Thứ Sáu, 15 tháng 10, 2010

TRUNG QUỐC VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (Genève 1954)

Tác giả: Francois Joyaux
Bản dịch của Nxb Thông Tin Lý Luận

Kỳ 4 (Tiếp theo)

Phần thứ nhất
Tự khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế [31]

Chương I
NHỮNG NHU CẦU CỦA TÌNH HÌNH VÀ SỨC NẶNG CỦA QUÁ KHỨ
NƯỚC CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG HOA VÀO MÙA XUÂN 1954

Khi hội nghị Genève khai mạc, vào tháng tư năm 1954, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mới chỉ được bốn năm rưỡi1. Thời gian khá ngắn đối với một chế độ phải quản lý gần 600 triệu dân trên một lãnh thổ rộng gần 10 triệu km vuông bị tàn phá hầu hết sau nhiều năm nội chiến và chiến tranh với bên ngoài. Tuy nhiên dù phải vượt qua những trở ngại lớn lao, quãng đường đã đi là khả quan. Từ nay, Nhà nước mới đã yên vị vững chãi [33], những thế lực đối lập trực tiếp nguy hiểm nhất đã bị thanh toán, trật tự được xếp đặt khắp nơi, nền kinh tế đang trong quá trình phục hồi.


Sức mạnh của chế độ
Người có công xây dựng công trình vĩ đại đó là Đảng cộng sản Trung Quốc qua hai mươi tám năm đấu tranh đã thu thập được kinh nghiệm bậc nhất về chính trị, quân sự và hành chính. Có tới 7-8 triệu đảng viên, những năm 1950-1954, Đảng bị tầm vóc của người đứng đầu, chủ tịch Mao Trạch Đông [毛泽东/Máo Zédōng] hoàn toàn chế ngự, thậm chí đè bẹp. Họ Mao đã dần dần tự đặt mình lên địa vị lãnh đạo tối cao. Và để đạt tới đó, đã phải loại trừ mọi đối thủ trong nước cũng như trong phong trào cộng sản quốc tế. Thành tựu năm 1945 và thắng lợi năm 1949 còn làm nổi bật “thiên tài đặc biệt” của người lãnh đạo. Ngay dù có một số người phải chịu nhận nó một cách dè dặt, quyền lực cá nhân của Chủ tịch Ban chấp hành trung ương vẫn không thấp hơn quyền hạn chủ yếu của Đảng. Hơn bao giờ hết, Mao Trạch Đông là tượng trưng cho sự thống nhất trong đảng và đường lối đúng đắn do Đại hội lần thứ VII họp năm 1945 đề ra. Vả lại văn kiện của Đại hội này, đặc biệt là điều lệ Đảng, nói đến “tư tưởng Mao Trạch Đông”, đến năm 1954 vẫn còn có hiệu lực2.

Chắc chắn rằng, trong thời gian sắp đến hội nghị Genève, sự thống nhất trong đảng bị lung lay. Đúng như vậy, vụ Cao Cương [Gao Gang/高岗] - Nhiêu Thấu Thạch [Rao Shushi/饶漱石] xảy ra vào mùa xuân 1954 nhắc nhở rằng trong đảng [34] vẫn còn tồn tại một sự đối lập nào đó3. Người thứ nhất trong hai nhân vật đó, nguyên là một trong các phó chủ tịch Chính phủ từ 1949, và từ 1952 là Chủ nhiệm Ủy ban kế hoạch, đến năm 1953 đã bị vào tội âm mưu cướp quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Còn người thứ hai, Nhiêu Thấu Thạch đã là một trong những người lãnh đạo quan trọng vùng Thượng Hải và từ 1953 là Trưởng ban Ban tổ chức của Ban chấp hành trung ương đã bị quy kết ngay trong năm đó là hữu khuynh và câu kết với Cao Cương. Cả hai người đó bị kết án trong những điều kiện đến nay còn chưa rõ ràng về những hoạt động “chống Đảng” tại hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành trung ương khóa VII (6-10/2/1954). Việc họ bị hạ bệ kéo theo một số người phụ trách cao cấp khác. Vụ Cao-Nhiêu, năm sau (tháng 3/1955) mới được công bố, là một sự việc đầu tiên làm rung chuyển Đảng cộng sản kể từ khi cầm quyền. Sự việc đó không đe dọa căn bản sự thống nhất trong Đảng, tuy nhiên, nó đã phản ánh sự bất đồng của một số người lãnh đạo đối với đường lối chính trị phải tuân theo trong những ngành khác (đồng thời cũng phản ánh những sự tranh giành quyền lực cá nhân đã chia rẽ nhiều người trong bọn họ)4.

Quân đội Giải phóng nhân dân, về phía mình, là một công cụ tin cậy và đông nhất. Với quân số trên [35] hai triệu người, quân đội đó được cải tổ sâu sắc. Việc hiện đại hóa nhanh chóng (dù chỉ từng phần) trong chiến tranh Triều Tiên thể hiện không những trong việc trang bị hoàn hảo hơn, mà còn trong việc cải tiến tổ chức và chỉ huy5. Kinh nghiệm cách mạng không còn đủ với người sĩ quan hiện đại. Từ nay cần được huấn luyện kỹ thuật, chuyên môn hóa, theo chiều sâu, như một bài xã luận tờ Nhân dân nhật báo tháng 7/19546 đã nhấn mạnh. Người ta đã hướng vào việc thành lập đội ngũ sĩ quan nhà nghề, một năm sau được xác nhận bằng quy định ngày 8/2/19557. Song song với việc đó, chế độ tình nguyện, đến lúc đó là quy tắc tuyển quân dần dần được thay thế bằng chế độ đăng ký nghĩa vụ được chấp nhận về nguyên tắc từ 19498. Tháng 3/1953 đã thành lập Ủy ban nghiên cứu luật nghĩa vụ quân sự và năm 1954, một năm trước khi Quốc hội chính thức thông qua (ngày 30/7/1955) quân đội bắt đầu gọi nhập ngũ qua chế độ đăng ký nghĩa vụ9.

Tóm lại, có nghĩa là năm 1953-1954, quân đội thật sự trở thành một tổ chức độc lập, vừa bằng chế độ tuyển quân, vừa bằng cơ cấu tổ chức. Tuy tách khỏi tổ chức Đảng như vậy, quân đội vẫn phải triệt để [36] phục tùng Đảng. Vả lại, từ hai năm nay, vai trò chính trị và hành pháp của quân nhân đã dần dần giảm đi: Chính là ở các tỉnh, những trách nhiệm dân sự và quân sự đã chính thức tách biệt nhau từ tháng 11/1952. Ngay cả trong một số trường hợp, ủy ban quân sự của Đảng hãy còn đóng vai trò quan trọng, quân đội Giải phóng nhân dân năm 1954 không còn chút nào là một nhóm để gây sức ép nhằm bảo vệ, bên trong hoặc bên ngoài, đường lối chính trị riêng biệt này hay đường lối chính trị riêng biệt khác. Đây là một điểm không phải là không bổ ích để phân tích thái độ của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng Đông Dương.

Về mặt các thể chế chính trị, thời kỳ chuyển tiếp đã qua. Một ủy ban hiến pháp, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông, đã được thành lập tháng 1/1953; tháng rưỡi sau đó, ngày 1/3, một đạo luật tuyển cử đã được thông qua, dự kiến một hệ thống bầu cử gián tiếp để chọn đại biểu vào Quốc hội tương lai. Ngay trong năm đó, các cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên để bầu các hội đồng địa phương đã được tổ chức và đến 1954 được kết thúc bằng các cuộc bầu cử Quốc hội. Vả lại, chính nhằm chuẩn bị bầu cử đã tiến hành cuộc điều tra dân số đầu tiên ngày 30/6/1953. Vào ngày đó Trung Hoa lục địa có 582 triệu dân.

Trong khi các hoạt động bầu cử tiếp diễn ở nhiều cấp và nhiều vùng khác nhau, dự thảo Hiến pháp đầu tiên do Ban chấp hành trung ương Đảng đưa ra, đã được Ủy ban hiến pháp chấp nhận tháng 3/195410 [37].
Được đem ra thảo luận trong số cán bộ cao cấp nhất trong hai tháng, bản dự thảo cuối cùng đã sửa đổi lại, được đem công bố ngày 14/6/1954, một ngày trước khi hội nghị Genève về Triều Tiên tan vỡ. Điều đó có nghĩa là khi hội nghị này khai mạc ngày 26/4 thì việc định ra các thể chế mới đã tiến khá xa. Giai đoạn chủ yếu - Đảng khởi thảo dự thảo Hiến pháp - đã vượt qua và ngay dù về hình thức văn bản chưa được Quốc hội thông qua, vào mùa xuân 1954, Trung Quốc về phương diện lập hiến đã là một nước ở vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Về mặt chính trị, việc phân tích kỹ càng tình hình Trung Quốc đem lại ấn tượng về một Đảng rất đoàn kết, nhất trí xung quanh Chủ tịch Mao Trạch Đông và về một chế độ từ nay hoàn toàn ổn định. Đó là kết luận của Walt W. Rostow lúc bấy giờ là chủ nhiệm của “Dự án về Trung Quốc” tại Trung tâm nghiên cứu quốc tế trường Đại học kỹ thuật Massachusetts [MIT] (Mỹ) trong cuốn sách nhan đề Triển vọng của Trung Hoa cộng sản xuất bản tháng 8/1954: “Công việc này (xem xét tình hình Trung Quốc giữa năm 1954) làm chúng ta suy nghĩ rằng mặc dù có sự bất mãn quan trọng nhưng vô tổ chức về chính trị của quần chúng, địa vị hiện thời của chế độ cộng sản Trung Quốc ở lục địa Trung Hoa đã được đảm bảo về đối nội, do có sự đoàn kết và các công cụ kiểm soát”11. Hoặc một đánh giá khác nữa cũng của chuyên gia đó: “Kết luận chung của chúng tôi (…) là ê-kíp lãnh đạo ở Bắc Kinh hiện nay có sức mạnh đoàn [38] kết của một cường quốc hiếm có và cả duy nhất nữa trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản. Sự đoàn kết đó tập trung vào con người của Mao”12. Cuối cùng, ông ta viết về quân đội: “Ngoài ra, chừng nào Mao còn giữ được quyền kiểm soát, thì không chắc rằng quân đội thừa nhận và ủng hộ một lập trường chính trị nào độc lập với các cấp cao nhất trong chính phủ”13. Với câu, chữ kém câu nệ hơn, người ta báo cáo về Bộ Ngoại giao (Pháp): “Không nên hi vọng chế độ độc tài chuyên chế sẽ sụp đổ, một nền độc tài thiết lập bằng cuộc chinh phục quân sự năm 1949, các bộ máy cảnh sát hùng hậu và vũ trang tốt, có thể đàn áp mọi mưu toan nổi dậy”14.

Ngay cả đôi khi cách đánh giá tuyệt đối đó không phản ảnh đúng tình hình thực tế15. Rõ ràng là cho đến [39] trước hội nghị Genève, sức mạnh và sự đồng nhất của chế độ mới ở Trung Quốc không còn là điều phải hoài nghi nữa.

(Còn tiếp)

_______________________________
1 Về lịch sử 4 năm này, xin tham khảo cuốn sách tiếng Pháp của Jacques Guillermaz: Le Parti Communiste chinois au Pouvoir 1949-1972 (Đảng cộng sản Trung Quốc cầm chính quyền 1949-1972) Paris, Payot, 1972, tr.13-19. Về tiếng Anh có [các] cuốn của A. Doak Barnett: Communist China: The Early year 1949-1955 (Trung Hoa cộng sản những năm gần đây 1949-1955) New York, Praeger 1964; của Richard L. Walker: China under Communism – The fisrt five years (Trung Hoa dưới chế độ cộng sản 5 năm đầu tiên) New Haven, Yale University press, 1955, XV. Về các sách khác nói đến thời kỳ này hoặc trong thời kỳ này, xin xem thư mục sách tham khảo.
2 Đến năm 1956, Đảng cộng sản Trung Quốc mới đưa ra Điều lệ mới.
3 J. Guillermaz, sđd, tr. 105-111.
4 Chúng tôi nói thêm rằng vụ Cao Cương gắn liền với những khó khăn trong quan hệ Trung-Xô. Năm 1956, Trạch Đông dùng luận điệu “gián điệp cho nước ngoài’ là có ý ám chỉ Liên Xô. Xem Tuyển tập Mao Trạch Đông, tập 5 (tiếng Pháp) tr. 368.
5 Xem Ellis Joffe: Party and Army: Professionalism and Political Control in the Chinese officer Corps 1949-1964 (Đảng và quân đội, chế độ chuyên nghiệp và kiểm tra chính trị trong đội ngũ sĩ quan Trung Quốc) Cambridge (Mass). University press, 1965, tr.1-45.
6 Nhân dân nhật báo (xã luận), 24/7/1954.
7 Xem: Quy định về chế độ công tác của sĩ quan quân đội Giải phóng nhân dân, tin Tân Hoa xã (tiếng Pháp) 9/2/1955.
8 Điều 8, Cương lĩnh chung Hội nghị chính trị hiệp thương.
9 E. Joffe, sđd, tr. 38-39.
10 Về vấn đề này, xem Report on the Draft Constitution of the People’s Republic of China (Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1954.
11 W. Rostow và những người khác: The Prospects for Communist China (Tương lai của nước Trung Hoa cộng sản) Cambridge Technology Press of Massachussetts Institute of Technology, 1954, tr. 311.
12 Như trên, tr.131.
13 Như trên, tr.134.
14 Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại Dương) 13/3/1954. Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Genève. Cùng một ý kiến trong cuốn The China Problem and U.S. Policy (Vấn đề Trung Quốc và chính sách của Mỹ) Department of State Publication 5460 Far Eastern Series 64, tháng 5/1954, tr. 4 (bài của Edwin W. Martin, Phó vụ trưởng, Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao Mỹ).
15 Bộ Ngoại giao Pháp thắc mắc về sự thay đổi một vài thành viên Chính phủ Bắc Kinh tháng 9/1953. Đặng Tiểu Bình thay Bạc Nhất Ba làm Bộ trưởng Bộ tài chính, xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (Châu Á – Châu Đại Dương ngày 15/10/1953) Bản ghi nhớ về Trung Quốc. Ngoài ra, phân tích bài diễn văn của Trần Vân ngày 5/3/1954 có một chú thích như sau: “Nội dung bao hàm sự tồn tại một nhóm cơ hội trong Đảng cộng sản Trung Quốc đối lập với Moskva”. (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại Dương) 12/3/1954. Bản ghi nhớ về Hội nghị Genève. Ngoài ra, việc Cao Cương không xuất hiện trước công chúng đã được chú ý (Nói chuyện với J. Guillermaz, 14/3/1954). Ngược lại, một bài xã luận báo Economist ngày 19/6/1954 nhan đề “The men at the Top” (Những người ở tột đỉnh) còn nhấn mạnh thế mạnh của Cao Cương ở Mãn Châu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét