Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

ĐỪNG LẬP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAM)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 6 (Tiếp theo)

Đại đa số quan sát viên đều không tin rằng ông Diệm có thể tại chức trong thời hạn ngắn ngủi một năm. Nhưng chỉ trong 2 năm, ông ta đã thanh lọc hết các tướng lãnh và viên chức bất trung trong guồng máy chính phủ, kiểm soát lực lượng cảnh sát Sài Gòn, chia và tái phối trí các lực lượng quân đội, nhận diện các cán bộ Việt Minh tại Sài Gòn, thắng Vua Bảo Đại trong cuộc trưng cầu dân ý, và đang hướng đến tổ chức bầu cử quốc hội để soạn thảo hiến pháp. Khi tôi thăm Sài Gòn vào ngày kỷ niệm một năm tại chức củaTổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1956, tôi đã rất ngạc nhiên và khâm phục những tiến bộ vượt bực ông đạt được bằng cách mang lại sự ổn định tình hình và lòng tin cùng sự hỗ trợ của đa số người dân Việt.


Tổng Thống Diệm hiểu rằng trách nhiệm đầu tiên của người cầm quyền là ổn định tình hình. Nếu thiếu một lãnh tụ nhiều nghị lực, miền Nam Việt Nam vốn quen nếp vô chính phủ và chia khu vực chắc chắn sẽ làm tan vỡ sự ổn định mong manh của xã hội. Mọi hành động của ông Diệm đều hoàn toàn hợp lý và hợp pháp trong vai trò chính phủ. Nhưng không phải chúng không có giá. Hàng ngàn người Việt miền Nam bị giết hại bởi cả hai bên trong các tranh chấp từ 1954 đến 1959. Đây là một điều đáng tiếc, nhưng chắc chắn con số tử vong sẽ cao hơn nếu Cộng Sản hay một địch thủ của ông Diệm cầm quyền trong giai đoạn này.

Theo tiêu chuẩn của chúng ta, ông Diệm đã hành động quá lố. Ông ta thường sử dụng quyền lực một cách độc đoán để trấn áp báo chí đã phê bình chỉ trích, và đe dọa phe đối lập, mà không phân biệt được giữa kẻ thù của đất nước hay kẻ thù của chính phủ Diệm. Khi tôi nói chuyện với ông ta về các hành động quá khích này vào năm 1956, ông bào chữa bằng cách chỉ ra rằng đối phó với sự khủng bố và võ trang tấn công của Cộng Sản, tuân thủ luật pháp thời bình chỉ tạo cơ hội cho Cộng Sản chiến thắng mà thôi. “Chúng tôi đang trong thời chiến,” ông nói, “và trong thời chiến thì chúng tôi phải áp dụng luật thời chiến.” Năm 1955, ông Diệm tiến hành cuộc thanh trừng Cộng Sản toàn quốc một cách không nhân nhượng. Ông bắt hàng vạn lính Cộng Sản và các cảm tình viên của họ, tống vào trại cải huấn. Đa số là cán bộ Cộng Sản nằm vùng, 2/3 mạng lưới nằm vùng bị thâu tóm, nhưng cũng có một số lớn người vô tội. Sau cuộc làm cỏ lực lượng Việt Minh nằm vùng này, sự đàn áp chính trị tại Nam Việt Nam chỉ là tối thiểu so với tiêu chuẩn Đông Á. Dưới thời chính phủ Diệm, tối đa là 300 tù nhân chính trị vào năm 1960, trong khi tại Miến Điện và Nam Dương, con số này lên đến hàng vạn.

Diệm, sau khi tái lập trật tự xã hội, phải trực diện công tác thứ hai của chính phủ: bảo đảm sự tuân thủ của người dân. Đây là một việc hầu như không thể đạt được, trong tình trạng phân tán chính trị của Nam Việt Nam, do đó thành quả của chính phủ Diệm là xấu tốt lẫn lộn. Cách cai trị khắc nghiệt của Diệm làm lu mờ rất nhiều điều tốt ông đã gặt hái, và các hành động mạnh mẽ của Diệm tạo cho ông rất nhiều kẻ thù, trong đó rất nhiều người có bạn bè thuộc giới báo chí tại Sài Gòn. Nhưng đối với đa số quần chúng trong nước, ông Diệm là người rất được người dân yêu chuộng.

Sự mến mộ của dân một phần bắt nguồn từ các cải tổ chính trị. Chính phủ Diệm cho dân nhiều tự do hơn hẳn thực dân Pháp. Ông cũng tiến bước đầu tiên hướng đến bầu cử dân chủ trong một nước chưa bao giờ có bầu cử. Giống như mọi chính khách vùng Đông Nam Á, ông có gian lận thùng phiếu. Năm 1955, kết quả cuộc trưng cầu dân ý cho thấy ông đạt đến 98.2% số phiếu, một con số quá giả tạo. Một cuộc kiểm phiếu công bằng cũng sẽ cho thấy ông thắng cử - với ông Diệu ít ra cũng được đến 90% - vì đối thủ của ông, Bảo Đại, chưa bao giờ được lòng dân chúng. Nhưng dù đối thủ là một người mạnh hơn Bảo Đại, không ai nghi ngờ rằng ông Diệm sẽ thắng một cuộc bầu cử nghiêm túc – có lẽ không dưới 65% số phiếu – vì vào thời điểm này, ông rất được quần chúng ngưỡng mộ.

Miền Nam Việt Nam thời Ngô Đình Diệm có mang nhiều hình thức dân chủ hơn là thực chất, tuy nhiên, không hẳn là thiếu dân chủ. Phe đối lập chính trị vẫn có tiếng nói và đại biểu. Trong những cuộc bầu cử năm 1956, 1/3 những đại biểu thắng cử thuộc thành phần chống Diệm, và con số này có thể còn cao hơn nếu một vài chính đảng đừng tẩy chay bầu cử và đã không tham gia đầu phiếu. Nhưng dân chủ kiểu Mỹ vẫn luôn khiến Tổng Thống Diệm hoài nghi, vì ông ta biết rõ một cuộc bầu cử đúng nghĩa cần có nhiều điều kiện hơn chỉ gồm lá phiếu và thùng phiếu. Ông đã từng nêu lên vấn đề dân trí với một phóng viên: “Một chính thể dân chủ sẽ có ý nghĩa gì với một người Montagnard khi trong tiếng mẹ đẻ của họ không bao giờ có chữ nào để diễn tả ý tưởng này?”

Phần lớn sự yêu quý dân chúng dành cho Tổng Thống Diệm là kết quả của nhiều chương trình xã hội và đổi mới mà ông thực thi với sự tài trợ của Hoa Kỳ. Nhiều trường học được xây khắp nơi tại miền quê hẻo lánh. Đất được phân phối cho nông dân. Thuốc trừ muỗi được sử dụng hữu hiệu để phòng ngừa bệnh sốt rét. Sản lượng gạo tăng vọt. Đường xá và cầu cống tốt được xây dựng. Lượng đầu tư từ ngoại quốc tăng cao. Các khu kỹ nghệ nhẹ mọc lên chung quanh Sài Gòn. Cứ mỗi hai hay ba ngày, Tổng Thống Diệm đích thân đi kinh lý vùng nông thôn, khảo sát kỹ lưỡng các tiến bộ trong những kế hoạch phát triển ở mức địa phương, và không ngớt hướng dẫn cùng khuyên nhủ các viên chức trong công việc. Tuy những chương trình của ông thường quá nặng nề với khả năng khiêm nhường của bộ máy hành chính nghèo nàn, kết quả của chúng mang lại lợi ích lớn lao vượt mức cho dân chúng.

Khi so sánh hai người lãnh đạo với nhau, ý tưởng Hồ sẽ thắng Diệm trong cuộc tổng tuyển cử tay đôi vào thời điểm này là một điều khó tin đến dị kỳ. Thế nhưng giữa cuộc chiến, nhiều bình luận gia Hoa Kỳ đã tranh luận về chính điểm này trong cố gắng trợ giúp miền Nam Việt Nam. Họ nói rằng Hiệp định Geneva năm 1954 có tính pháp lý buộc chính quyền Diệm và Hoa Kỳ phải thống nhất hai miền Nam Bắc Việt Nam qua cuộc tổng tuyển cử, và như vậy chắc chắn Hồ sẽ thắng. Họ đã sai hoàn toàn trên cả hai lập luận.

Nội dung của Hiệp định Geneva không hề có một ràng buộc pháp lý nào với miền Nam Việt Nam hay Hoa Kỳ trên vấn đề tuyển cử. Chín quốc gia cùng thảo luận và đưa ra sáu tuyên cáo đơn phương, ba hiệp định ngưng bắn song phương, và một tuyên cáo không được ký kết. Chỉ có Hiệp ước đình chiến là có tính pháp lý song phương vì có đầy đủ chữ ký; phần nói về tổng tuyển cử nằm riêng biệt trong một tuyên cáo cuối cùng. Chỉ có bốn trong chin nước (4/9) hiện diện ký nhận đồng ý với các điều kiện của tuyên cáo này. Hoa Kỳ không ký kết. Nam Việt Nam, lúc ấy không cả có sự hiện diện tại Geneva, hoàn toàn độc lập trong quyền tự quyết của họ khi chính thức tuyên bố không công nhận bản tuyên cáo này. Bắc Việt cũng không ký kết vào tuyên cáo. Rất giản dị, bản tuyên cáo không có tính pháp lý.

Cũng không một quốc gia tham dự hội nghị nào kỳ vọng là sẽ có cuộc tổng tuyển cử. Hội Nghị Geneva không có chủ đích xây dựng nền hòa bình vĩnh cửu qua thùng phiếu nhưng thực ra là tạo một ranh giới hòa bình cho hai miền Nam và Bắc Việt Nam tương tự như trường hợp của Đại Hàn. Sự chia cắt được chính thức xem là một giải pháp tạm thời, nhưng tất cả các thành viên tham dự chính đều hy vọng đó sẽ là một đồng ý lâu dài. Cho dù các chữ viết ra có nói gì đi nữa về cuộc bầu cử, các hành động thực tế đã cho thấy chủ đích rõ ràng của họ: Họ lập ra hai chính phủ, hai lực lượng quân sự, và thu xếp để dân chúng có thời gian di chuyển tỵ nạn chính trị giữa hai vùng khác chính kiến. Sẽ thật ngu xuẩn khi trải qua bao nhiêu khó khăn như thế năm 1954 chỉ để làm điều ngược lại sau khi có cuộc bầu cử vào năm 1956.

Dù trong trường hợp nào đi nữa, tất cả ý tưởng trên cũng hoàn toàn không thực tế. Sự thống nhất trên giả thuyết được quyết định bởi một cuộc Tổng Tuyển cử hoàn toàn tự do. Nhưng vì miền Bắc không có bầu cử tự do, nên Nam Việt Nam hoàn toàn có lý khi phản đối chuyện này. Một thế cờ bí là điều hoàn toàn không tránh khỏi. Bắc Việt đã hiểu rõ điều này. Ngay sau hội nghị, một đại biểu của Bắc Việt, nói với phóng viên: “Cả ông lẫn tôi đều biết rằng sẽ không có một cuộc tổng tuyển cử.”

Khi đến thời điểm thảo luận về cuộc bầu cử năm 1956, Tổng Thống Diệm đã từ chối không tham dự, và Hoa Kỳ hỗ trợ ông trong quyết định này. Chúng ta không e ngại việc tổ chức bầu cử tại Việt Nam, với điều kiện nó phải được xảy ra trong sự tự do hoàn toàn như Hiệp Định Geneva đòi hỏi. Nhưng chúng ta biết rằng điều này chỉ có tại miền Nam Việt Nam, và lưỡng đảng Hoa Kỳ cùng đồng ý trên nhận xét này. Thượng Nghị Sĩ Keneday nói cả Hoa Kỳ lẫn miền Nam Việt Nam đều không muốn có vai trò gì trong một cuộc bầu cử “rõ ràng đã bị làm biến chất và dàn xếp trước”. Sau khi bỏ ra hai năm dài nghiến nát mọi mầm mống tự do tại miền Bắc Việt Nam, các lãnh đạo tại Hà Nội sẽ không bao giờ cho phép quốc tế giám sát cuộc bầu cử thực sự tự do để quyết định vận mạng của họ. Những tham khảo ý kiến sau này cho thấy ngay cả Nga Xô cũng đồng ý rằng một cuộc tổng tuyển cử như vậy hoàn toàn không thể xảy ra.

Bắc Việt Nam, với sự cay cú làm khó chịu ngay cả Hồ, đã thúc đẩy vấn đề trong một thời gian ngắn. Nhưng cách tổ chức bầu cử trong khu Việt Minh kiểm soát năm 1946 cho thấy rõ ràng họ đã tính toán gì năm 1956. Họ không bao giờ cho phép một lo lắng nhỏ nhoi nào về kết quả. Để bảo đảm sự tham dự của các đảng phái chính trị, Hồ đã công bố với các lãnh tụ một chính đảng rằng ông ta sẽ cho họ thắng 20 ghế trong quốc hội và một đảng khác sẽ được 50 ghế. Chỉ riêng các kết quả bầu cử của Việt Minh cũng đủ khiến chính quyền Diệm trở thành một mô hình tốt đẹp. Hồ nhận được 169,222 phiếu tại Hà Nội, một thành phố chỉ có 119,000 dân. Con số tổng kết là 140% dân số, với tất cả mọi người đều đi bầu bất kể tuổi tác.

Sự không thích việc mất kiểm soát trong bầu cử của Hồ chẳng hề phai nhạt vào năm 1956. Phạm văn Đồng nói với một phóng viên về phương thức Hồ muốn bầu cử được tổ chức. Tại miền Nam phải có nhiều đảng phái tranh cử, trong khi tại Bắc Việt, nơi dân chúng đã “đoàn kết”, sẽ chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng Sản. Như vậy cuộc tổng tuyển cử sẽ bảo đảm chiến thắng cho Hà Nội, vì dân số miền Bắc chiếm 55% tổng số dân cả hai miền Nam Bắc. Hồ chỉ chấp nhận một cuộc bầu cử khi chắc chắn phần thắng trong tay.

Nhiều người Hoa Kỳ thuộc phong trào phản chiến cho rằng Hồ sẽ thắng Diệm trong một cuộc tranh cử công bình. Họ lý luận rằng ngay cả Tổng Thống Eisenhower cũng thú nhận điều này trong hồi lý của ông. Đoạn văn họ viện dẫn viết: “Tôi chưa bao giờ nói chuyện hay trao đổi với một người có kiến thức về các vấn đề Đông Dương mà không đồng ý rằng nếu cuộc bầu cử diễn ra trong thời gian chiến tranh, rất có thể 80% dân số sẽ bầu cho Hồ Chí Minh thay vì bầu cho Bảo Đại” . Những người kết luận từ đoạn văn này là Hồ sẽ thắng mọi cuộc bầu cử quên mất hai sự thực: Cuộc tổng tuyển cử do Hội nghị Geneva bảo trợ không xảy ra trong lúc chiến tranh, mà Eisenhower ám chỉ năm 1954, nhưng là vào năm 1956. Và đối thủ của Hồ không phải là Bảo Đại, chính phủ bù nhìn của Pháp – mà là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một người quốc gia chống Pháp được dân Việt Nam yêu chuộng.

Hồ sẽ không thành công trong một cuộc bầu cử minh bạch và công bằng. Năm 1954, 1/13 dân Bắc Việt Nam đã bỏ xứ ra đi hơn là ở lại sống dưới sự cai trị của Hồ. Chính sách Cải Cách Ruộng Đất của Hồ đã làm cả đất nước rúng động, tạo sự thiếu gạo trầm trọng, và đưa đến sự nổi dậy mãnh liệt của nông dân trong tỉnh nhà của Hồ lan sang đến hai vùng lân cận. Tướng Giáp sau đó đã xác nhận để dẹp yên loạn, chính quyền Việt Minh đã giết 50,000 người. Vào năm 1956, khó mà tin Hồ là người dẫn đầu lá phiếu. Tổng Thống Diệm, người lãnh đạo sáng giá nhất vào thời điểm ấy, chắc chắn sẽ thắng cử. Chỉ có một lý do duy nhất tại sao lãnh đạo miền Bắc, như tất cả các lãnh tụ Cộng Sản khác, không bao giờ dám tổ chức một cuộc bầu cử tự do chân chính: Họ biết họ sẽ thua.
Nếu Hoa Kỳ ép buộc miền Nam Việt Nam tổ chức một cuộc bầu cử do Việt Minh tính toán và xếp đặt trước để giành chắc phần thắng cho Cộng Sản thì đó là điều vô cùng trái pháp luật, thiếu chiến lược, và đi ngược nền tảng đạo lý một cách lố bịch.

Hồ không bao giờ thay đổi quyết định thâu tóm toàn cõi Việt Nam dưới sự cai trị của Đảng Cộng Sản. Không bao giờ có câu hỏi “nếu Hồ sẽ cố xâm chiếm miền Nam Việt Nam”, mà chỉ có câu hỏi “khi nào” và “bằng cách nào” Hồ sẽ thực hiện ý đồ này.

Theo những tài liệu tịch thu được và theo lời khai của các quan chức cao cấp Cộng Sản hồi chánh, Bắc Việt đã có quyết định xâm chiếm miền Nam một thời gian ngắn sau hội nghị Geneva. Hồ chờ nhiều năm trước khi ra lệnh tấn công. Ông ta cần phải củng cố toàn bộ quyền lực tại Bắc Việt, và ông ta nghĩ rằng chính phủ Ngô Đình Diệm sẽ bó tay trước hoàn cảnh rối loạn ngay sau khi đất nước chia đôi, và sẽ tự sụp đổ. Mạng lưới Cộng Sản nằm vùng của Hồ tại miền Nam Việt Nam, tuy đáng kể, nhưng không mạnh như miền Bắc, và những tấn công của Tổng Thống Diệm vào lực lượng nằm vùng này đã giảm thiểu sức mạnh của họ rất nhiều.

Tuy nhiên, những chuẩn bị tấn công miền Nam Việt Nam của Hồ đã bắt đầu khi ngòi bút của đại biểu Cộng Sản Bắc Việt chưa ráo mực ngay sau khi ký kết hiệp định đình chiến tại Geneva. Hồ đã hứa sẽ không phát triển quân đội, nhưng chỉ trong 4 tháng, lực lượng quân sự của Bắc Việt tăng từ 7 sư đoàn lên 20. Tôn trọng hiệp định, miền Nam Việt Nam giải ngũ 20,000 tiểu đội. Vào tháng 5, 1959, trong phiên họp Trung ương Đảng thứ 15, Đảng Cộng Sản Bắc Việt Nam ra lệnh tấn công miền Nam. Đảng Cộng Sản đã quyết nghị: “con đường căn bản để phát triển một cuộc nổi dậy tại miền Nam là sử dụng bạo lực, và tùy theo hoàn cảnh đặc thù và điều kiện cần thiết của thời điểm nổi dậy mà đường dây bạo lực phải sử dụng sức mạnh nhân dân, lấy nhân dân làm sức mạnh chính trị căn bản, phối hợp với lực lượng vũ trang nhiều hay ít tùy theo hoàn cảnh, để lật đổ sự cầm quyền của đế quốc và thực dân, dựng lên một chính quyền kháng chiến của nhân dân.”

Vào tháng chín, một số lượng lớn du kích quân Cộng sản Bắc Việt bắt đầu thâm nhập vào Nam, tổng số khoảng 4,000 người trong vòng 2 năm. Đa số các lính này là người Nam được tập kết ra Bắc vào năm 1954. Không còn nghi ngờ gì ai là kẻ chủ mưu. Đại Tướng Võ Nguyên Giáp của Bắc Việt tuyên bố vào năm 1960, “Miền Bắc đã trở thành một hậu cần lớn cho quân đội chúng ta.” Với miền Bắc là hậu cần, thì tiền tuyến ở đâu nếu không là miền Nam Việt Nam?
Như vậy, nếu chiến tranh khởi đầu từ trong các bộ óc con người, thì chiến tranh Việt Nam bắt nguồn từ bộ óc của Hồ Chí Minh.

Trong suốt 30 năm, ông ta đã không ngừng theo đuổi mục đích thâu tóm toàn cõi Việt Nam dưới sự cai trị độc đảng toàn trị của Đảng Cộng Sản. Giấc mơ không chết của Hồ trở thành một cơn ác mộng dài dằng dặc chưa chấm dứt cho triệu triệu người Việt Nam. Hồ đã hy vọng người Pháp sẽ trao Việt Nam vào tay ông ta qua hiệp ước ngày 6 tháng 3, 1946. Ông ta đã hy vọng Nga Xô Viết và Cộng Sản Trung Hoa trao nó cho ông ta trên bàn hội nghị tại Geneva năm 1954. Ông ta đã hy vọng miền Nam Việt Nam rơi vào tay ông ta sau một thời gian ngắn ngủi dưới quyền Tổng Thống Diệm. Có thể ông ta còn hy vọng sẽ thắng miền Nam qua một cuộc tổng tuyển cử với nhiều lừa gạt năm 1956.

Năm 1959, khi tất cả các điều trên đều không hiện thực, Hà Nội khởi động cuộc chiến.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét