Thứ Hai, 18 tháng 10, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (GENÈVE 1954)

Tác giả: Francois Joyaux
Bản dịch của NXB Thông Tin Lý Luận

Kỳ 5 (Tiếp theo)

Hiện đại hóa nền kinh tế
Trong lĩnh vực nền kinh tế, con đường trải qua kể từ khi cộng sản lên cầm quyền cũng là đáng kể. Dù cho người ta có đề cập đến vấn đề thông qua lĩnh vực nông nghiệp thu hút 85% số dân, các cơ sở hạ tầng, lĩnh vực công nghiệp mới thành hình, hoặc lĩnh vực tài chính công cộng thì cũng không chối cãi được rằng đến mùa xuân 1954 chế độ mới đã phục hồi được nền kinh tế quốc dân. Chắc chắn là đã phạm phải những sai lầm, có những mục tiêu không đạt được nhưng những thiếu sót đó không thể che lấp được mặt chủ yếu là Trung Quốc từ nay có một nền sản xuất chưa cao lắm nhưng đang tiến triển, ít nhất là về số lượng.


Trong nông thôn, cuộc cải cách ruộng đất gần hoàn thành. Năm 1952, hầu như tất cả các mức sản xuất cao nhất trước cách mạng đã được đuổi kịp. Nhất là, theo thống kê chính thức, sản lượng ngũ cốc từ 108,1 triệu tấn năm 194916 đã tăng lên 154,4 triệu tấn năm 1952 và 156,9 triệu tấn năm 1953. Mức tăng như vậy không phải là thấp. Tuy nhiên, sản lượng đạt được còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, như Đặng Tử Khôi phụ trách về [40] nông nghiệp đã thừa nhận. Năm 1953,

Bảng 1


nhu cầu về ngũ cốc của Trung Quốc là 275 hoặc 300 triệu tấn17. Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều ngành đã vượt qua sản lượng cao nhất trước cách mạng. Nói riêng về than năm 1955 đạt 69 triệu tấn vượt năm 1942; về thép với 1,7 triệu tấn, đã nhiều hơn gần 2 lần năm 1943, về bông với 107 triệu tấm vải, đã vượt hơn 2 lần năm 193618. [41]

Bảng 2


Tổng quát lại, so với năm 1949, sản lượng công nghiệp năm 1953 tăng gấp 3 lần, còn sản lượng nông nghiệp tăng 53%19.

J. Guillermaz ghi nhận như sau:
“Cuối 1952, theo nguồn tin chính thức mặc dù có nhược điểm và sai lầm trong xây dựng cơ bản - chỉ thực hiện được 85% kế hoạch - có nhiều kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực: cải cách ruộng đất gần hoàn thành, công nghiệp đã triển khai, vận tải đã phục hồi và phát triển, ngân sách cân đối, đồng tiền ổn định. Tất cả các ngành đều đạt mức thống kê cao nhất trước chiến tranh. Việc chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, viện trợ quan trọng của người Nga [42] mà giá phải trả là đắt nhưng cần thiết, sẽ làm cho chế độ mới vừa đi vào kỷ nguyên kế hoạch hóa, vừa đi vào tập thể hóa, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội có thể bắt đầu20.

Quả vậy, từ tháng 11/1953, Ủy ban kế hoạch đã thành lập, trực thuộc Hội đồng Chính phủ21 và từ đầu 1953 đưa ra về mặt lý thuyết kế hoạch 5 năm đầu tiên. Vậy mà việc lãnh đạo Ủy ban kế hoạch lại đã giao cho Cao Cương, người còn cầm vận mệnh khu đông bắc Trung Quốc là nơi chiếm phần chủ yếu

Bảng 3

trong tiềm lực công nghiệp của đất nước. Những cuộc đả kích đánh vào nhân vật quan trọng này bắt đầu năm 1953 vì những hoạt động chống Đảng của ông ta và sau đó việc hạ bệ vào tháng 2/195422 cũng đã làm xáo động mạnh mẽ việc xây dựng kế hoạch23. Thêm vào những thiếu sót trong bộ máy thống kê, việc thiếu những cán bộ kỹ thuật kinh tế trong ê-kíp lãnh đạo và việc Liên Xô chậm xác định ý đồ việc trợ cho Trung Quốc, những khó khăn về chính trị nói trên, đã làm chậm trễ rất nhiều công việc nghiên cứu cần thiết phải có trước để thực sự kế hoạch hóa. Thực thế, đến đầu năm 1955 những mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mới được quyết định một cách chính xác tức là chậm hai năm kể từ lúc chính thức đề ra kế hoạch và đến tháng bảy năm đó, Quốc hội mới thông qua. Lý Phú Xuân [Li Fuchun/ 李富春], người thay thế Cao Cương đã đưa ra những lý do của tình hình chậm trễ đó:
“… Điều đó được giải thích là ở chỗ các điều tra nghiên cứu các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta chưa đẩy mạnh, chúng ta có ít số liệu thống kê, chúng ta lại có nhiều thành phần kinh tế khác nhau cung tồn tại, chúng ta thiếu kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch dài hạn. Chúng ta lại chỉ có kinh nghiệm vụn vặt rất không hoàn chỉnh trong công tác xây dựng”24. [44]

Tháng 4/1954 khi hội nghị Genève khai mạc, công tác kế hoạch hóa của Trung Quốc mới ở giai đoạn đề ra những ý định hơn là giai đoạn thực hiện. Nhưng nếu những mục tiêu bằng con số chưa được ấn định thì đường lối chủ đạo đã được đề ra. Chính vì vậy, Đổng Tất Vũ [Dong Biwu/董必武] chẳng hạn là người đứng đầu Ủy ban công tác chính trị và pháp luật đã trình bày trong một bài báo đăng trên tờ Pravda ngày 1/1 như sau:

“Chúng ta đều biết, việc xây dựng nền công nghiệp nhất là công nghiệp nặng đòi hỏi một số vốn khổng lồ. Theo lời dạy của Lenin và Stalin và theo kinh nghiệm của Liên Xô chỉ có được công nghiệp bằng cách tiết kiệm và tích lũy xã hội chủ nghĩa”25.

Chính vì vậy mà những người phụ trách kinh tế đã quyết định dành ưu tiên tuyệt đối cho việc phát triển công nghiệp nặng, vì chỉ có công nghiệp nặng mới có khả năng phát động quá trình tích lũy về sự phát triển. Chính là để cung cấp một phần về tài chính cho việc phát triển công nghiệp nặng mà tháng 1/1954 đã phát hành công trái 6.000 tỷ Nhân dân tệ [人民币/rénmínbì] (cũ) hạn 8 năm, lãi suất mỗi năm 4%. Ở phương Tây, người ta cũng đã biết được ý định của Trung Quốc là ráo riết công nghiệp hóa theo mô hình Liên Xô. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao (Pháp) tháng 3/1954 nhắc đến rõ ràng: “Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tập hợp lực lượng chủ chốt của đất nước để hướng vào mục đích chủ yếu không phải là duy [45] nhất, hiện nay được tóm tắt thành ba chữ: “công nghiệp hóa”26.

Cũng như kế hoạch hóa, việc tập thể hóa (nông nghiệp) mới ở bước đầu. Đúng như vậy, từ tháng 12/1951, trong lúc cuộc cải cách ruộng đất đang tiếp diễn, Ban chấp hành trung ương đã khởi thảo dự thảo quyết định về tương trợ và hợp tác. Đến tháng 2/1953 mới phổ biến dự thảo này27. Nhưng mục tiêu của những biện pháp ban đầu đó còn hạn chế: mới chỉ là thúc đẩy việc thành lập các tổ tương trợ ở nông thôn, một số có tính chất tạm thời, một số khác hoạt động thường xuyên. Năm 1954, khoảng một nửa tổng số nông hộ đã được tổ chức theo cách trên.

Giai đoạn sau này mới là tập thể hóa thực sự, nghĩa là thành lập các hợp tác xã nửa xã hội chủ nghĩa và hoàn toàn xã hội chủ nghĩa nhiều khi từ các tổ tương trợ phát triển lên. Từ 1952-1953 một vài địa phương đã tổ chức làm thử để rút kinh nghiệm nhưng phong trào chỉ thực sự phát động kể từ ngày 16/12/1953, cùng với việc Ban chấp hàng trung ương thông qua “Quyết định phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp” và đem công bố ngày 8/1 sau đó28. [46]

Tuy nhiên, vào mùa xuân 1954, chính sách tập thể hóa hãy còn chưa đi vào giai đoạn thực hiện tích cực29.

Như vậy có nghĩa là về mặt này cũng như về kế hoạch hóa, tình hình không rõ ràng mấy. Về nguyên tắc, những người lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng nước Trung Hoa từ nay kiên quyết đi vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng thực ra một phần khá lớn nền kinh tế quốc dân còn được quản lý giống như khi còn ở thời kỳ quá độ tức là với khá nhiều tính chất thực dụng.

Vả lại, phải thừa nhận rằng đến đầu năm 1954, việc trợ của Liên Xô (và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu) dành cho Trung Quốc còn khá hạn chế30. Chắc chắn là tiếp sau đó, nhất là sau khi ký các hiệp định giữa Bắc Kinh và Moskva ngày 12/10/195431, sự tham gia của Liên Xô vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất trở nên lớn lao hơn. Không những Liên Xô cung cấp một phần quan trọng về tài chính mà cả chuyên gia, cơ sở kỹ thuật cần thiết cho việc xây dựng nền công nghiệp Trung Quốc. Nhưng đến mùa xuân 1954, viện trợ kinh tế của Liên Xô hãy còn [47] ít. Yếu tố chủ yếu của viện trợ này là hiệp định ký ngày 14/2/1950 ở Moskva32, theo đó Liên Xô đã cho Trung Quốc vay 300 triệu US$ để mua thiết bị công nghiệp của Liên Xô. Khoản vay này, lãi suất hằng năm 1%, đem sử dụng trong 5 năm mỗi năm 60 triệu. Như vậy đến năm 1954 số tiền vay đã sử dụng gần hết và từ nay Trung Quốc đã phải bắt đầu trả nợ dưới hình thức giao nguyên liệu và thực phẩm, giải ra trong mười năm (từ năm 1954 đến 1963) và theo giá thị trường thế giới. Đúng là giữa 1950 và 1954, nhiều hiệp định khác về hợp tác kinh tế và kỹ thuật được ký kết giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhất là vào tháng 3 và tháng 9/1953 hai bên ký văn kiện về việc Liên Xô giúp xây dựng 91 “dự án lớn” mới, nhưng phần lớn các hiệp định đều là thứ yếu so với hiệp định ký tháng 2/195033.

Các giới ngoại giao phương Tây đã đánh giá khá đúng về những sự lựa chọn chủ yếu của kế hoạch 5 năm và những vấn đề đặt ra khi bắt đầu triển khai. Những thiết sót trong sản xuất nông nghiệp được mọi người biết đến và được coi như một trong những yếu tố chủ yếu của tình hình kinh tế Trung Quốc. Một vài tác giả không do dự nói đến nạn đói và thậm chí xem đó là một trong những lý do có thể đưa đến cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ34.

Ngoài ra, người ta biết rằng chế độ mới đã quyết định dành phần lớn phương tiện của mình vào [48] việc công nghiệp hóa đất nước. W. Rostow viết: “Thực chất mô hình cộng sản Trung Quốc nằm trong những mô hình chủ trương phát triển công nghiệp dựa vào sự phát triển của nông nghiệp”35. Tóm lại, Trung Quốc theo hoàn toàn mô hình Stalin về xây dựng chủ nghĩa xã hội36. Vậy mà, đã không thể bảo đảm đủ lương thực cho nhân dân và còn phải cung cấp phần dư thừa có thể xuất khẩu để bù đắp cho nhu cầu nhập khẩu thông thường, nông nghiệp chắc chắn là không thể là nguồn cung cấp quan trọng về tài chính cho công nghiệp”37.

Về phần Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu thì chính các nước này cũng phải đối phó với những vấn đề kinh tế nghiêm trọng; theo các nhà quan sát phương Tây, thì họ tỏ ra không đủ sức “cung cấp cho Trung Quốc khối lượng viện trợ cần thiết để triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”38. Phải chăng như thế là đã gợi ý rằng xét cho cùng, công nghiệp hóa của Trung Quốc chỉ có thể đi qua con đường mở cửa ra phương Tây? Quả vậy, rõ ràng rằng tình hình kinh tế Trung Quốc năm 1954 như đã được phân tích ở phương Tây, thúc giục Chính phủ Bắc Kinh phải phát triển bằng mọi cách nền ngoại thương với các nước không phải là xã hội chủ nghĩa39. Đó cũng là lập trường của Bộ Ngoại giao (Pháp). [49]

“Muốn đạt được quy chế cường quốc, Trung Hoa phải có cố gắng khổng lồ trong những năm tới để công nghiệp hóa, Trung Hoa chỉ làm được như vậy bằng cách nhập khẩu ồ ạt sắt, thép và thiết bị các loại của các nước tư bản chủ nghĩa. Vậy mà nông nghiệp Trung Quốc lúc này đang ở trong tình thế khó khăn, do các biện pháp tập thể hóa được quyết định hơi hấp tấp nhằm mục đích thuần túy chính trị. Dù thế nào nữa, vì sản phẩm dư thừa có thể xuất khẩu quá ít, hệ thống trao đổi hàng nông sản và chăn nuôi lấy sản phẩm công nghiệp hoàn toàn không thích nghi với nhu cầu hiện đại. Vậy Trung Hoa có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ quốc tế bình thường với các nước phương Tây để có thể, nhờ các khoản vay dài hạn, mua của các nước đó, tất cả những thứ cần thiết cho việc xây dựng nền công nghiệp của mình”40.

Đúng là báo chí Trung Quốc, nhất là từ lúc ký kết đình chiến Triều Tiên, luôn luôn cổ vũ việc bình thường hóa quan hệ thương mại với tất cả các nước trên thế giới. Xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 3/9/1953, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 8 cuộc bại trận, của Nhật, trong khi chào mừng “tương lai tươi sáng của các dân tộc châu Á” đảm bảo rằng ngoài những hậu quả khác, đình chiến Triều Tiên phải đem lại “việc phục hồi và phát triển mối quan hệ bình thường và quan hệ kinh tế giữa các nước châu Á, nhất là giữa Nhật Bản và các nước khác”41. Những hiệp định đầu tiên ký kết với các nước trung lập hoặc phương Tây đã được hoan nghênh nhiệt liệt nhất. Trong xã luận của báo People’s China, Kha Bái Niên (Ko Painien), Ủy viên ban lãnh đạo Viện quan hệ với nước [50] ngoài, thành viên của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Genève, khi nhắc lại rằng Trung Quốc “mong muốn phát triển quan hệ buôn bán với tất cả các nước trên thế giới”, còn nói rõ: “nước Trung Hoa không có định kiến với bất kỳ nước tư bản chủ nghĩa nào muốn phát triển quan hệ buôn bàn trên cơ sở bình đẳng và hai bên đều có lợi”42. Và “những lời kêu gọi” đó thường nhằm vào Nhật Bản43.

Như vậy, vào lúc sắp họp hội nghị Genève, các cường quốc phương Tây đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế mà Trung Quốc buộc phải nghĩ tới có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Chính phủ Bắc Kinh. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao (Pháp) nói ở trên đã kết luận là “được phép nghĩ rằng các vấn đề kinh tế đó sẽ ở đằng sau các mối quan tâm của Trung Quốc mặc dù những nhà thương thượng phương Tây có quyền từ chối cuộc thảo luận, những vấn đề đó sẽ vẫn có khả năng là đề tài của một sự mặc cả ngầm”44. Nếu thật sự nước Trung Hoa có nhu cầu [51] tăng cường trao đổi với phương Tây, thì lợi ích của họ là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông Dương, một vấn đề mà không khí chính trị căng thẳng do Trung Quốc kéo dài ở Đông Á đã gây trở ngại cho việc chấm dứt việc cấm buôn bán đề ra từ năm 195145.

(Còn tiếp)

_________________________

16 Xem bảng 1. Năm 1949 đúng là một năm thu hoạch đặc biệt kém. Về sản lượng nông nghiệp và công nghiệp năm 1952-1953, xem thống kê chính thức của Trung Quốc, nhưng chắc chắn số liệu cần được phê phán.
17 Nhân dân nhật báo, 23/9/1953, J. Guillermaz trích dẫn. Xem J. Guillermaz, sđd, tr. 38.
18 Xem bảng II. Những năm để tham chiếu là những năm có sản lượng cao nhất trước cách mạng.
19 Xem bảng III, tiếp theo.
20 J. Guillermaz, sđd, tr. 45.
21 Ủy ban này thay thế Ủy ban Kinh tế và Tài chính trực thuộc Hội đồng Quốc vụ viện.
* Trong nguyên bản, tác giả chua chữ (SIC) có nghĩa là theo nguyên văn như thế, nhưng hơi lạ vì con số quá nhỏ.
22 Xem đoạn trước.
23 Việc quản lý kế hoạch chỉ được cải tổ lại từ cuối năm 1954 khi thành lập nhiều cơ quan mới. Vào lúc này, Lý Phú Xuân vốn là Phó chủ nhiệm nay lên làm Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch.
24 Lý Phú Xuân: Báo cáo về kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về phát triển kinh tế quốc dân của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1953-1957, Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1956, tr. 7.
25 Đổng Tất Vũ: Nhân dân Trung Quốc đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội, Pravda, 1/1/1954, J. Guillermaz trích trong sđd, tr. 91.
26 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á - châu Đại Dương 30/3/1954). Bản ghi nhớ về vấn đề “Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Genève”.
27 J. Guillermaz, sđd, tr. 96.
28 Xem “Hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc - Quyết định về việc phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp” do Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc thông qua ngày 16/12/1953 Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1954. Cũng xem bản tin Tân Hoa xã 8/1/1954. Quyết định của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc về việc phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.
29 Tháng 12/1953, Ban chấp hành trung ương quyết định thành lập 45.000 hợp tác xã trong năm 1954, nhưng từ tháng 3/1954 có tin đã lập xong 90.000 hợp tác xã (mục tiêu cho năm 1957 là 800.000 hợp tác xã). Xem W. Rostow sđd, tr. 94 và chú thích 13, tr. 98.
30 Về quan hệ giữa Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa vào khoảng năm 1954, xem trang sau.
31 Đặc biệt, một hiệp định vay nợ 520 triệu rub (khoảng 130 triệu US$). Xem Douglas M. Johnston and Hungdah Chiu: Agreements of the People's Republic of China, 1949-1967: a calendar (Những hiệp định của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) Harvard University press Cambridge (Mass) 1968 trang 30, 31.
32 Xem Hiệp ước Xô–Trung, ngày 14/2/1950, People’s China 1/3/1950.
33 Về vấn đề này, tham khảo Sydney Klein, The Road Divides: Economic Aspects of the Sino-Soviet Dispute (con đường chia rẽ. Khía cạnh kinh tế của cuộc tranh chấp Trung – Xô). Hongkong 1966, tr. 45-85.
34 W. Rostow, sđd tr. 294 và 303.
35 Như trên, tr. 257.
36 Như trên, tr. 256.
37 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á – châu Đại Dương 30/3/1954). Bản ghi nhớ về những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Genève.
38 Như trên, cũng xem W. Rostow, sđd, tr. 276.
39 W. Rostow, sđd tr. 272 và 302.
40 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giap Pháp (châu Á – châu Đại Dương 13/3/1954). Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Genève (Tác giả gạch dưới).
41 Nhân dân nhật báo 3/9/1953.
42 People’s China 1/10/1953, tr. 16-17. Về yêu cầu kinh tế của Trung Quốc và về ý muốn thương lượng, xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/ Điện số 9 Tùy viên quân sự/ Hongkong/ 8/3/1954; - Cao ủy Pháp tại Đông Dương/ Tổng cục tư liệu/ Bản ghi nhớ về vấn đề “Hòa bình ở Đông Dương”/ số 467/22/3/1954 (châu Á–châu Đại Dương 12/3/1954). Bản ghi nhớ về Hội nghị Genève; Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (Bản ghi nhớ J. Chauven 9/4/1954). Về vấn đề Hội nghị Genève.
43 Nhân dân Nhật báo “quan hệ Trung Quốc – Nhật” 30/10/1953.
44 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp 13/3/1954. Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Genève. Hai mươi năm sau, đại sứ J. Chauven viết rằng năm 1954 nước Pháp không có lý do để nghĩ rằng Bắc Kinh có thể nhân nhượng những nguyên tắc của mình để có được đầu máy xe lửa thậm chí những khoản vay dài hạn. Xem sđd của J. Chauven, tr. 41. Tuy vậy vào lúc bấy giờ, đó không phải là một ý kiến được chấp nhận rộng rãi.
45 W. Rostow. Sđd tr. 95 Về cấm vận do Liên hợp quốc quyết định năm 1951, xem đoạn sau. Vấn đề đàm phán thương mại giữa Trung Quốc và phương Tây diễn ra trong thời gian hội nghị Genève sẽ được nghiên cứu ở chương V.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét