Thứ Bảy, 20 tháng 11, 2010

CÁ TÍNH VĂN HỌC MIỀN NAM

(Tiếp theo và hết)

Bản tính hiếu động nên nhà văn miền Nam có thể kể một nỗi vui, nỗi khổ đau, một cơn tức giận, thịnh nộ, nhưng lại không hay diễn tả cái thứ buồn uể oải, thứ buồn nó ngấm trong điệu thơ lục bát của toàn quyển Kiều như là một cảm giác tê mỏi ngấm khắp gân cốt, tản mác khắp châu thân của một người mệt nhọc. Nguyệt Nga cũng có lúc khổ đến tự tử, nhưng không có khi ngồi như Kiều ở lầu Ngưng Bích “buồn trông” chân trời mặt bể. Mà dẫu có đứng trước cảnh đó chắc Nguyệt Nga cũng không tự hỏi cái câu:
“Hoa trôi man mác biết là về đâu?”

“Hoa trôi về đâu” thì không có gì đặc biệt. Nhưng thêm vào bốn chữ “man mác, biết là” tác giả làm cho giọng nói dịu dàng thấm một nỗi buồn mênh mông tiêu cực vô hạn.

Hạng người nào trong đời cũng có thể gặp hoàn cảnh bi đát để đau đớn. Nhưng buồn rầu nhẹ nhàng vì một cảnh

“Bèo giạt về đâu hàng nối hàng”

hay vì một cảnh “đèo cao quán chật”, một cảnh “trời rộng nhớ sông dài”, thì hạng người đó phải trầm tĩnh lắm. Chỉ có những tâm hồn quen với quạnh hiu cô tịch mới hay có những xúc động như thế. Người miền Nam thích sự hoạt động quá. Cái hay của họ phải tìm về một hướng khác.

Chẳng hạn nhờ tính hoạt động, nhờ trí óc lanh lợi bén nhạy luôn luôn nảy bật ra sáng kiến mới mẻ, gần như nhà văn nào trong Nam cũng có một sức sáng tác thật dồi dào, đó chẳng phải là một ưu điểm cho các tác giả miền ngoài ao ước sao? Người ta nói nhiều đến sự nghiệp đồ sộ phi thường của Trương Vĩnh Ký: con người minh mẫn sắc bén và rất hoạt động ấy, trong sự tìm tòi khảo sát đã nhảy băng từ sinh vật học tây phương đến triết học đông phương, từ văn chương bình dân Việt Nam đến sách vở kinh điển La Mã, Hy Lạp, đang lúi húi nghiên cứu về con bọ rầy bỗng đi dịch và chú thích tứ thư ngũ kinh, đang kể chuyện đời xưa “bụng làm dạ chịu” bỗng đi làm tự điển và viết sử. Vừa bằng ngoại ngữ, vừa bằng tiếng nước nhà, tác giả đó đã để lại một sự nghiệp trước tác ghê gớm về số lượng. Sau này viết tiểu thuyết mà được nhanh được nhiều như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Phú Ðức v.v... các nhà văn có tiếng ở miền ngoài cũng ít ai bằng.

Viết được như vậy tất nhiên họ có trí tưởng tượng phong phú lắm. Trí tưởng tượng ấy thừa sức để vẽ ra những cảnh tượng ly kỳ, bày ra những câu chuyện lạ lùng quái đản, nhưng đôi khi có hơi ngây thơ, khó tin. Nếu muốn bới tìm những chỗ sơ hở vô lý trong các cốt truyện của Hồ Biểu Chánh và ngay đến của Bình Nguyên Lộc nữa cũng không khó gì. Họ bay đuổi theo sự tưởng tượng phơi phới mà ít quan tâm đến chi tiết lắm.

Giỏi tưởng tượng thì tội gì chẳng đặt chuyện ma! Bởi thế chuyện ma quỷ cũng có, mà chuyện đánh nhau cũng có vô số. Ðánh bắn nhau thì kịch liệt dữ dội có thừa, nhưng khung cảnh không có gì rùng rợn bí hiểm lắm đâu. Ma quỷ thì vẫn biến hóa đủ cách tài tình nhưng không lấy gì làm khủng khiếp. Ðọc Trại Bồ Tùng Linh của Thế Lữ người ta thấy rờn rợn tuy rằng người con gái trong truyện vẫn nguyên là một người con gái thường từ đầu đến cuối, không biến ra mặt xanh, lè ra lưỡi đỏ lần nào: cái ma trong truyện chỉ là một khung cảnh ma, một không khí ma mà thôi. Gần đây Phong Ngạn viết Tân Liêu Trai, (lại cũng một tên sách nhắc đến Bồ Tùng Linh). Ở đây ma nhiều hơn, biến hóa ly kỳ hơn, nhưng toàn quyển truyện không thể bảo là đem đến cho ai một cảm tưởng sợ hãi nào. Trái lại, có thể coi đó là những mẩu chuyện vui. Ông Phong Ngạn kể thoăn thoắt một lát, xem chừng người đọc hơi lo lắng, ông đã vội vàng cười xòa bảo ngay cho biết là nói dối cho vui đấy thôi. Tôi đã bảo người Miền Nam thực đáng tìm đến mà kết thân! Có muốn nát người một chút mà chơi họ cũng không nát được: họ nhanh nhẹn, dí dỏm, nhẹ tính, cạn cợt quá. Trong tâm hồn họ không có chút hắc ám nào, nên làm sao họ hình dung ra được một cảnh âm u, nặng nề tử khí, ghê rợn. Sơn Nam nhắc tích cũ ở miền Hậu Giang không thiếu gì chuyện hùm thiêng rắn dữ, chuyện hoang đường ma quỷ, nhưng cũng không nhắm gây ra cảm giác kinh sợ hãi hùng. Câu văn ngăn ngắn nhẹ nhàng, Sơn Nam kể lúc nào cũng có nụ cười trên môi, làm cho ma quỷ trông có vẻ ngộ nghĩnh hơn là hung ác, cảnh âm ti sáng sủa lên nhiều lắm. Ma cọp ở rừng Cà Mau của Sơn Nam không giống ma cọp ở rừng núi Bắc Việt của Lan Khai chút nào. Cái khác đó không phải bởi ma cọp khác loài mà bởi người khác tính.

Con người còn có thể bị một thứ ám ảnh khác cũng khủng khiếp không kém ma quỷ: đó là những thắc mắc siêu hình. Ý nghĩa cuộc đời, ý nghĩa sự sống và cái chết, thân phận con người trước vũ trụ bao la, những vấn đề cũ kỹ đó từ xưa đến giờ thỉnh thoảng lại thấp thoáng chờn vờn hiện lên trong các tác phẩm văn nghệ như bóng ma truyền kiếp không sao xua đuổi cho tan biến được. Hiện lên để gây sự bối rối hoảng hốt.

Những thời kỳ sóng êm gió lặng, cuộc sống xã hội tiếp diễn đều đều, người ta có thể nguôi ngoai. Nhưng lâu lâu, đời sống bị một phen xáo trộn điên đảo, những giá trị cũ bị phá đổ, người ta hoảng hốt khắc khoải đặt lại những vấn đề trên. Hồi Khổng giáo bị tư tưởng Tây phương lay đổ, giọng Xuân Diệu cuống quít vì lo hãi tuổi xuân với kiếp người ngắn ngủi, Huy Cận bị ám ảnh bởi tính cách mang mang của trời đất vô cùng khiến con người trơ trọi thực là bơ vơ lạnh lẽo. Trong văn xuôi, Hoàng Ðạo cũng đưa ra một anh Duy vừa chơi bời vừa thắc mắc suy nghĩ ý nghĩa đời sống của mình.

Sau cuộc chiến tranh thứ hai, đời sống con người lại xáo trộn lần nữa. Lại nổi lên bao nhiêu là hoang mang. Ngày nay những nhân vật tiểu thuyết trong Bếp lửa, Siu cô nương, Thần tháp rùa v.v... cũng trải qua một cuộc khủng hoảng tin tưởng, có lẽ còn quan trọng hơn lần trước. Anh chàng Duy trước kia rồi nhờ tình yêu, nhờ xem sách, ngắm giàn đậu ván nghĩ ngợi có thể tìm ra “con đường sáng”. Chứ những người thanh niên trong nhiều cuốn tiểu thuyết bây giờ cứ kéo dài cuộc sống lộn xộn không mục đích cho đến trang sách cuối cùng của họ. Muốn biết hồi sau phân giải thế nào e còn phải chờ lâu.

May làm sao phần đông các tác giả miền Nam đều khỏi biết đến cơn khủng hoảng ấy. Ðó là phần thưởng dành cho những tâm hồn giản dị, hồn nhiên, lạc quan. Nhân vật của Bình Nguyên Lộc, của Sơn Nam, cũng trải qua mọi thê thảm của chiến tranh, cũng khổ sở đủ điều, họ cũng thở than buồn phiền, nhưng họ không đến mất tin tưởng ở cuộc đời. Vợ chồng cha con ông Nam Thành trong Ðò dọc bị cảnh nghèo ở quê thì ra đô thị sinh sống. Lại gặp thời cuộc biến đổi, bị khó khăn ở đô thị họ liền vui vẻ ríu rít kéo nhau về quê. Trông họ nhẹ nhõm, vô tư lự. Những ông bác sĩ, luật sư, những thanh niên giàu sang mà bối rối trước thời cuộc, đang gặp tai họa lớn trong đời sống tinh thần và đang ngẩn ngơ trong các cuốn tiểu thuyết của Mặc Ðỗ, họ có thể ngừng uống rượu lại một chút, lái xe Huê Kỳ tìm đến gia đình ông Nam Thành mà mua chiếc áo lót, vì ở đây chắc chắn họ gặp những kẻ sung sướng. Lẽ cố nhiên ở đời làm gì có kẻ sung sướng tuyệt đối. Miễn được tính vô tư như thế là tiên trên đời rồi.

Hoài Thanh so sánh hai cảnh tự trầm của Thúy Kiều và Nguyệt Nga. Ông nói: “Trước khi chết Kiều bị ám ảnh vì cái cảnh trời cao sông rộng. Hình như nàng cảm thấy cái bé nhỏ của mình và thấy ngợp trong khi đi vào cõi chết mênh mông. Chỉ có mấy câu thơ mà bốn lần láy đi láy lại cái ý mênh mông.

“Cửa bồng vội mở rèm châu,

Trời cao sông rộng một màu bao la.”

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

“Thôi thì một thác cho rồi,

Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông.

Trông vời con nước mênh mông

Ðem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang.”

Chúng ta liên tưởng đến cái rợn người của Pascal trước tính cách vô cùng của vũ trụ.”

Nguyệt Nga thì không nhìn trời nhìn đất cho mất thì giờ; nàng chỉ:

“Than rồi lấy tượng vai mang

Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.”

Hoài Thanh hỏi: “Việc gì mà vội vàng nhảy ngay? Nguyệt Nga nhảy xuống sông tự tử mà vô tâm như người ta nhảy trên sân vận động. Nhịp điệu câu thơ cũng gấp gáp, láu táu đến buồn cười.” Như ta đã biết, Hoài Thanh cho rằng sở dĩ Nguyệt Nga đến như thế là vì sức sống chế độ phong kiến thời cụ Ðồ Chiểu quá khô héo, không còn đủ cho văn nghệ phong kiến tạo ra được những nhân vật ra hồn. Hoài Thanh sống trong một xã hội mà mọi người đua nhau nói chính trị cho nên ông cũng đem một lý do chính trị ra nói vậy thôi. Nhưng hiểu được sự giải thích của ông cũng khó lắm thay! Chúng ta chỉ ghi nhận sự vô tâm của Nguyệt Nga mà khoan tìm cách lý giải. Nguyệt Nga không có cái rợn ngợp trước vũ trụ vô cùng. Nhưng chỉ vô tâm như thế cũng chưa đáng xử cho là không thành người.

Sau Nguyệt Nga, trong văn chương miền Nam rồi vẫn còn có thiếu nữ yêu đương, gặp nghịch cảnh, và cũng tự tử nữa, sau Lục Vân Tiên rồi vẫn có thanh niên gặp hoạn nạn, hoặc họ phản ứng dữ dội tung hoành dọc ngang, hoặc họ tiêu cực trách nhân tình thế thái, nhưng ít thấy kẻ nào bị xáo động mà cảm thấy mình bơ vơ trước hư vô và kêu lên:

“Không gian ơi! Xin hẹp bớt mông mênh”.

Cuộc đời còn dài, cá tính của một miền cũng như của cả một dân tộc không phải là cái gì cố định, không thể biến hóa. Suy nghĩ về một đôi nét cá tính đó cũng không phải là có ý gì phân biệt Bắc Nam, rạch chia ranh giới trong văn chương. Sài Gòn trong giai đoạn lịch sử này đã thành ra thủ đô cả nước, thành trung tâm hoạt động văn hóa; cá tính của Sài Gòn, của miền Nam chẳng bao lâu sẽ ảnh hưởng mạnh đến xu hướng chung của văn học trong nước mà không còn là cá tính địa phương nữa. Vì lẽ đó mà dò dẫm về một hướng phát triển văn nghệ trong tương lai chúng ta không thể bỏ qua việc tìm hiểu cá tính văn học miền Nam. Nghĩ về cá tính miền Nam chẳng qua là băn khoăn về một phương diện trong vấn đề định hướng văn nghệ lúc này.

Miền Nam còn trẻ quá, chưa có thì giờ xây dựng những thành tích lớn lao về văn học. Nhưng chính vì còn trẻ mà miền Nam dám đi trước miền Bắc. Trước đây một trăm năm, trên địa hạt văn học, miền Nam đã làm một kẻ tiền phong tuy thiếu tế nhị tao nhã nhưng liều lĩnh gan dạ, làm công việc khai sơn phá thạch, dắt dìu miền Bắc tiến theo con đường âu hóa: những văn phẩm đầu tiên viết bằng quốc ngữ in bằng mẫu tự la-tinh ra đời ở miền Nam, tờ báo đầu tiên khai sinh ở miền Nam, lớp nhà văn dùng ngòi bút sắt xuất hiện đầu tiên ở miền Nam với Trương Vĩnh Ký. Những sinh hoạt tiền phong đó rồi lôi cuốn cả văn học toàn quốc về một hướng mới.

Ngày nay, lại vì những biến cố chính trị nữa mà Sài Gòn đóng vai trò lãnh đạo ở phần đất tự do nước ta. Ngót một triệu người, trong đó có rất nhiều văn nhân nghệ sĩ, dồn vào sinh sống ở Miền Nam, đã mang vào đây một không khí mới, đã du nhập vào đây nhiều tập tục hay, nhưng rồi tiếp tục ăn ở lâu dài trên đất Miền Nam làm sao họ giữ mãi được bản sắc của mình. Hoàn cảnh sinh hoạt mới, nhịp sống mới ở Miền Nam, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến tâm hồn họ và đến những sản phẩm văn nghệ của họ. Rồi đây kỹ thuật tinh vi trau chuốt của văn học Miền Bắc phối hợp với tinh thần dễ dãi, hoạt bát, hiếu động, lạc quan của Miền Nam, biết đâu không làm nên một đặc điểm của nền văn học mà thế hệ chúng ta đang xây dựng? Nghĩ đến cái cá tính có nhiều nét trẻ trung của Miền Nam ta nghĩ rằng sự phối hợp này có thể như là việc tiếp một nguồn sinh lực mới cho văn nghệ. Lại cũng giống như chuyện ghép một nhánh cây đã trưởng thành vào một thân cây mới lớn đang độ sung sức.

Nghĩ như thế không biết có phải là một lối nghĩ lạc quan quá sớm chăng.
(Bách Khoa số 63, ngày 15-8-1959)
1 Quyền sống của con người trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.
2 ‘Nỗi lòng Ðồ Chiểu’.
3 Việt Nam thi văn giảng luận.
4 Biểu nhất lãm văn học cận đại.
5 BÀI NÀY VIếT KHI HƯƠNG RừNG CÀ MAU CHƯA XUấT BảN.




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét