Chủ Nhật, 24 tháng 10, 2010

NỖI KHIẾP SỢ NOBEL

Giải Nobel Hòa bình không chỉ vinh danh các cá nhân được trao giải mà còn làm rạng danh cho quốc gia của họ. Có lẽ chỉ Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới tỏ thái độ hằn học, hoảng sợ trước giải Nobel Hòa bình được trao cho công dân của nước họ: ông Lưu Hiểu Ba.

Để thấy rõ hơn thái độ vô lý của nhà cầm quyền Trung Quốc, chúng ta hãy tìm hiểu một chút về giải Nobel Hòa bình. Giải Nobel Hòa bình là một trong 6 giải Nobel danh giá nhất thế giới trong các lĩnh vực: Hòa Bình, Vật lý, Hóa học, Y học, Văn học và Kinh tế. Một trăm năm lịch sử giải Nobel, chưa bao giờ Trung Quốc, một quốc gia rộng lớn, đông dân nhất thế giới có được vinh dự lớn lao này trừ hai người là Đức Đạt Lai Lạt Ma, thủ lĩnh tinh thần Tây Tạng và Lưu Hiểu Ba. Đức Đạt Lai Lạt Ma được Ủy ban Nobel Hòa bình Na Uy trao giải năm 1989 để vinh danh người đã đấu tranh đòi dân chủ, tự do với nhà cầm quyền Trung Quốc. Theo công trình nghiên cứu của Giáo sư Eric Sharp thuộc đại học Sydney, thế kỷ 20 có 3 Thánh nhân Á châu là Ra bin dranath Tagore, Mahatma Gandhi và người thứ ba chính là vị Lạt Ma thứ 14 này. Và vừa qua, Lưu Hiểu Ba là một nhà bất đồng chính kiến được vinh danh. Ông là một người lên án chính quyền gây ra vụ thảm sát đẫm máu học sinh, sinh viên Bắc Kinh tại Thiên An Môn. Lưu Hiểu Ba cũng là người đấu tranh bất bạo động và bị chính quyền kết án 11 năm tù vì soạn thảo Hiến chương 08 kêu gọi dân chủ đa đảng và tôn trọng nhân quyền ở Trung Quốc. Hiện nay bà Lưu Hà, vợ ông hiện cũng đang bị chế độ độc tài giam lỏng sau khi đi thăm chồng để báo tin về giải thưởng Nobel năm 2010 được trao cho ông.

Hầu hết nhân dân yêu chuộng Hòa bình, tự do, dân chủ trên toàn thế giới đều biết đến tính chất cao quý, vinh dự và tầm quan trọng của giải Nobel mang lại. Nhưng giải thưởng cũng là một cái tát vào bộ mặt giả nhân giả nghĩa của chính thể hiện nay ở Trung Nam Hải, đe dọa chế độ chính trị hà khắc và lừa mị của họ. Sau vụ bạo động Thiên An Môn và gần đây là Tân Cương, chế độ độc tài Trung Quốc buộc phải đẩy mạnh phát triển kinh tế bất chấp hậu quả tồi tệ trong tương lai, đồng thời lừa mị dân chúng bằng kích động tinh thần đại Hán để cố giữ thể chế độc tôn. Họ tuyên truyền sự rối ren ở Thái Lan bằng cách đổ lỗi cho việc nước này cho phép dân chúng hưởng quá nhiều quyền tự do dân chủ. Nhưng thế kỷ hiện nay là thế giới của Internet thông tin toàn cầu chứ không phải là thế giới của moóc-xơ. Nhân loại không phải là những chú gà gô mà là những người biết lập luận. Họ hiểu rõ việc nổi dậy của nhân dân Đông Âu tự giải phóng mình cũng như các dân tộc khác là kết quả tất yếu của một quá trình đi lên của lịch sử chuyển từ chế độ độc tài chết đói sang một chế độ tự do dân chủ thực sự có bánh mì, áo ấm và công bằng. Các nước dân chủ lâu đời như Thụy Sỹ, Thụy Điển, Anh Quốc, Hoa Kỳ v.v… là những nước giầu mạnh, văn minh và nhân đạo chẳng bao giờ có nổi loạn cả. Tất cả các quốc gia đều yêu hòa bình và tự hào nếu đất nước họ có những cá nhân được tôn vinh bằng giải Nobel. Vậy mà riêng nhà cầm quyền Trung Quốc phản đối một cách hèn hạ giải thưởng lớn lao thế giới dành cho công dân của họ. Hiểu theo một nghĩa khác, Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo đang chống lại Hòa bình thế giới, chống lại loài người.

Lịch sử thế giới đương đại đã lưu danh các bạo chúa Hít le, Sta lin, Pôn pốt, Kim chong In, Mao Trạch Đông. Tội ác diệt chủng, giết người, bức hại cầm tù dân chúng của năm nhà độc tài trong lịch sử cận đại và đương đại này thực tế đã được ghi nhận như những kẻ chống lại hòa bình thế giới và con người. Dù rằng nhân loại không cổ súy cho sự khơi gợi hằn thù nhưng việc lưu trữ tài liệu nghìn năm cho hậu thế như một biểu hiện nhắc nhở nhân loại chớ thờ ơ với tội ác. Tiếng nói của lịch sử, tiếng nói của nhân loại yêu chuộng hòa bình thế kỉ 20, 21 đã làm chùn tay các nhà độc tài khát máu. Chính vì thế, các hành động tội ác man rợ giết hại hàng triệu người như Hít le, Sta lin, Pôn pốt, Mao Trạch Đông đã từng làm không còn tự do hoành hành nữa. Những hành động hiếu chiến đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, ngục tù hóa đất nước bằng bàn tay cảnh sát, mật vụ như Kim chong In ở Bắc Hàn nếu không được các nước tiến bộ trên thế giới ngăn chặn thì không hiểu số phận của 24 triệu dân Triều Tiên và hàng trăm triệu con người trên trái đất sẽ ra sao. Trước đây, ai cũng biết hai quái thai Pôn Pốt và Kim Chong In là do Trung Quốc dựng nên, chỉ huy, nuôi dưỡng nhằm mục đích mượn tay chúng tiêu diệt, khống chế các quốc gia lân bang để phục vụ mưu đồ thôn tính lãnh thổ của họ.

Ngày nay Trung Quốc buộc phải sử dụng chiếc mặt nạ “phát triển hiền hòa” để che giấu phần nào tham vọng xấu xa của họ với thế giới. Chiếc mặt nạ đó là Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo với chính sách Đế quốc mềm. Tuy nhiên, với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhưng thiếu bền vững như hiện nay ở Trung Quốc, sự đói khát tài nguyên đang làm cho tham vọng lãnh thổ của giới cầm quyền trở nên sôi sục hơn bao giờ hết. Việc Trung Quốc hung hãn đòi hỏi chủ quyền tới 80 % lãnh thổ biển Đông là một ví dụ quá rõ ràng cho thấy khi cần, họ sẽ sẵn sàng vứt bỏ chiếc mặt nạ “phát triển hiền hòa” để có các hành động đe dọa và tấn công các quốc gia lân bang bằng bạo lực. Đứng trước nguy cơ này, tất cả nhân dân Việt nam đều mong muốn các nhà lãnh đạo nhà nước tuy cần mềm dẻo với Trung Quốc nhưng hết sức cần thiết tỏ rõ thái độ kiên quyết bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của cha ông đã đổ biết bao máu xương nghìn đời truyền lại cho con cháu hôm nay. Bất kể hành động nào theo đuôi nhà cầm quyền phương Bắc, bán rẻ Tổ Quốc mong vinh thân phì gia như bè lũ Lê Chiêu Thống trong lịch sử trước đây, dù có che đậy kĩ đến đâu cũng sẽ bị nhân dân nghìn đời phỉ nhổ.

Nguồn: Blog Mai Xuân Dũng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét