Thứ Ba, 9 tháng 11, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST AMERICAN WORLD)

Tác giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Người Đồng Minh

Kỳ 4 (Tiếp theo)

Trong bất cứ biến cố nào cũng không có cách gì khác. Dân chủ chính là số phận của Ấn độ. Một đất nước quá phân rẽ và phức tạp không thể được lãnh đạo bằng một cách thức khác hơn. Nhiệm vụ của một chính trị gia giỏi của Ấn độ là áp dụng dân chủ vào lợi thế của đất nước. Điều này thực đã xuất hiện trong một số phương diện. Chính phủ gần đây đã khởi sự đầu tư vào y tế và giáo dục ở nông thôn và tập trung vào việc cải tiến mức sản xuất trong nông nghiệp. Kinh tế tốt đẹp đôi khi có thể giúp cho chính trị tốt đẹp lên – hay tối thiểu thì đây cũng là niềm hy vọng của Ấn độ. Dân chủ đã từng được mở rộng từ năm 1993 khiến các làng thôn có được tiếng nói của mình mạnh mẽ hơn. Các hội đồng hương thôn phải dành 33 phần trăm vị trí cho phụ nữ và hiện nay đã có một triệu phụ nữ dân cử trong các thôn làng trên khắp nước - tạo cho họ một nền tảng để qua đó có thể đòi hỏi được cho mình một nền y tế và giáo dục tốt hơn. Tự do thông tin cũng được mở mang trong niềm hy vọng rằng dân chúng sẽ đòi hỏi đến các chính phủ hữu hiệu hơn từ các lãnh đạo và hành chánh ở địa phương của họ. Đó là một sự phát triển từ dưới đi lên với thúc đẩy xã hội tác động vào nhà nước.


Nhà nước có đáp trả không ? Nhà nước Ấn độ, được xây dựng nên dưới thời Raj của Anh quốc, được phát triển hết sức rộng rãi trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa của Ấn độ, chưá chất đầy những bậc chính khách vốn yêu quý những đặc quyền và thế lực vặt vãnh của mình. Những thành phần này được gia nhập thêm bởi thành phần chính khách ưa thích loại sức mạnh của ban phát. Lại vẫn còn được hôn phối với các tư tưởng đoàn kết và chủ nghĩa xã hội Đệ tham thế giới. Trong thế giới quan này, nhà nước đã từng được tham gia bởi nhiều nhà báo và thành phần trí thức, vốn được giáo dục rất tốt trong các dòng tư tưởng cấp tiến mới nhất – vào khoảng thời gian 1968, khi họ còn ở trong đại học cao đẳng. Khi Ấn độ thay đổi, những thành phần ưu tú cũ này bị đe dọa thành ra đã phải gắng sức gấp đôi. Nhiều nhân vật trong hàng ngũ lãnh đạo của Ấn độ không thoải mái lắm với những gì hiện đại, cởi mở, với xã hội giao thương đang phát triển quanh họ.

Cuối cùng, chính phủ là quan yếu. Ngay cả các công ty tư nhân, thành công lớn nhất của Ấn độ, cũng đã không thể nẩy nở nếu không có một thị trường chứng khoán được quản trị tốt và một hệ thống tài chính trong sạch, có luật lệ, có phán xét – vốn là tất cả các chức năng của chính phủ. Nền công nghệ thông tin phát triển đã đưọc tạo nên chính từ sự tái điều chỉnh, tái phối trí sáng suốt của chính phủ. Viện Nghiên cứu Công nghệ Ấn độ đã được chính phủ tạo dựng nên. Khu vực tư nhân không thể giải quyết được nạn khủng hoảng bệnh AIDS của Ấn độ, các thiếu sót về giáo dục ở nông thôn hay các khó khăn về môi trường. Hầu hết dân Ấn, đặc biệt là những người nghèo chỉ có một phản ứng đáng thương với chính phủ của mình. Đó là vì họ nhận ra rằng chính phủ thiếu hiệu quả hoặc bị lũng đoạn hoặc cả hai. Đấy là nguyên nhân vì sao một loại tình cảm chống lại sự đè nén đã trở nên một sức mạnh hết sức lớn trong các cuộc tranh cử ở Ấn độ ba thập niên qua: dân Ấn độ tiếp tục thải bỏ những thành phần cặn bã ra, trong niềm hy vọng rằng chính phủ sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Và các cử tri có lý. Nếu nền cai trị của Ấn độ không cải thiện, đất nước sẽ không bao giờ đạt được tiềm năng tối đa của mình.

Đây có lẽ là nghịch lý trọng tâm của Ấn độ ngày nay. Xã hội thì mở rộng, khao khát và tự tin, sẵn sàng sánh vai với thế giới. Nhưng nhà nước – thành phần cai trị - thì lưỡng tự, cẩn trọng và nghi hoặc về những thực tại đang thay đổi chung quanh mình. Không ở đâu mà mối căng thẳng này được rõ ràng hơn là ở chính trong lãnh vực chính sách đối ngoại, nơi các nhiệm vụ lớn lao và quan trọng không ngừng để quyết định được một đất nước Ấn độ sẽ xứng hợp nơi đâu trong một thế giới mới.


Đui Mù và Không còn cái răng nào

Sau khi đạt được nền độc lập của mình, Ấn độ mong muốn được đóng một vai trò lớn trên sân khấu quốc tế. Tham vọng này được kế thừa từ Anh quốc, đất nước vốn đã có một ảnh hưởng lớn vào đế chế của họ từ Tân Đề Li. Chính là vì Ấn độ mà Anh quốc đã cai trị Iraq trong những thập niên sau Đệ nhất Thế chiến. Chính binh lính Ấn độ là những người đã tiến hành các cuộc viển chinh đế quốc của Anh trong vùng Trung đông và các nơi khác. Bản doanh đặt tại Ấn độ là trung tâm quan yếu của quyền lực thế giới, là phần nối dài quan trọng nhất của đế quốc Anh, và dân Ấn độ đã quan sát và học được trò chơi quyền lực lớn từ chính siêu quyền lực của thời đại.

Thủ tướng đầu tiên của Ấn độ, Nehru, ung dung thoải mái trong truyền thống như thế. Ông đã được giáo dục như một bậc quý tộc Anh ở Harrow và Cambridge, đi nhiều, đọc rộng và đã từng viết rất nhiều về các vấn đề quốc tế. Hiểu biết về lịch sử của ông thật là phi thường. Trong một giai đoạn giữa nhiều giai đoạn ở trong nhà tù của Ấn dưới thời Anh thuộc, giai đoạn này là từ 1930 đến 1933, ông đã viết một loạt những lá thư cho con gái mình phác thảo đại cương toàn bộ lịch sử nhân loại, từ thời gian năm 6000 trước CN đến hiện tại, mô tả chi tiết những thăng trầm của các đế chế, giải thích về chiến tranh và cách mạng, định hình các vua chúa và các nền dân chủ - mà không cần tham cứu đến thư viện. Vào năm 1934, tất cả những lá thư đã được sưu tập và in thành sách, cuốn Glimpses of World History, được thế giới ca ngợi. Nhà xuất bản The New York Times mô tả đấy là " một trong những cuốn sách tuyệt vời nhất từng được xuất bản".

Nehru đã trở nên một hình ảnh vượt trội trong chính sách ngoại giao của Ấn trong một cách không có gì phải ngạc nhiên. Từ năm 1947 đến 1964, trong suốt thời gian làm thủ tướng, ông đương nhiệm cả chức vụ Bộ trưởng ngoại giao. Một trong những bí thư bộ ngoại giao đầu tiên của Ấn độ, ông K. P. S. Menon, đã giải thích trong cuốn tự truyện của mình "Chúng tôi đã không hề có những tiền lệ để trở về, bởi vì Ấn độ chưa hề có một chính sách ngoại giao của riêng mình cho đến khi được độc lập. Chúng tôi cũng ngay cả không hề có phần sao lục lịch sử mãi cho đến khi tôi tạo ra các chương ấy...Do đó, chính sách của chúng tôi dựa vào tri thức của một người, vốn là Bộ trưởng Ngoại giao, ông Jawaharlal Nehru". Điều này có nghĩa rằng chính sách ngoại giao ban đầu của Ấn độ chịu ảnh hưởng bởi cách nguyên lý và định kiến vốn rất đặc thù của Nehru. Nehru là một nhân vật lý tưởng, cả đạo đức nữa. Ông là con người của sự không liên kết và chống lại cuộc chiến tranh lạnh. Người thầy về tinh thần của ông, Đức Gandhi là một nhân vật bất bạo động không suy chuyển. Gandhi thường nói rằng "Mắt đổi mắt, răng đổi răng sẽ khiến cả thế gian mù và không còn cái răng nào". Bậc đại nhân này được kính trọng như một vị thánh ở Ấn độ và chính sách bất bạo động của ngài đã khiến một đế quốc phải xụp đổ. Như bao môn đệ của ông, Nehru kiên quyết tạo nên một con đường mới trong các vấn đề quốc tế theo các lý tưởng ấy.

Căn rễ của Nehru trong chính sách ngoại giao của Ấn độ ở trong các tư tưởng trừu tượng chứ không ở trong các tư tưởng có tính chiến luợc về các lợi ích của quốc gia. Ông xem thường các loại liên minh, công ước, hiệp ước, coi chúng như một phần của những quy luật xưa cũ của loại chính sách thực dụng, và ông cũng không chú tâm đến các vấn đề quân sự. Ông đã yêu cầu người bạn mình, bá tước Mountbatten, vị quan kinh lược cuối cùng của Anh quốc (người đã phục vụ trong vị trí như lãnh đạo tối cao của Ấn độ) để tổ chức ban ngành quốc phòng và can thiệp để chống lại bất cứ đề nghị nào có thể cho lực lượng quân đội quá nhiều sức mạnh, vốn nhắc Nehru nhớ đến cấu trúc đế quốc của Anh quốc quá nhiều. Khi Mountbatten đề nghị rằng sẽ phải có một người chỉ huy bộ phận quốc phòng, Nehru bác bỏ lời khuyên ấy vì ông muốn có một bộ trưởng dân sự vô địch không ai có thể hơn được. Một tuần sau khi chính phủ làm việc, ông đến bộ quốc phòng và giận dữ khi thấy các sĩ quan quân đội làmviệc ở đấy (như mọi sĩ quan đều như thế trên khắp thế giới). Kể từ đó, tất cả các nhân sự quân đội làm việc ở “Khu vực Phía Nam” của New Delhi đều mặc thường phục. Trong hầu hết thời đại của Nehru, vị bộ trưởng quốc phòng của ông là một chính khách được tin cậy, V. K. Krisna Menon, một nhân vật còn ít chú tâm đến các vấn đề quân đội, nhân vật này chú ý đến cuộc chiến đấu ý thức hệ ngoắt nghéo hơn là việc hoạch định chiến lược.

Chính sách ngoại giao của Ấn độ trong các thập kỷ đầu tiên đã có một chất lượng hời hợt, đầy những lời lẽ hùng hồn về hòa bình và thiện chí. Nhiều nhà quan sát Tây phương tin rằng những loại trung thành với tổ quốc này chỉ là tấm bình phong mù mịt che đậy những gì đất nước này đang thực sự theo đuổi cho quyền lợi của mình. Nhưng đôi khi ta nhìn thấy đúng là cái gì mình có được. Trong khá nhiều cách giải quyết của ông, Nehru đã có khuynh hướng đặt hy vọng cao hơn sự toan tính. Thí dụ như, khi được cảnh báo rằng Trung quốc sẽ tìm cách thôn tính Tây Tạng, ông đã không tin và lập luận rằng đấy sẽ là một cuộc phiêu lưu không thực tiễn và ngu ngốc. Và ngay cả khi Bắc kinh thực sự xâm lăng Tây Tạng vào năm 1951, Nehru cũng không chịu xét lại bản chất các mối lợi quyền của Trung quốc dọc biên giới phía bắc của Ấn độ. Thay vì phải thương thảo về các tranh chấp biên giới với Trung quốc, ông lại tuyên bố vị trí đơn phương của Ấn độ, thuyết phục bởi những lẽ phải của mình. Và do đó ông đã tan nát khi nhìn thấy Trung quốc xâm lăng Ấn độ vào năm 1962 để tạo ưu thế cho cuộc tranh chấp của họ.”Chúng ta đang mất liên lạc với thực tại của thế giới hiện đại và đang sống trong một không gian giả tạo của chính chúng ta tạo nên”, Nehru đã tuyên bố như thế trong một bài nói chuyện với cả nước. Ông không bao giờ lấy lại được uy tín nữa, hai năm sau ông đã qua đời tại văn phòng mình.

Mặc dù sự hùng biện vẫn còn được ngưỡng mộ, các chính sách của Ấn độ đã trở nên thực tế hơn trong những năm thàng qua. Mỉa mai thay, đã có một bộ óc đặc biệt cứng rắn và sắc xảo trong thời đại trị vì của con gái Nehru, bà Indira Gandhi. Đã có một sự trưởng thành lặng lẽ của giới ưu tú về chính sách ngoại giao của Ấn độ. Do đó Ấn độ vẫn chưa đóng được vai trò lớn hơn trên thế giới. Nehru và Indira Gandhi là những khuôn mặt quốc tế, nhưng Ấn độ lại bị vận hành dưới những kiềm chế khắc nghiệt. Các xung đột với láng giềng – Pakistan, Trung quốc, Sri Lanka – đã trói chặt và giới hạn tầm nhìn của đất nước này. Cuối cùng, trong thời chiến tranh lạnh, đất nước này đã đồng minh với Liên xô và vì thế đã ở về phía thua cuộc trong cuộc chiến dài lâu đó. Cuối cùng và quan trọng là, biểu hiện kinh tế của Ấn độ đã đi từ dở đến tồi tệ hơn, khiến đã đặt những giới hạn sâu sắc vào ảnh hưởng, sức phát triển, sự thu hút và tài nguyên của đất nước này.

Như học giả C. Raja Mohan đã vạch rõ, hầu hết tình hình đã thay đổi trong thập niên qua. Cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt, Ấn độ bắt đầu đơm hoa kết trái và các quan hệ với nước láng giềng - từ Trung quốc đến Pakistan hay đến nước tí hon Bhutan – đã cải thiện một cách rõ rệt. Kết quả là Ấn độ đã khởi sự đóng một vai trò lớn hơn nhiều trên thế giới, cuối cùng, đất nước này đã sẵn sàng để trở nên một quyền lực mạnh. Và ở trọng tâm của vai trò mới ấy là một mối quan hệ sâu sát hơn với Hoa Kỳ.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét