Thứ Tư, 24 tháng 11, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST AMERICAN WORLD)

Tác giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Người Đồng Minh

Kỳ 6 (Tiếp theo)

Thế thì tất cả những điều ấy có ý nghĩa gì đối với thế giới thực? Ấn độ giáo thực tiễn một cách sâu sắc. Họ có thể dễ dàng tìm được một sự hòa hợp với thực tại bên ngoài. Thương nhân Ấn độ - phần đông là những người Ấn giáo - có thể phát triển trong bất cứ môi trường nào cho phép buôn bán và trao đổi. Dù là ở châu Mỹ, châu Phi hay miền Đông Á. Miễn là họ có thể đặt một mẫu tượng nhỏ đâu đó trong nhà mình để thờ phượng hay tu tập thì ý thức của riêng họ về Ấn độ giáo đã là vẹn toàn. Cũng như với Phật giáo, Ấn độ giáo khuyến khích lòng vị tha của những khác biệt nhưng cũng khuyến khích việc hấp thụ, thẩm thấu vào trong sự khác biệt. Đạo Hồi ở Ấn độ đã thay đổi từ sự tiếp xúc với Ấn độ giáo để trở nên ít tính cách Abraham và nhiều tâm linh hơn. Người Hồi giáo Ấn độ thờ phượng các thánh thần và lăng tẩm, ca tụng âm nhạc, nghệ thuật và có những cái nhìn dự phóng thực tiễn về đời sống hơn là các tôn giáo chính ở ngoại quốc. Dù sự nổi dậy của đạo Hồi bảo thủ trong nhiều thập niên qua đã đẩy Hồi giáo ở Ấn độ đi giật lùi như họ đã như vậy ở nhiều nơi khác, vẫn có những lực đẩy xã hội rộng rãi hơn lôi kéo Hồi giáo ở Ấn độ đi vào dòng chính ở Ấn độ hơn. Điều này có thể giải thích được các con số thống kê hết sức đáng chú ý (vốn có thể chứng minh là một sự phóng đại) là mặc dù có 150 triệu người Hồi giáo ở Ấn độ từng quan sát sự nổi dậy của Taliban và Al Qaeda ở nước Pakistan và Afghanistan láng giềng, không một người Hồi giáo Ấn độ nào từng được biết là thành viên của Al Qaeda.


Thế còn về chính sách ngoại giao thì sao? Rõ ràng là người Ấn độ căn bản thoải mái với những gì bất định và mơ hồ hơn nhiều người Tây phương mà chắc chắn là hơn những người Mỹ gốc Anh. Người Ấn độ thường không quan niệm đường lối ngoại giao như là một cuộc viễn chinh hay nhìn sự hoán đổi đến dân chủ của những nước khác như một khát vọng lớn lao của đất nước. Tinh thần Ấn độ giáo là sống và hãy cứ sống. Do đó, người Ấn độ cũng không thích các ràng buộc hứa hẹn công khai về chiều hướng căn bản của đất nước. Ấn độ sẽ cảm thấy không thoải mái với loại xác định cho rằng mình là một “đồng minh chính” của Mỹ ở Á châu hay mình là một phần của một mối “quan hệ đặc biệt”. Sự không thoải mái với các loại xác định thẳng thừng và rõ rệt về bạn bè và đồng đảng này có thể là một đường nét của ngưòi Á châu. Tổ chức NATO có thể là một đồng minh tuyệt vời cho một nhóm các nước Tây phương – một loại đồng minh chính thức chống lại sự bành trướng của Liên xô với các định chế và hoạt động quân sự. Ở Á Châu, hầu hết các nước sẽ chống lại một thứ cơ chế cân bằng rõ ràng như thế. Họ có thể cùng muốn ngăn cách với Trung quốc, nhưng không một ai muốn xác nhận như thế. Dù vì văn hóa hay hoàn cảnh, đấy là loại chính trị không dám nói lên danh tính.

Tuy nhiên, cũng như ở Trung quốc, tế bào di truyền (DNA) văn hóa của Ấn độ phải được chồng chéo lên với nhiều lớp lịch sử gần đây. Thực tế, Ấn độ đã từng sống qua một kinh nghiệm Tây phương độc đáo khi là một phần của đế chế Anh quốc - học tiếng Anh, đi theo các định chế chính trị và luật pháp của Anh, thi hành các chính sách kiểu đế chế. Các tư tưởng tự do hiện nay đang thấm đẫm trong suy nghĩ của người Ấn, đến mức trong nhiều phương diện đã trở nên một tính cách địa phương của mình. Nehru đã từng có một thế giới quan và chính sách ngoại giao được hình thành từ những ảnh hưởng vốn bị thống lĩnh bởi các tư tưởng xã hội, tự do Tây phương. Cuộc tranh cãi về dân chủ và nhân quyền đang diễn tiến qua các xã hội phương Tây ngày nay là cuộc tranh cãi đã từng có được một nơi chốn thoải mái ở Tân Đề Li, Mumbai và Chennai. Các báo chí Ấn độ và các tổ chức phi chính phủ đã từng nêu lên các quan tâm và cảnh báo tương tự như các nước Tây phương đã làm. Họ đã có những chỉ trích tương tự về chính sách của chính phủ như những điều từng xảy ra ở London, Paris và Washington. Nhưng các đặc tính này hầu hết là của thành phần ưu tú nói tiếng Anh của Ấn độ - vẫn còn là thành phần thiểu số trong nước – mà thực ra thoải mái hơn ở thế giới phương Tây hơn là trên đất nước của họ trong một số phương diện. (Hãy thử hỏi một thương nhân Ấn độ có ăn học, một học giả, nhà khoa học hay một viên chức hành chính xem lần cuối mà họ đọc một cuốn sách không phải bằng Anh ngữ là khi nào). Mahatma Gandhi là một hình ảnh đặc biệt Ấn độ. Các tư tưởng về chính sách ngoại giao của ông là một hỗn hợp của bất bạo động Ấn độ giáo và chủ nghĩa cấp tiến phương Tây, hoàn thiện với một thực tiễn sắc sảo có lẽ đã được định hình từ một bối cảnh thương mại của quá khứ bản thân. Khi Nehru tự gọi mình là một người “Anh quốc” cuối cùng cai trị Ấn độ, ông có ý nói rằng khi đất nước phát triển, gốc rễ văn hoá riêng của đất nưóc sẽ bắt đầu biểu hiện rõ ràng hơn và sẽ được cai quản bởi nhiều người Ấn độ “chính gốc” hơn. Những ảnh hưởng chồng chéo Ấn/Anh này đang thể hiện trên một sân khấu thế giới hay đổi nhanh chóng và rất hiện đại, nơi chính trị và kinh tế đôi khi lôi kéo nghịch hướng với nhau.


Sức mạnh hạch nhân

Thỏa ước về hạnh nhân được đề nghị giữa Ấn độ và Hoa kỳ mang lại một minh họa quyến rũ về mối căng thẳng giữa một mặt là về quan điểm thuần túy kinh tế ở một mặt, và mặt còn lại là về quyền lực về chính trị. Vào năm 2007, Washington đã đặt mối quan hệ với Ấn độ trên một mức phối hợp cao hơn bằng cuộc thương thảo cho một hiệp ước về năng lượng hạch nhân. Điều này nghe qua tựa như một nội dung chính trị èo uột, nhưng thực ra giải quyết vấn đề hạch nhân là một công việc lớn lao. Nếu thành công, có thể thay đổi được khung cảnh chiến lược, đưa Ấn độ trở thành đối thủ mạnh, không thể đảo ngược được, trên sân khấu quốc tế một cách vững chắc, bình thường hóa thực trạng hạch nhân ngấm ngầm của đất nước này đồng thời làm vững chắc mối giao hảo với Hoa Kỳ. Điều này sẽ đặt Ấn độ ngang hàng với các thành viên khác của hội các nước có năng lực hạch nhân như Mỹ, Anh, Pháp, Nga và Trung quốc.

Theo Hiệp Ước Không Phát triển Vũ khí Hạch Nhân (Nuclear Nonproliferaion Treaty), một quốc gia đã từng có các vũ khí hạch nhân vào năm 1968 là một quốc gia hợp pháp về vũ khí hạch nhân và bất cứ quốc gia nào khai triển vũ khí hạch nhân về sau này là bất hợp lệ. (Đó là mệnh đề sản sinh ra tất cả các mệnh đề khác). Ấn độ, từng cho nổ một thiết bị hạch nhân vào năm 1974, là một quốc gia hết sức quan trọng, và là quốc gia triển vọng quyền lực toàn cầu duy nhất được đứng bên ngoài tác dụng của thỏa ước quốc tế này. Vì những nguyên nhân tương tự, Mohamed ElBaradei, cầm đầu cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, (có trách nhiệm kiểm soát và cưỡng chế việc thi hành việc không phát triển Vũ khí hạch nhân) đã từng là người ủng hộ cuồng nhiệt cho hiệp ước Ấn/Mỹ. Chế độ Không Phát triển Vũ khí Hạch nhân đã luôn từng nhào trộn chủ nghĩa lý tưởng với liều lượng mạnh của thực tại. Cuối cùng, Hoa Kỳ đã đi vòng quanh thế giới để bảo mọi quốc gia rằng một vài đầu đạn hạch nhân là nguy hiểm và phi đạo đức – trong khi chính đất nước này nắm giữ hàng ngàn vũ khí hạch nhân của riêng mình.

Đối với Ấn độ, cuộc mặc cả về hạch nhân đi đến một điều khá đơn giản: Ấn độ sẽ giống như Trung quốc hay giống như Bắc Hàn hơn? Tân Đề Li lập luận rằng thế giới nên chấp nhận Ấn độ là một sức mạnh hạch nhân, để đổi lại Ấn độ sẽ sẵn lòng thực hiện các chương trình (hạch nhân) của mình một cách hết sức an toàn trong khả năng của mình. Mãi cho đến chính phủ Bush, chính sách Mỹ trong nhiều thập niên đã tìm cách đảo ngược các chương trình hạch nhân của Ấn độ, một công việc không đem lại kết quả. Ấn độ đã trải qua ba mươi ba năm dưới sự trừng phạt của Mỹ mà không hề xoay chuyển – cho dù mình là một quốc gia rất nghèo – và bất cứ ai hiểu được quốc gia này biết rằng họ sẽ vui sướng để trải qua nhiều năm tháng nữa mà không hề phải nghĩ đến việc từ bỏ các vũ khí hạch nhân của họ.

Từ quan điểm kinh tế, thỏa ước về hạch nhân không phải là hệ trọng lắm đối với Ấn độ. Thỏa ước ấy mang đến cho đất nước này sự dễ dàng hơn đến công nghệ hạch nhân dân sự vốn là quan trọng cho nhu cầu năng lượng của đất nước. Nhưng đấy chỉ là phần nhỏ trong quỹ đạo của sự phát triển tổng thể. Những phần thưởng của nền toàn cầu hóa sẽ thúc đẩy Tân Đề Li ngừng sự phí phạm thì giờ về vấn đề này để tập chú vào phát triển và để những quan tâm này lại cho một thời điểm về sau này. Có nhiều thể loại năng lượng thay thế, cả Nhật bản và Đức đã từng xoay xở để đạt được một năng lượng mạnh không cần đến hạch nhân.

Tuy nhiên, những khát vọng của Ấn độ về năng lượng hạch nhân là về sự tự hào dân tộc và chiến lược địa lý chính trị. Nhiều chính khách Ấn độ và các nhà ngoại giao bực bội với thực tế là Ấn độ luôn luôn bị đứng hạng nhì khi so sánh với Trung quốc, Nga và các nước có năng lực hạch nhân khác. Trong tất cả các quốc gia ấy, không một lò phản ứng nào phải chịu dưới sự kiểm tra của bất cứ chế độ nào, nhưng Ấn độ lại muốn đặt tối thiểu là 2/3 chương trình hạch nhân của mình dưới sự xem xét của Cơ quan Năng Lượng Nguyên tử Quốc tế. Sự bất bình đẳng với Trung Quốc đặc biệt làm phật lòng Tân Đề Li. Các quan chức Ấn độ sẽ lẳng lặng chỉ ra rằng Trung Quốc đã từng có một lịch sử lâu dài của việc xúi dục tăng trưởng hạch nhân, rõ ràng nhất là thông qua Pakistan. Tuy nhiên Hoa Kỳ có một thỏa thuận chia xẻ công nghệ hạch nhân dân sự với Bắc Kinh. Ấn độ biện luận rằng mình là một quốc gia dân chủ, minh bạch với một thành tích tuyệt vời về không tăng trưởng vũ khí hạch nhân. Thế mà, quốc gia này lại bị từ chối một sự hợp tác như thế trong ba mươi ba năm qua.

Trong sự việc này, nền địa lý chính trị và toàn cầu hóa tiến hành trong các tầng mức khác nhau. Nhiều người Mỹ - mà người Ấn độ gọi là “các giáo chủ Hồi Giáo chống phổ biến vũ khí hạt nhân” - vốn ủng hộ việc giải giới vũ khí hạt nhân – đã chống lại hợp tác ấy hoặc chỉ muốn chấp nhận riêng một trường hợp nếu như Ấn độ chịu đồng ý từ bỏ việc sản xuất các nguyên vật liệu hạt nhân của mình. Nhưng, Tân Đề Li tuyên bố rằng, hãy nhìn vào bản đồ: biên giới Ấn độ bọc quanh bởi Trung quốc và Pakistan, cả hai đều là các quốc gia có năng lực hạch nhân, cả hai nước đều không từng đồng ý từ bỏ các yêu cầu cơ bản. (Trung quốc có vẻ như đã ngưng việc sản xuất chất plutonium, vì có các sức mạnh quan trọng khác, nhưng đây là một quyết định tự nguyện, đã được thực hiện đa phần do bởi tố chất này đã quá tải trong các nguyên liệu hạch nhân rồi). Ấn độ xem yêu cầu bắt buộc phải đóng lại các lò hạt nhân của mình là một loại đòi hỏi làm tê liệt khả năng hạt nhân đơn phương. Thực tế chiến lược này cũng ảnh hưởng đến các tính toán của Mỹ. Hoa Kỳ từ lâu từng chống lại hình thức đơn phương bá chủ châu Âu hoặc châu Á. Nếu như Ấn độ bị yêu cầu phải đóng sức mạnh hạch nhân của mình – mà không tương ứng với sự hạn chế với phía Trung quốc – thì kết quả sẽ là một sự phát triển bất cân đối ghê gớm về sức mạnh có lợi cho Trung quốc. Robert Blackwill, cựu đại sứ Hoa Kỳ ở Ấn độ từng đặt câu hỏi, vì quyền lợi quốc gia lâu dài của Hoa Kỳ nào mà lại thiên về một thỏa thuận sẽ khiến Trung quốc trở nên một sức mạnh hạch nhân không bị ngăn cản và một bá chủ thống trị ở Châu Á?

(Còn tiếp)


i. Theo Mohamed ElBaradei "Rethinking Nuclear Safeguards" Wasington Post, ngày 14 tháng Sáu, 2006
ii. Theo Robert D. Blackwill, "Journalist Roudtable on India (bản ghi lại), tổ chức bởi David B. Ensor, ngày 23 tháng Hai, 2006)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét