Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Tác giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Người Đồng Minh

Kỳ 5 (Tiếp theo)

Con Bò và con chim Đại Bàng

Đa số người Mỹ sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Ấn độ từng là nước ủng hộ Mỹ nhất trên thế giới, tối thiểu trong một phương diện. Khảo sát của PEW vào năm 2005, đã phỏng vấn dân chúng mười sáu nước xem họ có ấn tượng tốt với Hoa Kỳ hay không. Câu trả lời thật kinh ngạc là 71 phần trăm người Ấn độ trả lời “Có”. Chỉ có người Mỹ mới có một đa số quan điểm thích nước Mỹ (83 phần trăm). Những con số có thể là thấp hơn trong một số khảo sát khác, nhưng căn bản tìm được vẫn là đúng: Người Ấn độ cực kỳ thoải mái và hoàn toàn đồng lòng hướng về Mỹ.


Một nguyên nhân của điều này có lẽ là trong bao nhiêu thập niên chính phủ Ấn độ đã cố gắng đè bẹp chủ nghĩa chống Mỹ trong dân chúng Ấn. (Khi giải thích về những khốn khó của Ấn độ vào những năm 1970, các chính khách thường hay nhắc đến “bàn tay giấu kín” – cách nhắc đến CIA hay sự can thiệp của Mỹ nói chung – mà nhà biếm họa R. K. Laxman đã dùng để vẽ một bàn tay thực sự bắt nguồn để gây nên tất cả các loại phá hoại). Nhưng quan trọng hơn chính là sự kiện người Ấn hiểu người Mỹ. Đấy là một xã hội mở với một hệ thống chính trị nháo nhào như chính họ vậy. Chủ nghĩa tư bản của họ nhìn khác hơn là loại tất cả-đều-miễn-phí của Mỹ (free for all). Nhiều thị dân Ấn độ giống như người Mỹ, nói ngôn ngữ của Mỹ và thường có biết đến một ai sinh sống ở đấy, thường là thân nhân của họ.

Cộng đồng người Mỹ gốc Ấn từng là cầu nối giữa hai nền văn hóa. Một ý nghĩa thường dùng để diễn tả việc những người Ấn rời bỏ quê hương là “xuất não”(brain drain). Nhưng thực ra hiện tượng này đã từng là một sự “tăng não” (brain gain) cho cả đôi bên. Người Ấn ở hải ngoại đã đóng một vai trò quan yếu trong việc bung mở đất mẹ. Họ đã mang về Ấn tiền bạc, ý tưởng đầu tư, các chuẩn mực quốc tế và trên tất cả mọi điều đó chính là một ý thức rằng người Ấn có thể đạt được tất cả mọi thứ. Có lần, một nghị sĩ quốc hội từng hỏi vị thủ tướng bấy giờ là Indira Gandhi một câu nổi tiếng: “Tại sao người Ấn độ lại có thể thành công ở mọi nơi trừ trên chính đất nước mình?” Những câu chuyện về người Ấn độ đạt đến các đỉnh cao ở Mỹ đã khuyến khích lòng tự hào và sự ganh đua ở Ấn độ. Về phần mình, người Mỹ đã rộng vòng tay hơn với Ấn độ vì họ đã có được những kinh nghiệm tích cực với người Ấn ở Mỹ.

Nếu dân Ấn độ hiểu nước Mỹ, người Mỹ cũng hiểu nước Ấn độ. Họ bị khó xử và bị rắc rối bởi thành phần ưu tú tạo quyết định vốn không thể dò trước được như Bộ chính trị Đảng CS Trung quốc hay Hội đồng Bảo vệ của Iran. Nhưng một nền dân chủ hay cãi cọ vốn cứ di chuyển tiến, thoái hay bẻ ngang ấy – là loại dân chủ mà họ hiểu được. Trong giai đoạn thương thảo về vấn đề vũ khí hạch nhân, người Mỹ đã để ý theo dõi những gì xảy ra ở Tân Đề Li –dân chúng đã chống lại việc xử lý rò rỉ từ những câu chuyện có tính tiêu cực từ bên trong chính phủ, các đối thủ chính trị đã dùng vấn đề để ghi thắng lợi ở những vấn đề không có gì liên quan – và đã nhận ra tất cả đều rất quen thuộc. Những điều tương tự vốn thường xảy ra ở Wasington.

Hầu hết các nước đã có những mối quan hệ gần như độc quyền giữa cấp chính phủ với nhau. Cứ nhìn mối liên lạc giữa Hoa Kỳ và Saudi Arabia, vốn chỉ hiện diện độc quyền giữa vài chục viên chức cao cấp với nhau. Nhưng đôi khi, mối liên kết không chỉ giữa hai chính phủ mà còn giữa hai xã hội nữa. Hoa kỳ đã phát triển những mối quan hệ có ý nghĩa nhiều hơn chỉ là chiến lược trong hai trường hợp: với Anh quốc và sau đó là với Do Thái. Trong cả hai trường hợp, mối liên kết là rộng rãi và sâu sắc, vượt khỏi mối quan hệ giữa các viên chức chính phủ và các thương thảo ngoại giao. Hai quốc gia hiểu biết và am hiểu lẫn nhau - kết quả là, họ đã trở nên tự nhiên và hầu như là đối tác vĩnh viễn của nhau.

Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ấn độ cũng không tránh khỏi ở trong một mức độ tương tự. Dù hai quốc gia có ký kết thỏa ước gì với nhau hay không, hai xã hội vẫn không ngừng quyện chặt vào nhau. Một ngôn ngữ chung, thế giới quan chung và một mối đam mê về nhau sẽ mang những người cầm bút, các thương nhân và những nhà hoạt động phi chính phủ lại gần nhau. Điều này không có nghĩa là Hoa Kỳ và Ấn độ sẽ đồng ý với nhau về mọi vấn đề chính sách. Tóm lại, Roosevelt và Churchill bất đồng với nhau về một số vấn đề trong thời gian họ là đồng minh gần gũi của nhau trong thời chiến, đáng chú ý là hầu như vì vấn đề độc lập của Ấn độ, và Hoa Kỳ đã đổ vỡ với Anh quốc qua vụ kênh đào Suez hồi năm 1956. Ronald Reagan, một người ủng hộ Do Thái vững chắc cũng đã lên án phản đối cuộc xâm lăng của nước này vào Lebanon năm 1978, Wasington và Tân Đề Li là những thế lực lớn với các quan tâm hứa hẹn đối ngoại phức tạp. Họ có quyền lợi khác biệt do đó không tránh khỏi những tranh chấp về chính sách. Cũng thế, tương tự như Anh và Mỹ, họ có những cái nhìn khác nhau về thế giới. Lịch sử Ấn độ, tôn giáo và văn hóa sẽ dẫn họ ra khỏi một thế giới quan thuần túy Hoa Kỳ.

Thế giới quan Ấn độ giáo
Bất chấp một ý nghĩa lớn mạnh về sự cạnh tranh, Ấn độ thực đã di chuyển đến gần Trung quốc hơn trong một số phương diện, những thứ có liên quan đến sự tham dự của hai nước vào sân khấu quốc tế. Ấn độ đã rời xa khỏi cái tính tự cho mình là đúng của thời đại Nehru cũng như tính hay gây gổ của những năm tháng thời Indira Gandhi. Thay vào đó, Ấn độ thực đã thực hiện được những phát triển cho mối ưu tiên quốc gia tối thượng của mình, mang lại được các chính sách ngoại giao cũng như các chính sách đối nội của mình. Thủ tướng Manmohan Singh đã liên tục xác quyết mục tiêu đối ngoại của Ấn độ - hòa bình và ổn định để mang lại phát triển - nghe tương tự như chính sách đã được xác quyết ở Bắc kinh. Các chính trị gia Ấn độ đã trở nên hiểu biết hơn bao giờ trước những thử thách sâu xa trong việc phát triển một xã hội rộng lớn - đặc biệt một xã hội dân chủ với những áp lực quốc nội được thẩm thấu nhanh chóng và sâu đậm - và đồng thời cũng tập chú hoàn toàn vào các vấn đề quốc tế. Các công việc đối ngoại được xem như một phương cách để hỗ trợ cho những quan tâm quá lớn này. Mối căng thẳng này - của một đất nước vốn là một sức mạnh quốc tế nhưng đồng thời lại rất nghèo - sẽ có khuynh hướng giới hạn các hoạt động ở hải ngoại của Ấn độ. Điều này đặc biệt sẽ có nghĩa là Ấn độ sẽ không muốn được xem như tích cực dự phần vào chiến lược cân bằng Trung quốc, đất nước đang trở nên đối tác giao thương chính của mình.

Cũng có một nền văn hóa Ấn, vốn mang một căn bản riêng và cái nhìn riêng về thế giới. Ấn giáo, cũng như Khổng giáo, không tin vào Thượng đế. Họ tin vào hàng trăm, hàng ngàn thánh thần. Mỗi môn phái, mỗi phụ phái của Ấn độ giáo thờ phượng thần thánh, nữ thần hoặc đấng thiêng liêng riêng của họ. Mọi gia đình đều quên lãng phiên bản khác biệt của mình về Ấn độ giáo. Ta có thể thờ phượng một số niềm tin và không thờ những niềm tin khác. Ta có thể không tin ai cả. Ta có thể ăn mặn hoặc có thể ăn chay. Ta có thể cầu nguyện và cũng có thể không. Không có chọn lựa nào xác định mình là một người Ấn độ giáo cả. Chẳng có dị giáo cũng không có phản đạo bởi vì không hề có một căn lõi các niềm tin, không học thuyết và không có điều răn gì cả. Chẳng có gì cấm đoán chẳng có gì yêu cầu phải theo.

Ngài Monier-Williams - giáo sư Boden về Phạn ngữ tại đại học Oxford từ năm 1860 đến 1899, có lẽ là người Tây phương đầu tiên đã nghiên cứu Ấn độ giáo một cách đầy đủ. Ông sinh tại Bombay; sáng lập nên viện Ấn độ của trường Oxford vốn sau này trở nên một cơ sở đào tạo nên các lãnh tụ tương lai của chính phủ Anh tại Ấn độ. Cuốn Ấn độ giáo của ông, xuất bản lần đầu vào năm 1877, thu hút cả về các văn bản Phạn ngữ cổ đại đến các kiến thức thực tiễn về Ấn độ giáo đương đại. Ông đã viết :

[Ấn độ giáo] là tất cả sự dung thứ... Ấn độ giáo có cả khía cạnh tâm linh và khía cạnh vật chất, bí mật và công khai, chủ quan và khách quan, hợp lý và phi lý, thuần khiết và không thuần khiết của mình. Ấn độ giáo có thể so sánh như một khối đa giác cực lớn… Ấn độ giáo có mặt thực tiễn lại có mặt khác cho các đạo lý nghiêm khắc và các mặt khác cho sự dâng hiến, trí tưởng tượng, cảm giác, nhục dục và các mặt khác nữa cho triết học và dự phóng. Những ai muốn dựa vào những nghi thức cung kính sẽ thấy Ấn độ giáo là đầy đủ và vẹn toàn; những ai muốn chối bỏ các hiệu quả của sự tu tập, coi đức tin là một điều cần thiết không cần phải lang thang ra ngoài vòng rào của tôn giáo này; những ai lệ thuộc vào những đối tượng nhục dục có thể có niềm ưa thích của mình được thoả mãn; những ai sung sướng trong suy tưởng về bản chất của Thánh thần và Con người, mối quan hệ giữa tinh thần và vật chất, bí ẩn của các hiện hữu khác biệt, căn nguyên của quỷ dữ có thể say mê tình yêu suy luận của mình ở đây. Và những khả năng về sự phát triển vô bờ bến này tạo nên vô vàn những giáo phái ngay cả giữa những tín đồ của bất kỳ dòng học thuyết đặc thù nào.

Minh chứng đáng chú ý nhất về sự thẩm thấu quyền lực của Ấn độ giáo chính là phương cách mà tôn giáo này kết hợp với Phật giáo. Đức Phật là một người Ấn độ và Phật giáo đã được tạo dựng ở Ấn độ nhưng ngày nay hầu như không hề có người Phật tử nào ở Ấn độ. Đấy không phải là hậu quả của một sự bách hại. Mà thực ra là ngược lại. Ấn độ giáo đã hết sức thấm nhuần thông điệp của Phật giáo đến mức đã bao bọc tôn giáo này lại. Hiện nay, nếu muốn tìm một người Phật tử, ta phải đi xa hàng ngàn dặm khỏi nơi gốc nguồn đến Đại hàn, Nam dương và Nhật bản mới tìm được.

Nhà văn người Bengal, Nirad Chauhuri đã bị thu hút đến sự phấn kích từ tính phức tạp của Ấn độ giáo. ‘’Càng nghiên cứu học hỏi vào chi tiết chừng nào, càng thêm hoang mang hơn’’ ông đã viết “Đơn giản không phải là ai đó không thể hình thành được một ý tưởng thuộc về trí thức rõ ràng từ toàn bộ nội dung, mà ngay cả muốn đi ra khỏi từ một phản ứng cảm tính nối kết cũng không được”. Ấn độ giáo không phải là một "tôn giáo" thực sự trong ý nghĩa con cháu tổ phụ Abraham của thế gian mà là một triết lý lỏng lẻo, một loại triết lý không có lời giải đáp mà chỉ có các tra vấn. Nguyên tắc dẫn dắt duy nhất chính là sự không rõ ràng. Nếu như có một câu trọng điểm trong các văn bản quan trọng nhất của Ấn độ giáo, đó chính là kinh Rig Veda, đó là Lời Ngợi ca Sáng Thế. Một phần được đọc như sau:

Ai thực biết và ai có thể thề rằng mình biết thực
Sáng tạo là ở đâu, ra sao và khi nào!
Ngay cả các thánh thần đến sau ngày sáng thế
Ai thực biết và ai đã nói thực
Khi nào và làm sao mà sự sáng thế đã khởi đầu?
Phải chăng Người đã tạo nên? hay Người không hề tạo dựng?
Có lẽ, chỉ có Người, ở trên cao kia hằng biết
hay có lẽ, ngay cả chính Người cũng chẳng phải.

Hãy so sánh những điều ấy với toàn bộ những điều có tính quyết đoán trong sách Genesis.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét