Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

ĐỪNG LẬP LẠI KINH NGHIỆM CHIẾN TRANH VIỆT NAM (NO MORE VIETNAM)

Richard Nixon
Nường Lý chuyển ngữ

Kỳ 5 (Tiếp theo)

Hiệp định Geneve năm 1954 đã tạm thời đưa ra câu trả lời cho thắc mắc “Ai sẽ kế nghiệp người Pháp tại Việt Nam”? Quyết nghị của Hiệp ước này chia Việt Nam thành hai nước riêng biệt: Cộng Sản Bắc Việt Nam và Miền Nam Độc Lập Tự Do. Nhưng định mệnh lâu dài của Việt Nam và Hoa Kỳ tại Việt Nam bị ràng buộc vào định mệnh của hai vị lãnh đạo hai quốc gia này: Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm.


Nếy hình ảnh Hồ Chí Minh được ưa chuộng có một ý nghĩa nào đó, thì ông ta hẳn đã được các tổ chức tuyên truyền thượng thừa làm việc cho ông. Khả năng truyền thông của Đại Lộ Madison của Hoa Kỳ chỉ có thể cúi đầu khâm phục và chịu thua. Lời tuyên truyền tiêu biểu về Hồ thường như sau: Hồ, tuy là người Cộng Sản, trên căn bản vẫn là một người quốc gia yêu nước. Ông ta được miêu tả như một George Washington của Việt Nam trong vai trò lãnh đạo dân tộc chống thực dân Pháp; một Tito của Á Đông chỉ quay sang cầu viện Nga Xô và Trung Cộng sau khi bị Hoa Kỳ từ chối không giúp chỉ vì Hoa Kỳ đang quá bận tâm về Chiến tranh Lạnh; và một Bác Hồ đầy lòng nhân đạo luôn thuyết giảng về nhu cầu giải phóng, giáo dục, và cải cách ruộng đất.

Trên thực tế, Hồ là một tên lường gạt giảo quyệt nhất đã bỏ cả đời đóng những vai trò giả dối hoàn toàn trái ngược với con người thực của ông ta. Ông ta đóng vai “người quốc gia yêu nước” chỉ vì ông ta chưa thiết lập được chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam khi nó còn thuộc quyền Đế quốc Pháp. Ông ta chỉ trung thành với ý tưởng tiếm đoạt quyền lực cho chính ông ta và cái ý thức hệ Cộng Sản mà ông ta theo đuổi. Chính vì thế mà mọi tính toán chiến thuật trở nên rất đơn giản trong mắt Hồ. Ông ta lý luận rằng ngày nào người Pháp còn cầm quyền, ngày ấy ông ta chưa nắm được quyền lực. Và nếu người Pháp không trao quyền cho ông tra, họ sẽ phải bị tước đoạt mọi quyền lực để nhường chỗ cho Hồ.

Trong tiểu sử của Hồ, không một điều nào có thể biện minh rằng ông đặt chủ nghĩa quốc gia lên trên chủ nghĩa cộng sản. Năm 1911, vào tuổi 21, ông rời Việt Nam. Trong khi đa số người Việt quốc gia lưu vong sang Nhật, ông ta đi Pháp. Chín năm sau đó, ông ta trở thành người sáng lập Đảng Cộng Sản Pháp. Ông ta từng viết trong tờ báo đảng, L’Humanité, rằng “chủ nghĩa quốc gia dân tộc, nếu không được kiềm chế, sẽ trở thành ‘một hiện tượng nguy hiểm’ có thể đe doạ sự bành trướng của Cộng sản trong các nước thuộc địa."

Năm 1923, Nga Xô Viết đem ông sang Mạc Tư Khoa, nơi ông được huấn luyện đến thấm nhuần chủ nghĩa Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế. Đảng Cộng Sản, lúc ấy gọi là The Comintern, đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối với Nga Xô Viết, cho dù đảng viên phải phản bội dân tộc đất nước cha sinh mẹ đẻ của họ. Hồ trải qua hai thập niên sau đó tại Moscow để theo đuổi khoa học cách mạng tại Đại Học Lenin hay về thực hành cách mạng tại vùng Đông Nam Á trong vai trò Đảng Cộng Sản giao phó.

Hồ giao tiếp và trở thành đồng minh với hầu hết tất cả các nhóm người Việt yêu nước theo chủ nghĩa quốc gia, nhưng không bao giờ đặt quyền lợi chung của dân tộc lên trên ý đồ riêng của Hồ. Ông ta chỉ cộng tác với các người Việt yêu nước chân chính khi có thể lợi dụng họ trong tham vọng riêng của ông ta. Khi lý tưởng của họ đi ngược lại quyền lợi riêng của Hồ và đảng cộng sản, Hồ liền tiêu diệt họ. Năm 1925, Hồ Chí Minh phản bội một nhân vật yêu nước chân chính được đa số dân Việt kính phục và yêu mến: Phan Bội Châu, bằng cách bán Cụ Phan cho mật thám Pháp. Lịch sử của Đảng Cộng Sản viết rằng Cụ Phan rơi ngay vào bẫy của Pháp. Nhưng Đảng Cộng Sản đã vờ quên không viết thêm rằng chính Hồ Chí Minh là người lập ra cái bẫy ấy để lừa Cụ Phan, bán cho mật thám Pháp lấy 100.000 đồng tiền Việt. Hồ tự bào chữa cho tội phản bội của mình bằng lý do Cụ Phan là người theo phe Quốc gia, không theo Cộng Sản, và do đó, có thể gây hại cho đảng Cộng Sản sau này.

Những người lý luận rằng Hồ có tinh thần quốc gia luôn luôn viện dẫn các điều ông ta yêu cầu người Mỹ giúp nhân danh dân tộc Việt sau Thế chiến II. Nhiều người biết ông ta đã lập đi lập lại đề nghị đứng về phía Hoa Kỳ để đổi lấy sự công nhận từ chính phủ Hoa Kỳ một nước Việt Nam độc lập dưới sự lãnh đạo của Hồ. Nhưng ít người biết câu chuyện cho đủ đầu đuôi ngọn ngành. Mọi hành động của Hồ thực ra không gì khác hơn là một cách tự nâng cao mình lên đến vị trí nổi trội về thế lực tại Việt Nam.

Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến, Hồ chỉ là một kẻ vô danh đối với người Việt. Ông ta biết rằng để thắng cuộc tranh chấp quyền hành sau Thế Chiến, trước tiên ông ta phải được sự hỗ trợ của một thế lực ngoại bang, dù đó là Hoa Kỳ, Trung Hoa, hay Pháp. Ông ta tự tìm cách gia ơn cho nhiều sĩ quan tình báo Hoa Kỳ đóng tại Việt Nam, mua chuộc họ bằng tin tức, sự khôn khéo, và nịnh nọt. Chiến thuật này hiệu quả. Các sĩ quan Hoa Kỳ cung cấp cho Hồ vũ khí súng ống của Mỹ, mà sau này đã rất hữu dụng lúc ông ta cướp chính quyền tại Hà Nội một thời gian ngắn sau khi Thế Chiến chấm dứt. Họ cũng ào ạt gửi thư về Hoa Thịnh Đốn thúc giục Hoa Kỳ hỗ trợ Việt Minh.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi Hồ đọc tuyên ngôn độc lập để tiếm nhận quyền hành trên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, những người bạn Hoa Kỳ mới quen của Hồ đã trung thành đứng cạnh ông ta và còn nghiêm chào lá cờ Cộng Sản. Trong bài phát biểu, Hồ lập lại những giòng trong Tuyên ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.” Thế nhưng điều Hồ làm đã vang to hơn điều Hồ nói. Chỉ ba ngày sau đó, chính quyền của Hồ bắt, thủ tiêu, đe dọa, và ngăn cấm tất cả các đảng phái chính trị có tinh thần quốc gia yêu nước nhưng không Cộng Sản. Tuy vậy, các sĩ quan OSS vẫn nhớ đến Hồ như một “người rất ngọt ngào”.

Vài người tin rằng Hồ thực sự đã muốn thành đồng minh của Hoa Kỳ.
Nhưng sự thực là Hồ muốn người ngoài tưởng rằng Hoa Kỳ đang đứng về phía của Hồ. Sự liên hệ của Hoa Kỳ với Hồ đã có ảnh hưởng quyết định trên mọi diễn biến chính trị. Đối với người Việt, vốn tin tưởng vào Hoa Kỳ, sự hiện diện chính thức của chúng ta khi Hồ đọc tuyên ngôn độc lập đã vô tình ngầm công nhận Hồ có một thế lực thượng thừa về pháp lý và địa vị không ai sánh bằng. Hồ tiếp tục khai thác triệt để điều này. Cựu Hoàng Bảo Đại, người đứng đầu chính phủ bù nhìn của Pháp tại miền Nam, thoái vị trong vài ngày, sau đó cho biết ông làm như thế vì ông nghe rằng Hoa Kỳ hỗ trợ Hồ Chí Minh. Không một đảng phái nào khác có thể vượt được hấp lực chính trị Hồ gặt hái nhờ lợi dụng sự nồng nhiệt của các sĩ quan OSS ngờ nghệch.

Những lực lượng quân sự của Anh, Hoa Kỳ, Trung Cộng dần dần rút khỏi Việt Nam, và người Pháp trở lại. Trong khi các người Việt quốc gia từ chối không hợp tác với Pháp, Cộng Sản Việt Minh đồng ý cộng tác với thực dân. Hồ ký bản hiệp ước ngày 6 tháng 3 đồng ý cho quân đội Pháp trở lại miền Bắc Việt Nam. Hồ đã chào mừng sự trở lại của Pháp rất nồng nhiệt: “Tôi yêu nước Pháp và người lính Pháp. Chúng tôi hân hoan chào đón các anh. Các anh là những người anh hùng.”

Một số người cho rằng Hồ thỏa thuận với Pháp để buộc Trung Hoa Quốc Dân Đảng rút khỏi Việt Nam. Nhưng một tuần trước đó, Trung Hoa đã hứa sẽ rút quân trong một hiệp ước khác với Pháp. Động lực chính của Cộng Sản trong hiệp ước 6 tháng 3, theo lời Lê Duẩn, cánh tay phải của Hồ, tuyên bố sau này, thì “nhằm tiêu diệt hoàn toàn phe phản động”. Đối với Việt Minh, kẻ phản động và chống đối đảng Cộng Sản là những người Việt quốc gia, tất cả những ai thuộc phe dân tộc và yêu nước chân chính.

Hồ và người Pháp đã chung sức giết hại hàng trăm lãnh tụ Việt và hàng ngàn người Việt có tên trong danh sách các đảng phái quốc gia. Thực dân Pháp cho Việt Minh vũ khí, quân đội, và cả sự hỗ trợ về hỏa lực để thực thi công tác này. Vào tháng 7 năm 1946, lực lượng của Hồ thanh toán các căn cứ chỉ huy của tất cả mọi đảng phái quốc gia còn sót lại, trong khi Pháp cho quân đội vũ trang làm hàng rào bao vây chung quanh. Đa số lãnh tụ Việt quốc gia đều bị bắt và sau đó bị thủ tiêu. Khi Pháp quay lưng lại Việt Minh vào tháng 11 năm 1946, không phải sự ngẫu nhiên mà Hồ trở thành người lãnh đạo đáng kể nhất của lực lượng kháng chiến. Hồ đã giết hầu như tất cả các vị lãnh đạo người Việt có tinh thần quốc gia, không Cộng Sản.

Ý tưởng Hồ Chí Minh là người Việt có tinh thần quốc gia hoàn toàn vô căn cứ. Thay vì cộng tác với những người Việt quốc gia để cùng tranh đấu cho độc lập, Hồ đã bỏ toàn thời gian tiêu diệt tất cả những người có tinh thần quốc gia, và không ngại ra mặt trực tiếp hợp tác với thực dân Pháp để đạt được mục đích này. Tuy Hồ luôn sử dụng luận điệu yêu nước, Hồ chính thực luôn luôn là một tên Cộng Sản độc tài. Hồ lợi dụng chiêu bài quốc gia dân tộc để làm tay sai cho chủ nghĩa Cộng sản, thay vì điều ngược lại như vẫn tuyên truyền.

Hình ảnh Hồ Chí Minh nhân bản và được dân chúng quý mến trong con mắt người phương Tây cũng hoàn toàn vô căn cứ. Khi Hồ tiếm quyền trên một nửa lãnh thổ Việt theo Hiệp định Geneva, người Việt được cho 60 ngày để chọn miền đất muốn định cư, bên này hay bên kia lằn ranh chia đôi Bắc Việt và Nam Việt Nam. Một triệu người Việt miền Bắc trên tổng số 13 triệu dân chọn di cư vào Nam, trong khi chỉ vỏn vẹn 90 ngàn người Nam tập kết ra Bắc. Con số người từ bỏ miền Bắc đáng ra còn tăng lên gấp nhiều lần, nếu Cộng Sản không ngăn cản ho. Hai năm sau, vào năm 1956, Bà Nixon và tôi đến thăm một trại tỵ nạn tại Nam Việt Nam. Hàng ngàn người sống chen chúc trong các lều vải với rất ít tư trang mà họ có thể mang theo trên lưng. Thật là một cảnh thương tâm đã không ngừng tái diễn trong suốt giai đoạn chiến tranh. Người Việt đã bỏ phiếu bằng chân, và kết quả nói lên sự chối bỏ chủ nghĩa Cộng Sản của đa số dân Việt.

Đây lã điều dễ hiểu. Cải cách ruộng đất đứng hàng đầu trong chương trình của Hồ tại Bắc Việt Nam. Hồ hứa với nông dân một chương trình “Người cầy có ruộng”, nhưng Hồ lại đổ xuống đầu nông dân Việt một thảm họa hãi hùng. Năm 1954, 98% nông dân miền Bắc canh tác ruộng của chính họ. Nhưng điều này không ngăn cản được Cộng Sản bịa ra rất nhiều “địa chủ” chỉ để lấp đầy các con số Hà Nội đòi hỏi, những con số càng ngày càng tăng nhiều hơn cho “đúng chỉ tiêu” do Trung Cộng đưa ra. Một nhân chứng nói “Có ít nhất 5% dân số trong làng bị vu khống là “địa chủ”. Một sĩ quan trong quân đội nhân dân Bắc Việt từng tham dự chiến dịch Cải cách ruộng đất sau này đã bỏ trốn vào Nam và cho biết: “Tất cả các tội trạng đều là bịa đặt, thêu dệt, và các cán bộ vu cáo rằng đã xảy ra”.

Đầu tiên, các cán bộ của Hồ hành hạ và tra khảo nạn nhân để ép họ phải viết ra một bản thú tội. Nhiều người bị treo ngược trên xà nhà, bị đánh đập dữ dội và kéo lên kéo xuống thật nhanh. Những người khác bị kẹp đẫu ngón tay với gọng kềm xiết chặt dần trong lúc bị hỏi cung . Lại có nhiều người bị bỏ vào rọ tre, nhúng nước cho ngộp đến khi họ đồng ý ký vào bản khai tội tưởng tượng.

Những cách tra khảo nãy rất dã man, tàn bạo. Trong giai đoạn này, một giáo viên tiểu học ra đề cho học trò “Tả một cảnh về sự tranh đấu trong làng em”. Học trò vâng lời. viết các bài luận ca tụng Đảng Cộng Sản và tả chân các cuộc bắt bớ, đánh đập, tra khảo tàn nhẫn. Đảng phải tuyên bố không chịu trách nhiệm về các hành động khủng bố, nên giáo viên lại phải phê bình học trò là “đã tả sai”. Nhưng trong đầu óc non nớt của các em tiểu học, các em khăng khăng là đã chứng kiến tận mắt các cảnh tượng ấy, có em còn nói nhìn thấy cán bộ dàn cảnh cho các phiên tòa.

Những cái gọi là “tòa án” này thường đi đến bản án tử hình. Xuyên suốt sự khủng bố hãi hùng qua chương trình “Cải cách ruộng đất”, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản đã nhất nhất thi hành phương châm: “Thà giết lầm mười người vô tội, còn hơn tha lầm một kẻ có tội.” Con số ước lượng là 50.000 người Việt bị xử tử và 100.000 bị tống vào các trại tù lao động.

Chính sách khủng bố của Hồ chưa dừng tại đây. Gia đình của các nạn nhân bị gán tội “địa chủ” phải chịu đựng sự ruồng bỏ tẩy chay của làng xóm, xã hội, do chính Đảng Cộng Sản giật dây. Hồ biết chế độ của ông ta tạo ra nhiều sự oán hận thù hằn không phai. Trong đầu Hồ, ông nghĩ gia đình các nạn nhân này sẽ trở thành lực lượng phản kháng trong tương lai, do đó phải bị tận diệt. Đảng ra lệnh không ai được phép nói chuyện, thăm viếng, giúp đỡ, hay thuê mướn họ. Một nhân chứng nói: “Như con chó ghẻ, họ trở thành những kẻ mà Đảng khuyến khích trẻ em ném đá vào một cách khinh miệt.” Gia đình những nạn nhân này trở thành kẻ sống vất vưởng ngoài lề xã hội và chết vì đói. Có khoảng 300.000 đến 500.000 nông dân đã tự tử hay chết mòn vì không chịu nổi chính sách cô lập hóa do Đảng chủ xướng.

Một số người cho rằng trong giai đoạn này Hồ không điều khiển được sự bạo động của cách mạng, và các nông dân địa phương đã tự phát làm tăng cường độ của sự kinh hoàng. Đây là một cách ngụy biện giả dối. Hồ biết rất rõ điều ông ta làm. Chính sách này không do Hồ nghĩ ra. Nó được nhập cảng từ Trung Cộng. Toàn bộ chương trình, từ kế hoạch, cho tới cách huấn luyện cán bộ, đều được đóng dấu “Do Đảng Cộng Sản Trung Quốc chế tạo”. Hồ biết rất rõ là chính sách này khi thực thi tại Hoa Lục đã giết hàng triệu nông dân Trung quốc, nhưng Hồ vẫn bắt chước không ngần ngại. Hồ muốn tạo ra sự bạo động quá độ, và đã chủ tâm sử dụng kế hoạch này. “Để uốn cây tre cong” Hồ từng nói với các đảng viên, “chúng ta phải bẻ ngược nó lại, và ép nó trong tư thế này một thời gian. Như vậy khi nới tay dần thì cây mới thẳng theo ý chúng ta.”

Đằng sau chính sách độc ác này là một động lực đơn giản và tàn nhẫn: Hồ muốn chứng tỏ cho toàn dân Việt thấy thật rõ ràng rằng tại Bắc Việt Nam lúc ấy không còn cách nào khác hơn là chấp nhận sống dưới chế độ Cộng Sản.

Nhưng có một sự lựa chọn khác: Đó là miền Nam Việt Nam. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã xây dựng được một nước tương đối tự do, tuy không hoàn toàn đúng theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ. Giống như mọi lãnh tụ của các quốc gia vừa thoát vòng thuộc địa, ông Diệm lãnh đạo với phương cách phối hợp giữa chế độ lập hiến của Âu Châu, một phần theo truyền thống Á Châu, và một phần theo sự đòi hỏi của nhu cầu thực tế.

Trái với Hồ, ông Diệm là một người quốc gia chân chính. Ông xuất thân từ một gia đình quan trọng trong triều đại Huế và nổi tiếng vì đã cương quyết chống đối chủ nghĩa thực dân của Pháp một cách kịch liệt. Một tín đồ Công Giáo thuần thành, ông học 2 năm tại trường đạo Maryknoll, Hoa Kỳ. Năm 1933, ông nhận lời làm Bộ trưởng Nội vụ xứ An Nam tại miền Trung Việt Nam, với điều kiện người Pháp phải đồng ý thi hành một số cải tổ, trong đó có việc tạo ra một Hội Đồng Toàn Quốc để điều hành đất nước. Sau ba tháng làm việc, ông từ chức trong giận dữ vì người Pháp không thực hiện lời hứa. Nhưng khả năng ưu tú của ông khiến ông được mời cộng tác trong nhiều chức vị khác. Người Pháp vừa kính phục vừa e ngại ông, đã vừa dụ dỗ ông bằng các địa vị trong chính phủ, vừa đe dọa sẽ bắt giam nếu ông không theo họ. Ông từ chối một chức quan trong thời gian chiến tranh với Nhật. Sau Thế Chiến II, Bảo Đại, vị vua bù nhìn của Pháp, đã nhiều lần xin ông tiếp tay.

Ngay chính Hồ cũng kính trọng lòng yêu nước của ông Diệm - rất kính sợ đến nỗi năm 1945 Hồ từng bắt giam Ngô Đình Diệm và giết chết một người anh của ông. Hồ đầy ông Diệm ra một làng tại biên giới Hoa Việt, nơi ông suýt chết vì bệnh sốt rét. Sau sáu tháng, lãnh tụ Việt Minh điệu ông tới và mời ông giữ chức Bộ trưởng Nội Vụ trong chính quyền Cộng Sản mớI thành lập. Diệm giận dữ từ chối và được thả ra. Một viên chức Cộng Sản sau này nói, “Khi cân nhắc các diễn biến chính trị sau này, thì việc thả Diệm là điều vô cùng ngu ngốc.” Chẳng bao lâu sau, Hồ, cho thấy lòng kính sợ tài năng của Diệm, đã xử khiếm diện Diệm với bản án tử hình.

Lòng kính phục ông Diệm của Hồ hoàn toàn có lý. Năm 1954, sau khi Việt Nam bị chia đôi, Bảo Đại phong cho ông Diệm chức Thủ Tướng với tất cả quyền hành. Ông Diệm phải trực diện một hoàn cảnh chính trị rối mù. Nói cho đúng, chúng ta không có một “quốc gia miền Nam Việt Nam”, mà chỉ là một tình trạng vô chính phủ. Các phe thân Pháp và ghét Diệm cầm đầu quân đội và hành chính dân sự. Giặc Bình Xuyên kiểm soát cảnh sát Sài gòn và ra mặt chống đối ông. Hai lực lượng tôn giáo võ trang, Cao Đài và Hòa Hảo, và nhóm dân tộc thiểu số Montagnards luôn luôn gây rối. Trước khi rút ra Bắc, Việt Minh đã để lại miền Nam một mạng lưới có tiềm năng lật đổ chính phủ. Một triệu dân di cư từ miền Bắc đã làm tăng dân số miền Nam lên ít nhất 10% chỉ qua đêm, đang chờ được tái định cư tại miền Nam.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét