Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

ĐỪNG LẬP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAM)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 7 (Tiếp theo)

3

NGUYÊN NHÂN VÀ DIỄN TIẾN VIỆC HOA KỲ THAM DỰ
CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Chưa bao giờ trong lịch sử có quá nhiều năng lực bị tiêu phí một cách vô ích như tại chiến tranh Việt Nam.

Ít khi nào một quốc gia lại ở thế thượng thừa về vũ lực hơn là trường hợp Hoa Kỳ so với Bắc Việt năm 1959. Cuộc chiến đã làm sa lầy một siêu cường quốc với sức mạnh của khả năng hạt nhân, tổng sản lượng quốc gia 500 tỷ Mỹ Kim, quân số trên 1 triệu, và dân số 180 triệu giằng co với một nước nhỏ có khả năng quân sự non yếu, tổng sản lượng dưới 2 tỷ Mỹ Kim, quân số 250,000, và dân số dưới 16 triệu. Trên giấy tờ, các con số xem chừng như một sự gán ghép vô cùng khập khiễng và vô vọng. Nhưng chiến tranh - nhất là chiến tranh du kích – không thể dàn trận theo các con số trên giấy.

Bắc Việt có một lợi điểm chắc chắn mà Hoa Kỳ không có: Những người lãnh đạo của họ có tính dã man, tàn nhẫn không biên giới và khả năng đeo đẳng dai dẳng không thôi. Họ sử dụng bất kỳ chiến thuật nào, cho dù có tàn độc và bất nhân đến đâu, và sẵn sàng kéo dài cuộc chiến đến vô tận, bất kể dân chúng khổ sở chịu đựng tang thương thế nào. Lãnh đạo Hoa Kỳ, theo đúng nguyên tắc, bị ràng buộc bởi lương tâm, đạo lý, và người dân Hoa Kỳ đã mệt mỏi vì cuộc chiến kéo dài. Kẻ địch không bao giờ có thể chiến thắng chúng ta, họ chỉ có thể làm cho chúng ta tự ý bỏ cuộc.

Những kẻ phản chiến không ngừng đưa ra một câu hỏi duy nhất trong các cuộc tranh luận toàn quốc: Tại sao người Mỹ tham dự chiến tranh Việt Nam? Trong tất cả các câu hỏi đặt ra vào thời điểm ấy, không câu hỏi nào có lời đáp rõ ràng và giản dị hơn. Hoa Kỳ tham dự vào chiến tranh Việt Nam để ngăn không cho Bắc Việt xâm chiếm Nam Việt Nam bằng quân sự hầu áp đặt một chính quyền độc đảng toàn trị. Điều này dẫn tới hai hậu quả mà Hoa Kỳ muốn tránh: một là sự chiến thắng của chủ nghĩa Cộng sản sẽ đưa đến nhiều đau khổ tang thương cho toàn dân Việt, hai là vì nó sẽ có ảnh hưởng đến quyền lợi và chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, đồng thời là mối đe doạ cho các nước đồng minh không Cộng Sản của chúng ta trên toàn thế giới.

Để hiểu được chuyện gì đã xảy ra tại Việt Nam, câu hỏi quan trọng không phải “tại sao” mà là “như thế nào” Hoa Kỳ đã tham dự cuộc chiến. Năm 1950, Tổng Thống Truman trao cho Pháp 10 triệu Mỹ Kim viện trợ để hỗ trợ trận chiến đấu chống Cộng Sản Việt Minh. Đến năm 1960 thì Tổng Thống Eisenhower đã gửi 685 cố vấn sang miền Nam Việt Nam và đã tài trợ cho chính quyền Việt 2 tỷ Mỹ Kim. Nhưng vai trò của Hoa Kỳ rõ ràng vẫn có giới hạn rất rõ ràng, với các điều kiện đặt ra là chính quyền Việt Nam phải có những cải tổ cần thiết và là đại diện chân chính cho tinh thần quốc gia dân tộc của người Việt.

Tổng thống Kennedy đã gia tăng mức cam kết của chúng ta bằng bước nhảy vọt đầu tiên. Ông tăng lực lượng quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam lên trên 16,000 người, và cho phép họ tham dự các trận chiến. Năm 1965, Tổng Thống Johnson ra lệnh ném bom Bắc Việt và tăng cường quân chiến đấu tại miền Nam. Sau 4 năm không ngừng gia tăng sự can thiệp, con số lính Mỹ phụng sự tại Việt Nam lên đến 550,000. Vào cuối năm 1968, Hoa Kỳ thiệt hại 31,000 sinh mạng, và lính Mỹ tử trận trung bình 300 người một tuần. Tuy vậy, chúng ta vẫn không tiến gần chiến thắng hơn mười năm trước chút nào.

Lỗi lầm sinh tử của chúng ta là đã không quan tâm đến “luật sắt” của chiến tranh: Không bao giờ bước vào nếu không biết trước cách rút lui.

Những chính quyền Hoa Kỳ sau đó tiếp tục gia tăng mức tham dự của chúng ta bằng từng nấc thang - trước tiên là viện trợ, rồi đến cố vấn, và cuối cùng là binh lính – mà không có một hình ảnh rõ ràng trong đầu là các gia tăng này sẽ giúp chúng ta đạt được mục đích như thế nào. Những nhà làm chính sách đã có các quyết định dựa trên điều cần làm để tránh thua cuộc, chứ không phải cần làm gì để thắng cuộc.

Rất nhiều lỗi lầm sinh tử đã làm hỏng chiến lược của Hoa Kỳ tại Việt Nam từ 1960 đến 1968. Chúng ta không nhìn rõ rằng cuộc chiến là chiến tranh xâm lược của miền Bắc xâm lăng miền Nam, không phải cuộc nổi dậy của dân miền Nam. Chúng ta đã không ngăn chặn Bắc Việt trong việc mở con đường tiếp tế huyết mạch: đường mòn Hồ Chí Minh, qua Lào và Cam Bốt. Chúng ta đã không nhìn được các hậu quả tai hại của việc yểm trợ cho cuộc đảo chánh quân sự lật đổ nhà lãnh đạo có khả năng nhất của miền Nam: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và từ đó, dẫn đến nhiều năm suy sụp vì bất ổn chính trị. Chúng ta đã không thay đổi chiến thuật theo hoàn cảnh chính trị của cuộc chiến. Chúng ta đã không hiểu được sự quyết tâm theo đuổi chiến tranh của phe địch và những điều cần làm để đánh bại họ. Chúng ta đã không giải thích rõ ràng về cuộc chiến cho dân chúng Hoa Kỳ hiểu để huy động họ thành hậu phương yểm trợ chúng ta.

Hoa Kỳ có mục đích cao cả khi tham dự chiến tranh Việt Nam. Nhưng mục đích cao đẹp không thể thay thế một chiến lược. Chúng ta đã rất có chính nghĩa, nhưng chúng ta làm quá nhiều lỗi lầm sinh tử khi tham dự cuộc chiến.

Luật chơi thứ nhất của chiến tranh là chúng ta phải biết rõ kẻ địch, hiểu chiến lược và chiến thuật của phe đối nghịch. Luật thứ hai là chúng ta phải uyển chuyển thay đổi chiến lược và chiến thuật cho phù hợp với hoàn cảnh chiến cuộc. Trong những năm đầu của chiến tranh Việt Nam, Bắc Việt Nam khởi động một cuộc xâm lăng Nam Việt Nam dưới chiêu bài sự nổi dậy của nhân dân. Hoa Kỳ đã hiểu lầm thực chất cuộc chiến, chọn chiến lược cho một cuộc nội chiến, chứ không phải để chống lại chiến tranh xâm lược. Vào đầu thập niên 1960, Hoa Kỳ làm vấn đề thêm rối rắm vì phạm phải ba sai lầm khác nữ a. Giữa thập niên 1960, quân lực Hoa Kỳ khám phá ra mình đang sa lầy trong một trận chiến lạc hướng với các chiến thuật sai lầm.

Cuộc xâm lăng miền Nam của Bắc Việt khởi đầu vào cuối năm 1959 cho thấy các lãnh tụ Hà Nội đã hấp thụ bài học từ chiến tranh Đại Hàn. Sự tiến quân tràn qua biên giới của Bắc Hàn đã cho Hoa Kỳ sự chính danh khi can thiệp và giúp Tổng Thống Truman động viên người Mỹ và các đồng minh trong Liên Hiệp Quốc ủng hộ trong chiến tranh tự vệ của Nam Hàn. Do đó, Bắc Việt đã khôn ngoan và xảo quyệt hóa trang cho sự xâm lăng của họ thành một cuộc nội chiến. Nhưng trên thực tế, chiến tranh Việt Nam mang bản chất xâm lược của chiến tranh Đại Hàn, cộng thêm rừng nhiệt đới.

Sự thâm nhập của Hà Nội vào miền Nam đã đi qua đường vòng và đường hầm thay vì vượt qua biên giới. Đến năm 1963, Bắc Việt đã có trên 15,000 lính và cố vấn thâm nhập vào miền Nam, đa số là người Nam tập kết và được huấn luyện bởi Cộng Sản miền Bắc. Nhưng sau đó, lính gửi vào Nam toàn bộ đội chính quy miền Bắc. Cảm thấy có thể chiến thắng, Bắc Việt đã gia tăng sự tấn công. Họ gửi vào 12,000 quân năm 1964; 36,000 năm 1965; 92,000 năm 1966; và 101,000 năm 1967. Sau Tết Mậu Thân đầu năm 1968, cuộc chiến hầu như hoàn toàn do quân đội miền Bắc chỉ huy.

Hà Nội còn có Sư đoàn thứ 5 tại miền Nam. Hồ đã ra lệnh cho cả ngàn Cộng Sản Việt Minh ở lại miền Nam sau hiệp định chia đôi đất nước năm 1954 với dự trù sẽ dung thành phần này làm hậu thuẫn đẩy mạnh sự xâm chiếm toàn lãnh thổ Việt Nam. Họ thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, tập hợp các tổ chức chính trị đối lập với chính phủ miền Nam Việt Nam. Những nhóm này gồm các người trẻ lý tưởng, các nông dân trong vùng chính sách xây dựng nông thôn thất bại, một số trí thức Sài Gòn, và các nạn nhân của chương trình chống Cộng của Diệm. Đây là thí dụ điển hình cho chiến thuật của Cộng Sản trong việc thành lập mặt trận thống nhất. Tuy có một số hội đoàn chính trị chủ trương dân tộc, không Cộng sản cũng theo vào dưới cái dù Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, quyền quyết định luôn nằm trong tay cán bộ Cộng Sản chuyên chính. Khác hẳn với trường hợp cách mạng tại Cuba và Nicaragua, nơi Cộng Sản chiếm lĩnh các lực lượng chống đối khởi đầu là các phong trào không Cộng Sản, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được xây dựng, kiểm soát, và thống trị bởi cán bộ Cộng Sản ngay từ bước đầu. Những người theo lý tưởng dân tộc chân chính bị Cộng sản thủ tiêu sau khi sử dụng, lúc Đảng cảm thấy họ không còn có lợi cho mục đích của đảng Cộng Sản nữa.

Bản chất thực của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã trở thành một đề tài tranh luận cho chính nghĩa của Hoa Kỳ khi can thiệp vào chiến tranh Việt Nam. Hai câu hỏi quan trọng được đưa ra: Có thực Mặt Trận là phong trào đấu tranh chính trị của dân, hoàn toàn độc lập với Bắc Việt? Nó có thực sự đại diện cho mong muốn của đa số dân Việt miền Nam? Lời đáp cho cả hai câu hỏi là KHÔNG.

Điều sinh tử là Cộng sản Bắc Việt phải tạo ra bề ngoài có vẻ như Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là một phong trào độc lập. Các lãnh tụ Cộng sản đã cố gắng hết sức để tạo ra ảo tưởng này. Nhưng bàn tay phía sau của Hà Nội chỉ dấu được ai không muốn nhìn thấy nó mà thôi.

Năm 1959, Bắc Việt quyết định dùng quân sự để thống nhất Việt Nam và đã ra lệnh tấn công miền Nam vào tháng năm, 1959. Tháng 7, con số cán bộ Cộng sản miền Bắc xâm nhập vào Nam tăng vọt. Những cán bộ này tổ chức các nhóm chính trị và lực lượng quân sự đối lập với chính quyền Sài Gòn. Vài tháng sau đó, con số các vụ tấn công du kích gia tăng rõ rệt. Tháng 9, 1960, Đảng Cộng Sản Bắc Việt Nam chính thức kêu gọi “nhân dân ta” ở miền Nam hãy “tập hợp thành một Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia chống lại Hoa Kỳ và Diệm” Vào tháng 1, 1961, sự thành lập của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia được phổ biến tại Sài Gòn. Bắc Việt kêu gọi sự thành lập những lực lượng đấu tranh chính trị và quân sự riêng biệt cho miền Nam Việt Nam. Đầu tháng 12 năm 1962, Quân đội GiảI Phóng và Đảng Cách Mạng Nhân Dân ra đời.

Một cán bộ Cộng sản hồi chánh giải thích rằng Bắc Việt khó lòng cho phép Cơ quan Giám Sát Quốc Tế kiểm soát việc tuân thủ hiệp định ngưng chiến Geneva 1954, tuyên bố rằng có sự xâm nhập từ miền Bắc, “do đó cần có một tên khác… để che dấu các lực lượng bằng các tổ chức chính trị “. Khi hai hồi chánh viên khác được chỉ cho thấy các ấn phẩm của Hoa Kỳ viết rằng Mặt Trận Giải Phóng độc lập với Hà Nội, họ đã rất ngạc nhiên khi thấy Bắc Việt Nam đã thành công vược bực trong nỗ lực che dấu vai trò thực của họ.

Có nhiều chứng cớ rõ ràng về vai trò của Bắc Việt Nam. Vào tháng 4, 1960, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Bắc Việt Lê Duẩn nói: “Sự giải phóng miền Nam không chỉ là phận sự của người dân miền Nam, mà còn là bổn phận của tất cả mọi người, Nam cũng như Bắc.. Nhân dân miền Bắc không bao giờ quên trách nhiệm của mình đối với một nửa phần đất nước dân tộc chưa được giải phóng.” Tại hội nghị Geneva về Lào vào tháng 7, 1962, một nhân vật cao cấp của phái đoàn Bắc Việt nói với báo chí rằng tên của vài đảng viên cao cấp thuộc Hội đồng trung ương Đảng Cộng sản phải được bảo mật vì “họ đang điều khiển các hoạt động quân sự trên chiến trường miền Nam Việt Nam”.

Vài con tính nhẩm đơn giản chứng minh rằng lực lượng du kích miền Nam không thể chống chỏi lâu dài nếu không có sự tiếp viện từ miền Bắc. Cho đến giữa năm 1964, Mặt Trận Giải Phóng tiến hành nhiều trận đánh nhỏ trong khi tiếp tục chiêu mộ người theo họ và tổ chức cùng kiện toàn cơ cấu. Sau đó họ sẵn sàng leo thang chiến tranh. Năm 1964, quân số chính quy của họ tăng từ 10.000 người đến 30.000, và các lực lượng ngoại vi tăng từ 30.000 đến 80.000 . Những bộ đội này cần vũ khí. Các thứ thực dân Pháp bỏ lại và tịch thu được sau hiệp định Geneva năm 1954 gồm 10.000 vũ khí. Mặt Trận Giải Phóng thu tóm được 39.000 súng ống và bị thất thoát 25.000, tổng cộng thắng lợi là 14.000 súng ống. Nhưng con số này có nghĩa 86.000 bộ đội không có vũ khí. AK-47 không mọc ra trên cây và không thể được chế biến từ các búp măng rừng. Vũ khí phải được tiếp tế từ Bắc Việt Nam.

Nếu trong thời chiến người ta còn chút nghi ngờ nào về việc Mặt Trận Giải Phóng chỉ là một tấm bình phong của Cộng sản miền Bắc, thì điều này nhanh chóng được giải tỏa ngay khi chiến tranh chấm dứt. Đại Tướng Văn Tiến Dũng của Bắc Việt, khi nói về chiến thắng của quân đội ông ta năm 1975, hầu như không nhắc đến vai trò của người cộng sản miền Nam. Tại miền Nam, các vai trò chính yếu của chính quyền đều được trao cho cán bộ Cộng sản Bắc Việt, và quân đội Giải Phóng ngay lập tức bị sát nhập vào quân đội Cộng sản Bắc Việt. Tháng 5, 1975, Lê Duẩn tuyên bố: “Đảng Cộng Sản là lãnh đạo duy nhất đã tổ chức, kiểm soát, và điều hành toàn cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam từ những ngày đầu tiên của cách mạng.”

Những người từng là đảng viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam sau năm 1975 đã lên tiếng chứng nhận rằng ngay từ bước đầu Hà Nội đã hoạch định và điều hướng cuộc chiến xâm lược miền Nam. Tháng 12, 1975, Nguyễn Hữu Thọ, vị chủ tịch đầu tiên của Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, phát biểu trong một diễn văn rằng mặt trận này đã “nhất trí tuân theo chỉ thị của Đảng”. Sau khi vượt thoát khỏi Việt Nam, Trương Như Tảng, một sáng lập viên của Mặt Trận, viết: “chúng tôi khám phá ra rằng Cộng sản Bắc Việt đã cố tình lừa gạt mọi người ngay từ buổi đầu để đạt đến mục đích thực sự của họ: hủy diệt toàn bộ cơ cấu xã hội và chính trị của miền Nam Việt Nam để chỉ theo một cơ cấu của miền Bắc.”

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét