thấy cảnh chưa bao giờ thấy, với những bộ mặt hàng xóm lạ hoắc lạ huơ. Ngay cả những vật dụng thân quen trong nhà, cùng chị tôi theo về địa chỉ mới, trong căn nhà vùng ngoại thành, cũng mang một bộ mặt của người lạ. Thật khó mà tưởng một người như chị tôi. Ngược dòng xã hội, chị chui rúc vào một xó như nữ tu dòng kín. Cho thắc mắc của tôi, chị chỉ đáp: “Ở đây rồi ai cũng thành đui điếc, hay thành sư cô nhu mì, nhà nước bảo sao răng rắc nghe vậy.” Có lẽ đúng. Ngay như tôi, chân ướt chân ráo trên phi cơ bước vào phòng làm thủ tục nhập cảnh, qua cửa hải quan, vừa nghe anh chàng mặc đồng phục màu cứt ngựa lèo nhèo rằng tờ khai vật dụng ‘không được rõ ràng,’ tôi đã vội vã móc túi lấy tấm giấy năm đô mới toanh dúi vào tay anh ta, mặc dù trong va li, ngoài mớ đồ tùy thân, tôi chẳng có gì hơn mấy xấp vải hoa, ít hộp kẹo bánh và hai bộ quần áo mang theo làm quà cho người chị đã mấy năm không gặp. Lúc đó, tôi chợt hiểu ra rằng vì sao màu xanh cứt ngựa đã trở thành phổ thông trong quân đội khắp nơi trên thế giới. Có lẽ vì màu cứt ngựa tự nó đã toát ra một quyền uy khó giải thích. Mà quân đội lúc nào cũng tượng trưng cho quyền uy, cho dù có những đạo quân được gởi đi gọi là để duy trì hòa bình cho một vùng đất nào đó. Tôi mỉm cười với ý nghĩ vừa thoáng qua, khi so sánh quyền uy với một vật bẩn thỉu nhất.

*

Giờ đây, sau ba tuần lễ, lúc tôi bắt đầu quen với nhịp sống tĩnh lặng ở đây, đã cảm được những tối có muỗi vo ve trong mùng và tiếng nhái, tiếng dế ngoài đêm tù mù, nghĩ tới ngày mai trở về, nghỉ ba ngày, rồi lại chúi vào đống phiếu mỗi sáng nằm chình ình trên bàn làm việc, tôi ngán ngẩm. Chị tôi bỗng nói:
- Mày về nhớ cho tao gởi lời thăm thằng Thân. Ờ mà...

Câu nói vừa chợt buông ra bỗng tắc nửa chừng. Có lẽ chị vừa nhớ trực ra hoàn cảnh của tôi. Thân và tôi đã không còn là gì của nhau nữa. Lúc đón tôi ở phi trường lố nhố người, thấy tôi một mình đi ra, chị sửng sốt: “Thân đâu?” Tôi ôm chị khóc nức, thú thật những điều vẫn giấu chị bấy lâu nay. Có những điều mình vẫn phải giấu nhau, tại sao thế nhỉ? Khi mẹ tôi mất, ba tháng sau tôi mới được tin của chị, kèm lời giải bày: “Sợ cho mày hay rồi mày buồn.” Tôi đã âm thầm giận chị suốt mấy tháng ròng. Buồn trước hay buồn sau ba tháng có khác chi đâu. Nhưng sau đó không lâu, khi tôi và Thân chia tay nhau, bỗng dưng tôi cũng giấu bặt chị về sự tan vỡ đang làm tôi hụt hẫng. Có những chuyện giấu nhau đến giờ chót không phải để làm người đối diện ngạc nhiên. Có thể tôi sợ phải thú nhận sự bất lực của mình, như người ta vẫn sợ hãi và trốn tránh cái tôi trần trụi. Hay phải chăng tôi cũng muốn để cho chị cũng hiểu nỗi buồn phiền của tôi ra sao khi được lá thư chị gởi có kèm theo bản sao giấy khai tử của mẹ?

Khi biết tôi đã hoàn toàn dứt liên lạc với Thân, chị lặng người đi một thoáng, xong bảo tôi: “May mà chúng mày chưa có con với nhau.” May thật. May là chị không biết đứa con chúng tôi chưa kịp đặt tên, đúng ra là không muốn đặt tên, đã không được phép chào đời để thấy những xung đột giữa hai bên. Ðể khi đứa bé lớn lên không phải bị hai phe giành lấy, cố chứng minh phần phải về mình.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét