Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2010

VĂN PHONG, NHÂN CÁCH

Võ Phiến

Nguyễn Tuân là một nhà văn lỗi lạc; khen ông không lo bị hố. Có nhiều người khen, có nhiều cách khen. Lắm kẻ khúc khích trầm trồ, chịu nhất cái chỗ Bá Nhỡ đàn cho cô Tơ hát: Tiếng đàn nghẹn ngào u uất của Bá Nhỡ, “nó là cái tấm tức sinh lý của một sự giao hoan lưng chừng” (Chùa Ðàn). Cũng lắm người khoái kiểu ví von một chiếc roi chầu bị bẻ cong với hình ảnh người đàn bà ưỡn ngửa ra để tránh một chiếc hôn bạo.


Còn như nhà phê bình Vũ Ngọc Phan thì ông ta tấm ta tấm tắc khen mãi cái tài tả cảnh của Nguyễn Tuân. Tả thú uống trà thì “thật tuyệt”. Tả cảnh đêm báo động đầu tiên tại Hà Nội thì “tuyệt khéo”. Tả cảnh bà Tú chở đồ ăn thức đựng từ Thanh Hóa ra Hà Nội cùng là cảnh Nguyễn đi xe đạp kèm lũ thợ đẩy xe bò gỗ thì “hay tuyệt”, “có thể làm đầu đề cho những họa sĩ nào ưa vẽ những cảnh đặc biệt Việt Nam”. Tả cuộc hòa nhạc của đám ca kỹ Tàu ở Hương Cảng thì “tuyệt hay, làm cho người đọc không lúc nào chán”. Tả một kẻ vô tài mà có tính huênh hoang thì “cực hay” v.v...

Tóm lại “Nguyễn Tuân có ngòi bút tả cảnh lúc hùng tráng, khi ghê rợn, lời văn lại hàm súc, kín đáo, làm cho người đọc ham mê” (Nhà văn hiện đại, quyển ba).

Nhà phê bình nói đúng phóc: Nguyễn Tuân còn tả nhiều cái nữa, phần lớn đều cực hay, tuyệt khéo, đọc không chán. Nhà phê bình không sai không hố chỗ nào, nhưng tôi cứ ngờ ông chưa khen đúng, chưa nhấn mạnh đúng vào cái hay của Nguyễn Tuân. Một nhà văn lớn lại có thể lớn vì khéo tả cái này cái nọ sao? Cũng như một nhà văn lớn lại có thể lớn vì mấy ý nghĩ ngộ nghĩnh, vì những lối nói nghịch ngợm vậy sao? Tả như thế, ví von như thế thì tài thật, thì quả nhiên đọc không thấy chán, đọc ham mê lắm. Nhưng một tác giả mà mê hoặc được người đời có lẽ không mê hoặc vì cái tài nọ tài kia. Chữ “tài” ở đây nghe cứ phảng phất cái nghĩa một kỹ thuật, một ngón nghề, một trò sở trường.
Người nghệ sĩ xuất hiện với đời là xuất hiện như một tâm hồn, chứ không phải như một tập hợp kỹ thuật, dù là kỹ thuật cao siêu. Người đời đến với một nghệ sĩ là tìm đến một tâm hồn; mấy ai buồn tìm hiểu các trò kỹ thuật làm gì đâu.

Thực ra, trong trường hợp Nguyễn Tuân, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cũng có chú ý đến chỗ này nữa. Ông Vũ “chú ý đến lối hành văn đặc biệt của ông (Nguyễn) và những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn.” Ông Vũ cho rằng “ông (Nguyễn) là một nhà văn đặc Việt Nam có tính hào hoa và có cái giọng khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại” (Nhà văn hiện đại, quyển ba).

Vũ Ngọc Phan có nói về cái “trạng thái của tâm hồn”, nhưng nói không kỹ bằng nói về tài tả cảnh của Nguyễn Tuân; trong khi “trạng thái” mới là cái chính. Tôi buồn ông Vũ chỗ ấy.

“Trạng thái tâm hồn” theo cách nói của ông Vũ, hình như nó là cái phong thái riêng biệt của Nguyễn Tuân. Và nét phong thái ấy, cái cốt cách ấy của Nguyễn Tuân ông Vũ nói cũng đúng nữa: nó là một vẻ hào hoa mà khinh bạc đặc biệt Việt Nam. Thiết tưởng cái đó mới là chỗ độc đáo cốt tủy làm nên sức thu hút của nhà văn.

Phong thái con người nó xuất lộ ở một bản văn đầy nghệ thuật mà cũng có thể xuất lộ ngay ở những câu văn bừa bãi lôi thôi như ông Vũ nhận thấy. Ðã có một cốt cách đẹp đẽ thì tả cảnh hay ho càng tốt, mà tả không hay cũng... tốt thôi. Thậm chí không tả, không luận gì hết trơn cũng vẫn tốt được, vẫn đẹp được. Này nhé, Nguyễn Tuân có lần viết: “Chao ôi! Ðêm tối như đêm giao thừa. Vẫn lại mưa rả rích. Mưa trên sông. Mưa xuống mái bồng. Mưa trong lòng, – chuyện cũ... ới... ư hừ... ơ... ơi...” Lại có lần nữa viết: “Tôi tưởng còn lâu nữa mới về ở ngay dưới mái nhà của tôi bên sông Tô. Vừa tưởng thế và vừa hiểu luôn rằng như vậy là tôi đã phụ nhiều đến sự săn sóc, đến lòng gây dựng của hai đấng tác giả đời tôi. Chao ôi.” (Tùy bút)

Ý chẳng có ý gì cao xa, cảnh chẳng có cảnh gì ra trò; nhưng “trạng thái tâm hồn” Nguyễn Tuân thì vẫn hiển hiện. Và đó là cái đáng yêu.

Hễ đọc thơ đọc văn mà đã bắt được nét đẹp của một phong cách, đã yêu nó, thì cứ thoáng thấy nó xuất hiện ở đâu là thích đấy, bất luận người nghệ sĩ đang nói gì, đang đề cập đến vấn đề gì, đang tả cái gì, đang kể lể con cà con kê về cái gì. Tả tiếng còi hụ nghe mà ghê, tả bà Tú thấy mà thương v.v..., có tai mắt tuyệt hảo, có khiếu quan sát tinh tường, có nhận xét sắc bén v.v... là chuyện nhỏ nhặt quá, so với một phong cách. Phong cách, nó phản ảnh một quan niệm sống, một thái độ ở đời, nó phản ảnh một khung cảnh xã hội, một thời đại, nó thừa kế các đặc điểm của một dòng dõi, một đường hướng giáo dục, một bầu không khí văn hóa v.v... Nó là cái dung mạo của một tâm hồn.

Hãy khoan nói đến hạng độc giả đọc cho vui, đọc những loại “truyện hay vì truyện”, có lắm gút thắt rối ren được tháo gỡ tài tình. Ngoài trường hợp ấy ra, nếu ta tìm đến cuốn sách cốt để gần gũi một tâm hồn, để bắt gặp một quan niệm nhân sinh, một thái độ ở đời, thái độ của người đồng loại đối với cái sống, cái chết, đối với tình yêu v.v..., nếu thế thì một khi đối diện một phong cách đẹp đẽ, tự nhiên mê tơi. Lúc bấy giờ ta trở nên rộng lượng, không chấp nê những món lẻ tẻ: câu văn cẩu thả, lời lẽ mù mờ v.v... Tha thứ được cả.

Nói ta rộng lượng, e chướng tai chăng? “Ta” là ai mà hách vậy? mà có quyền rộng lượng hẹp lượng đối với các văn gia thi gia? – Không, cái “ta” ấy không dính líu gì đến kẻ đọc người viết những lời bàn tán hôm nay. “Ta” đây là nói chung về độc giả, về khối quần chúng độc giả mênh mông, trải qua nhiều thế hệ, đã âm thầm thưởng thức, phán đoán, chọn lựa, đã tạo dựng nên tên tuổi của tác giả này, làm sáng tỏ giá trị của tác phẩm nọ.

Vừa rồi Nguyễn Tuân được nêu ra, rồi đây nếu có những tác giả khác lại được viện dẫn nữa, họ được nêu dẫn vì lẽ ấy: họ đã được quần chúng chọn lựa, họ đã trước tác hơn nửa thế kỷ; họ đã cách lớp chúng ta một khoảng thời gian khá rộng đủ để cho những phản ứng sôi nổi nhất thời kịp lắng xuống. Cũng vì vậy cái phần trước tác của họ được nói đến đây là cái phần trước 1945, cái phần đã cách xa, đã trải qua thử thách của thời gian, chứ không phải những gì họ mới viết sau này, khi “trạng thái của tâm hồn” họ đã đổi khác: phần sau còn chờ sự thẩm định trong tương lai.

Xin trở lại chỗ rộng lượng. Xuân Diệu có những câu thơ thế này:
“Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu.
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.”
(‘Xuân không mùa’)

“Vài ba sương mỏng thắm” là thế nào? Rồi lại còn “năm bảy sắc yêu yêu”, sắc yêu yêu là cái sắc ra làm sao? là cái sắc quái quỉ gì vậy? Ðó là một từ ngữ địa phương, một lối nói riêng của vùng quê cha ngoài Hà Tĩnh hay của vùng quê mẹ trong Bình Ðịnh chăng? Chắc không phải thế đâu. Nếu “sắc yêu yêu” mà có đến từ một quê hương nào, thì cái quê hương ấy nên mang tên là Lúng Túng, là Quýnh Quáng. Ðang ngon trớn, đang nói dồn nói dập, thi sĩ cứ phóng bừa tới, không muốn để cho những cân nhắc thận trọng, những trau chuốt tỉ mỉ chận mất đà của mình vậy thôi.

Trong cùng một bài thơ ấy, chúng ta còn có thể nhặt được những câu khác, đại khái cùng một lối như thế.

“Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa”

hay:
“Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa”

Hồi trước, có kẻ bảo rằng Xuân Diệu chịu ảnh hưởng Pháp, rằng những câu nọ là “Tây” quá. Ối, Tây nó đâu có ngọng nghịu vậy? Dù sao, Tây hay không Tây, những bài thơ như thế đã làm nên danh tiếng của Xuân Diệu. Nó ra đời năm 1939. Một năm sau khi xuất bản Thơ Thơ, vào thời lẫy lừng nhất của thi sĩ.

Trong trường hợp khác, Xuân Diệu lại viết:
... “Nhưng ta sẽ yêu nhau mãi mãi,
mãi mãi là trong những phút giây.
Lâu dài là bóng là mây,
là môi kỳ ngộ là tay hảo cầu.”
(‘Mãi mãi’)

Tại sao vậy? Tại sao phút giây lại là mãi mãi? bóng với mây lại là cái tồn tại lâu dài? Tác giả không giải thích những chuyện tréo tro ngược đời ấy, ông cứ nói, cứ tuôn ra liên tiếp những cái kỳ cục, để... thuyết phục! Và ông đã thuyết phục được, không phải nhờ lý luận, mà nhờ sức lôi cuốn của một niềm tin, của một giọng say sưa dồn dập, của một “trạng thái tâm hồn”: thiết tha, sôi nổi, nồng nàn.

Thành thử nhiều lúc hứng chí lên thi sĩ nói vội nói vàng. Chữ xô đẩy chữ, lời chen lấn lời. Cứ thế ông thu hút người, bất kể từ ngữ ông dùng có chính xác hay không chính xác, lập luận ông đưa ra có chặt chẽ hay không chặt chẽ. Một phong cách, nó quan trọng là thế.

Nhưng làm sao “bắt” được phong cách của một tác giả? Muốn thưởng thức, muốn phân tích, khen chê một cái tài tả cảnh, một lời văn điêu luyện: dễ hơn nhiều. Câu văn nằm chình ình trên trang sách; tha hồ đè nó ra, xem đi xét lại, vạch kẽ từng chữ mà bình mà phê mà giảng mà luận; tha hồ tách bạch từng ý mà hạch hỏi. Còn phong cách, nó phảng phất ở đâu? nó nương mình vào chỗ nào? vào câu nào chữ nào? trong hàng trăm hàng nghìn trang sách?

Biện biệt cho được cái phong cách của một tác giả cũng như của một con người, là cả một rắc rối. Không phải cách nói cẩu thả, vội vàng, bộp chộp nào cũng là một biểu lộ của nhiệt tình sôi nổi, không phải cứ tung bừa ra những lầm lỗi vấp váp thì bỗng dưng có một tâm hồn thiết tha say mê.

Nguyễn Tuân chỉ viết có hai chữ “chao ôi” rồi chấm dứt, rồi sang hàng: thế là tài hoa, là khinh bạc ư? – Ối! gì chứ hai chữ sang hàng thì có gì khó? Ðời nay khối kẻ cứ một chữ sang một hàng, liên tiếp năm lần bảy lượt còn dám nữa là một lần! Một chữ, chấm sang hàng. Một chữ nữa, chấm sang hàng. Cứ ngúc nga ngúc ngắc, cà khục cà khặc. Ðời nay thiếu gì kẻ dám làm thế? người ta đâu có ngán những trò đó. Khó khăn gì đâu? Phong cách học giảng thuyết dông dài liệu có chắc giúp người ta phân biệt được cái nhăn mặt của Tây Thi với những lối nhăn nhó của các nàng Ðông Thi chăng? phân biệt một phong cách đích thực với những bản sao lem nhem chăng?

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét