Thứ Ba, 5 tháng 10, 2010

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST AMERICAN WORLD)

Tác giả: Fareed Zakaria
Người dịch: Lê Quốc Tuấn

Kẻ Thách Thức
Kỳ 6 (Tiếp theo)

Ở Sudan, can dự của Trung quốc còn sâu hơn. Trung quốc đã đầu tư 3 tỉ vào các mỏ dầu ở đấy từ năm 1999. Các công ty Trung quốc là những cổ phần chính trong hai Tổ hợp doanh nghiệp lớn nhất trong quốc gia này, và Trung quốc đã mua đến 65 phần trăm số lượng dầu xuất khẩu của Sudan. Trung quốc duy trì một liên minh quân sự với Sudan bất chấp các hạn chế của LHQ. Trung quốc còn cung cấp vũ khí để cuối cùng lọt vào tay của các lực lượng vũ trang ủng hộ chính phủ ở Darfur. Các giới chức Trung quốc thường xác nhận là họ có ý định cứ giữ phương cách ấy. Khi giải thích về vai trò của đất nước mình, thứ trưởng ngoại giao Trung quốc thẳng thừng nói: "Làm ăn là làm ăn. Chúng tôi cố gắng tách bạch chuyện làm ăn và chính trị. Thứ nữa, tôi nghĩ rằng tình hình bên trong Sudan là những công việc có tính nội bộ và chúng tôi không có vai trò áp đặt điều gì cả".


Nếu Trung quốc là một đấu thủ không quan trọng trên sân khấu quốc tế, sẽ chả có gì phải ầm ĩ về việc họ làm gì ở Zimbabue hay Sudan. Cuba, như tất cả chúng ta đều biết, đã từng có các quan hệ rất sâu sắc với cả hai chính phủ này nhưng chẳng ai thèm đề ý đến. Trái lại, Bắc kinh không thể che giấu khôn ngoan của mình trong bồ lúa được nữa. Lối giải quyết của Trung quốc với những quốc gia này mang đến cho họ một sợi dây an toàn, một tiến triển đến sau, và về lâu dài, sẽ làm sống mãi chu kỳ của những chế độ xấu xa và các mối căng thẳng xã hội gây họa cho lục địa châu Phi. Loại quan hệ này cũng đảm bảo rằng trong khi các chính phủ châu Phi có thể nghĩ tốt về Trung quốc, nhưng dân chúng của họ sẽ có những cái nhìn pha trộn hơn - khi họ đã từng nhìn về các chính phủ Tây phương qua nhiều năm tháng trước.

Bắc kinh đã từng chậm nhận biết được trách nhiệm rộng hơn của mình trong khu vực này, vì lập luận rằng họ không cần phải để ý đến chuyện người khác. Nhưng thực ra, họ đã không thật sự hành động như thế. Bắc kinh thường tự cho thấy mình ý thức khá rõ về sức mạnh của họ. Một nguyên nhân khiến họ chú tâm vào Phi châu là vì lục địa này từng có một danh sách dài gồm những quốc gia từng thân thiện với Đài Loan. Mặc dù bảy trong số hai mươi sáu chính phủ trên thế giới có quan hệ với Đài loan hiện nay là ở Phi châu, sáu quốc gia - gồm South Africa - đã từng chuyển sự công nhận của họ từ Đài Loan sang Bắc Kinh trong thập niên qua nhờ vào các khoản viện trợ sáng suốt.

Trung quốc đã từng khôn ngoan hơn, sử dụng ngoại giao tốt hơn và mềm mỏng hơn ở Á châu, khu vực mà Bắc Kinh đã tận hiến hầu hết công sức, thời gian và chú tâm. Thông qua ngoại giao khôn khéo, họ đã giúp phối soạn một cuộc cách mạng về quan điểm trong suốt hai thập niên qua. Vào những năm 1980, Trung quốc đã ngay cả không có quan hệ với đa số miền Đông Á, kể cả Nam Triều tiên, Indonesia và Singapore. Đến mùa hè năm 2007, họ đã tổ chức cuộc tập trận phối hợp với Hiệp hội ASEAN. Khi được hỏi trong cuộc thăm dò vào năm 2007 ai được tín nhiệm để nắm giữ sức mạnh toàn cầu, những người trả lời trong các quốc gia như Thái Lan và Indonesia, có truyền thống là đồng minh của Hoa Kỳ đã chọn Trung quốc thay vì Hoa Kỳ. Ngay cả ở Úc, quan điểm ưa chuộng Trung quốc cũng ngang ngửa với Hoa Kỳ.

Mãi cho đến gần đây, các ký ức về chính sách ngoại giao cách mạng của Trung quốc - chính sách của những phương kế dùng cộng đồng tỵ nạn Trung quốc để kích động chia rẽ - vẫn kéo dài. Cuộc xâm lăng vào Việt Nam của Trung quốc, phần lãnh thổ họ khẳng định là của mình trong vùng biển phiá Nam Trung quốc, và phần biên giới tranh chấp với Nga và Ấn Độ đã mang đến cho Trung quốc hình ảnh của một người láng giềng gai góc và rắc rối. Tuy nhiên vào cuối những năm 1990, Trung quốc đã theo đuổi một chính sách khu vực rất khác nhau, vốn trở nên đặc biệt rõ ràng từ vai trò có tính xây dựng của họ trong khu vực sau cuộc khủng hoảng Á châu năm 1997. Kể từ đó, Bắc kinh đã trở thành lão luyện trong việc sử dụng sức mạnh kinh tế và chính trị trong một tính cách kiên nhẫn, không gây sôi nổi và có hiệu quả cao. Nền ngoại giao của họ hiện nay chú trọng vào bối cảnh lâu dài, không có tính dạy đời và quyết định chiến lược khiến chính sách này không bị sa lầy bởi các đối kháng trong nội bộ hay sự tê liệt của quan liêu. Họ đã sử dụng đường lối chính trị phù hợp hơn, đã cung cấp các chương trình viện trợ hào phóng (thường là vượt xa những viện trợ mang lại bởi Hoa Kỳ) và di chuyển gia tốc trên những thương vụ giao thương tự do với khối ASEAN. Đã lâu từng tránh né những mối liên hệ đa phương, gần đây họ đã tham dự càng nhiều hơn- ngay cả còn tạo nên những quan hệ đa phương của chính mình, Hội nghị thượng đỉnh Đông Á châu, vốn chủ tâm loại trừ Hoa Kỳ. Trung quốc hiện nay cũng được hoan nghênh chào đón ở các nước Đông Nam Á. Vị tổng thống có vẻ thân Mỹ của Phi Luật Tân, bà Gloria Arroyo ca tụng công khai "Chúng ta sung sướng có Trung quốc như một người anh em lớn".

Thay đổi này phản ánh trong các mối quan hệ của Bắc Kinh với các chính phủ khắp các nước láng giềng của mình. Chẳng hạn như người Việt Nam, không hề có tình cảm yêu thương đặc biệt gì với Trung quốc. Như một viên chức ở quốc gia này nói với tôi, "Chúng tôi nhìn rõ. Trung quốc đã xâm chiếm Việt Nam trong cả nghìn năm. Họ đã xâm lăng chúng tôi mười ba lần kể từ đó". Nhưng ông cũng nhìn nhận, "Họ là một hiện diện quá lớn lao, là nhà xuất khẩu lớn nhất của chúng tôi" - nghĩa là các chính phủ và nhân dân của họ phải tiếp cận mối liên hệ thực tiễn. Các tiệm sách tôi từng đến ở Việt Nam trưng bày các tuyển tập diễn văn của giới lãnh tụ Trung quốc như Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào một cách nổi bật.

Trước khi đến Việt Nam, tôi đã ở Tokyo trong chuyến viếng thăm cấp nhà nước năm 2007 của Thủ tướng Trung quốc Ôn Gia Bảo, và tôi đã nghe các điệp khúc tương tự. Họ Ôn đã vận dụng xảo thuật đối với nhiều trọng điểm căng thẳng giữa hai quốc gia và thay vào đó đã nhấn mạnh đến mặt tích cực - sự phát triển liên hệ về kinh tế. Tuy nhiên, sự khôn khéo này mỏng manh và đưa đến mối nguy hiểm chính trong chính sách đối ngoại của Bắc kinh – các nỗ lực của họ để hợp tác với chủ nghĩa dân tộc cho các mục đích của chính mình.

Trong quá khứ, Bắc kinh đã kiên trì trong việc giữ quan hệ với người Nhật Bản. Các thảm họa chiến tranh và sự do dự nhận lỗi của Nhật Bản là phần lớn của vấn đề. Nhưng Bắc kinh có lẽ cũng đã nuôi dưỡng mối căng thẳng – luôn mang vấn đề cư xử của Nhật trong thời chiến tranh ra ở bất cứ lúc nào thuận tiện, khước từ lời xin lỗi của người Nhật đồng thời đã còn giảng dạy những phiên bản chống Nhật độc ác trong lịch sử tại các trường học của mình. Vào tháng Tư năm 2005, chính phủ Trung quốc có vẻ đã khuyến khích các cuộc biểu dương chống Nhật qua các sách học lịch sử, để chỉ dẫn đến chuyện nở bung thành những cuộc biểu tình cướp bóc, phá hoại, liệng đá vào tòa đại sứ Nhật và kêu gọi rộng rãi tẩy chay hàng hóa của Nhật.

Trong các ý nghĩa về chiến lược, chuyển sang một chính sách “vươn dậy trong hòa bình”, sẽ không có ý nghĩa gì nếu Bắc Kinh cứ không thỏa hiệp với Tokyo như trong quá khứ. Hành động như thế chắc chắn sẽ mang đến cho Trung quốc một láng giềng thù địch, một láng giềng đã có một quân đội đáng thương nhưng một nền kinh tế lớn gấp ba lần Trung quốc. Một chiến lược khôn ngoan hơn sẽ là tiếp tục bẫy Nhật bằng những liên hệ kinh tế và sự hợp tác lớn hơn, tìm cách vươn đến thị trường, đầu tư và công nghệ của họ - đồng thời sẽ đạt đến sự thống trị qua thời gian. Có cả một sự cãi cọ về sự hòa hợp chân chính. Nhật Bản đã không cư xử một cách hoàn thiện nhưng họ đã vài lần xin lỗi về sự xâm lược trong thời chiến và đền bù Trung quốc hơn 34 tỉ trong các quỹ viện trợ (các bồi thường, có hiệu quả) - những điều chưa bao giờ được nhắc nhở từ người Trung quốc. Và rõ ràng, một khao khát cho sự hòa giải được biểu hiện khi thủ tướng họ Ôn đến Nhật vào năm 2007. Nhưng điều này có thể không còn nữa. Đối với Trung quốc, các khó khăn nội bộ đang xảy đến. Từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, Đảng cộng sản đang dùng chủ nghĩa dân tộc như một lớp keo dính để giữ Trung quốc liền lạc được với nhau, và chủ nghĩa dân tộc hiện đại của Trung quốc được minh định phần lớn trong mối thù nghịch với Nhật Bản. Bất chấp vô số chính sách tai ương của mình, Mao vẫn là một vị anh hùng ở Trung quốc bởi vì ông đã đánh Nhật và thống nhất Trung quốc.

Chính phủ Trung quốc thường cho rằng mình có thể chế ngự cảm tính chung phổ biến, nhưng họ đang mất đi niềm tự tin đó. Không phải là một nền dân chủ, họ không có đủ kinh nghiệm để làm như thế. Họ đối xử với xúc cảm và cơn giận của công chúng một cách không cởi mở,không chắc là nên khuyến khích hay đè nén xuống, vì sợ không biết sẽ dẫn đưa đến đâu. Họ hoàn toàn không biết phải làm gì với một nhóm như Hội Ái quốc, một nhóm chủ nghĩa dân tộc cực đoan trên internet đã tổ chức cuộc biểu dương chống Mỹ sau sự cố máy bay EP3 vào năm 2001 và cuộc biểu dương chống Nhật vào năm 2005. Cả hai hành động được khuyến khích lúc ban đầu cho đến khi đã trở nên quá căng thẳng hơn mức dự liệu của chế độ. Những dịp tình cờ đó như đã khuyến khích cho một số sự suy nghĩ lại, và Bắc Kinh gần đây đã dịu giọng hơn trong những ủng hộ chủ nghĩa dân tộc, theo đuổi một lối tiếp cận êm dịu hơn đến chính trị và ngoại giao.

Mối nguy hiểm của cơn khủng hoảng ở bên ngoài cộng với chủ nghĩa dân tộc trong nội bộ đang phủ một bóng mờ cực lớn lên Đài Loan. Bắc Kinh, bị ám ảnh lâu dài về Đài Loan, đã từng không thỏa hiệp, như một số chính trị gia Đài Loan - một hỗn hợp đôi lúc bùng cháy, như khi Tổng thống Trần Thuỷ Biển của Đài Loan kích động một cơn giận dữ từ việc đề nghị một hội nghị quốc gia về nền độc lập của Đài Loan vào năm 2002. Đối với hầu hết mọi phương diện, Bắc Kinh đã theo đuổi kế hoạch lâu dài của mình về việc "bình thường hóa" các quan hệ với đảng đối lập chính của đảo quốc và làm dịu đi với sự hòa giải. Nhưng không phải lúc nào cũng thế. Vào tháng ba năm 2005, Bắc kinh đã thông qua một luật định “chống tách rời”, đe dọa Đài Loan bằng sức mạnh quân sự nếu họ dám chọc giận Trung Hoa bằng bất cứ cách nào. Kết quả là, giữa nhiều biện pháp, Liên hiệp Âu châu đã hoãn lại việc bãi bỏ lệnh cấm vận đến Trung quốc.

Đài Loan mang lại một thí dụ sinh động và quan trọng về việc làm thế nào để khích lệ kinh tế cho sự hội nhập và thúc đẩy chính trị cho những phân rẽ về chủ nghĩa dân tộc nhưng vẫn điều chỉnh được. Quyết định hợp lý khiến tạo nên được hướng dẫn cho chính sách kinh tế không dễ áp dụng trong không gian chính trị, khi danh dự, lịch sử, lòng tự hào và căm giận tất cả đều đóng vai trò rộng rãi. Trong những năm gần đây, nhận thức được thời gian ở về phía mình, Bắc Kinh đã chuyển đến một tiến trình ít gây hấn hơn, khôn ngoan hơn đối với Đài Loan (và ngay cả với Nhật Bản). Do đó họ đã thực hiện một số chuyển động thông minh là tăng thêm sự lệ thuộc của Đài Loan trên lục địa – rõ rệt nhất là việc giảm thuế quan các nông phẩm đến từ những phần có tư tưởng độc lập nhất của Đài Loan. Dĩ nhiên suốt thời gian ấy, nền quân sự của Trung quốc phát triển rất nhanh, mục tiêu chiến lược của họ là nhanh chóng thắng thế trên tất cả các mối xung khắc với Đài Loan. Nói một cách khác, phát triển kinh tế và toàn cầu hóa đã tạo nên kế hoạch cho sự hội nhập của Bắc Kinh, cho họ sức mạnh quân sự tuy nhiên lại đem đến đối đầu về chính trị.

Rồng và Chim Đại Bàng

Tầm quan trọng của các mối quan hệ với các nước của Trung quốc trên thế giới bị còi cọc lại bởi mối quan hệ của họ với một nước - Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, hay nói một cách khác hơn, không một khó khăn có thể xảy ra nào đối diện mà Trung Hoa cho là quan trọng trừ khi chúng gây nên sự can dự của Hoa Kỳ. Không có can dự của Hoa Kỳ, một cuộc chiến tranh xảy ra với Đài Loan sẽ chỉ là bi kịch và máu me, nhưng chỉ khi cuộc chiến tranh đó trở nên một sự đối đầu giữa Trung quốc và Hoa Kỳ ắt sẽ đưa đến những hậu quả vượt xa đến toàn cầu. Thử thách của Trung quốc cũng mật thiết đối với Hoa Kỳ hơn là đối với các quốc gia khác. Theo lịch sử, khi quyền lực mạnh nhất thế giới bị thách thức bởi một quyền lực khác vươn lên, hai quyền lực ấy cùng có những quan hệ khó khăn với nhau. Và dù không bên nào thú nhận công khai, cả Trung quốc và Hoa Kỳ đều đang lo lắng và chuẩn bị những khó khăn. Trong ba thập niên, chính sách đối ngoại của Trung quốc đã từng là một sự tạo thỏa mãn lớn hơn dành cho Hoa Kỳ vì một số những nguyên nhân thực tiễn khác nhau. Trước tiên đó là một nguyên nhân vì chiến lược chống lại Xô Viết, sau đó là khao khát về thị trường và sự cải cách, rồi đến việc khôi phục đất nước sau vụ Thiên An Môn, trở thành thành viên Tổ chức Thương Mại Quốc tế và cuối cùng là tổ chức Thế Vận hội Olympics tại Bắc Kinh. Nhưng giới ưu tú trẻ hơn của Trung quốc ngày càng tin rằng bản thân đất nước họ cần phải tự tin rằng mình là một đối thủ của Hoa Kỳ trong một số ý nghĩa. Ở Washington đã từng có những người nhìn Trung quốc như mối đe dọa toàn diện mới đến quyền lợi và lý tưởng của Hoa Kỳ. Nói như thế này không có nghĩa là nói đến chiến tranh hay ngay cả sự xung khắc, nhưng chỉ là để ghi nhận rằng hầu như có sự căng thẳng. Sự việc hai nước này giải quyết như thế nào sẽ quyết định đến quan hệ tương lai của mình - và hòa bình của cả thế giới.

Đối với hiện tại, các sức mạnh về hợp nhất đã thắng thế, ở cả Bắc Kinh và Washington. Mối quan hệ kinh tế Trung-Mỹ là một quan hệ nương tựa song phương. Trung quốc cần thị trường của Hoa Kỳ để bán hàng hoá của mình; Hoa Kỳ cần Trung quốc để trợ cấp tiền nợ - đó là mối tương đương của nền toàn cầu hoá trong khả năng Chắc chắn Hủy diệt Lẫn nhau của thời đại Nguyên tử (và để tăng thêm cho các sức mạnh ổn định, các kho chứa vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ và Trung quốc cũng hành động như những chướng ngại). Cái thực tế của các lực lượng thế giới được toàn cầu hóa Trung quốc và Hoa Kỳ trở nên một đồng minh khiến khoa địa lý chính trị thuần túy có thể không bao giờ được ủng hộ. Hậu quả là, chính quyền Bush đã từng hòa giải một cách đáng chú ý với Bắc Kinh về vấn đề Đài Loan. George W. Bush có lẽ là vị tổng thống thù địch nhất về mặt ý thức hệ từng thu xếp mối quan hệ Trung-Mỹ. Ông đã dành hầu như cả nhiệm kỳ của mình để ca ngợi dân chủ, đả phá độc tài và hứa hẹn sẽ dùng sức mạnh của Hoa Kỳ để khai triển các mục tiêu của mình. Nhưng dù với tất cả những điều này, Bush đã liên tục đứng về phía Bắc Kinh và cảnh cáo Đài Loan chớ có cố gắng tách rời, một khẳng định có tính chống lại người Đài Loan hơn mà chưa một vị tổng thống nào từng thực hiện. Đó là lý do vì sao, bất chấp những bài diễn văn của Bush về tự do và cuộc gặp gỡ của ông với Dalai Lama, Bắc Kinh vẫn hài lòng với chính quyền này. Bởi vì trong vấn đề mà họ quan tâm, Bush đã là đồng minh của họ.

Bắc Kinh và Washington rất khôn ngoan để cố gắng hợp tác với nhau. Xung đột giữa các quyền lực lớn là điều mà thế giới không được thấy kể từ thời Chiến tranh lạnh. Nếu các xung đột ấy trở lại, tất cả những vấn nạn mà chúng ta hiện đang lo lắng - khủng bố, Iran, Bắc Triều Tiên - đem so sánh sẽ bị mờ nhạt đi. Điều đó có nghĩa là cả những chạy đua vũ trang, tranh chấp biên giới, cạnh tranh giữa đồng minh và các nước khách hàng, xung đột địa phương và có lẽ nhiều hơn nữa. Bước tiến của phong trào hiện đại hóa về chính trị và kinh tế sẽ chậm đi nếu không muốn nói là sẽ tan biến. Ngay cả như nếu không có những hoàn cảnh khốc liệt ấy, Trung quốc sẽ làm phức tạp các mối quan hệ quyền lực sẵn có. Chẳng hạn như, nếu Hoa Kỳ và Liên hiệp Âu châu có theo đuổi những giải pháp khác nhau tự căn bản về sự vươn dậy của Trung quốc, sẽ tạo lên mối căng thẳng thường trực trên các đồng minh Tây phương khiến tạo cho mối căng thẳng với Iraq trông như chuyện vặt không đáng kể. Tuy nhiên một mối kình chống Trung-Mỹ nghiêm trọng sẽ xác định một thời đại mới và chuyển hướng ra khỏi sự hợp tác, giao thương và toàn cầu hóa.

Có một nhóm người Mỹ, chủ yếu gồm các viên chức Ngũ Giác Đài và những người tân bảo thủ đã từng gióng lên lời cảnh báo về mối đe dọa Trung quốc, phần lớn ở trong các ý nghĩa về quân sự. Nhưng thực tại vẫn chưa ủng hộ trường hợp cảnh báo ấy của họ. Chắc chắn Trung quốc sẽ bành trướng quân sự của mình, với một ngân quỹ quốc phòng đã từng tăng mười phần trăm hoặc hơn một năm. Nhưng họ vẫn còn chỉ bằng một phần chi tiêu của Hoa Kỳ - tối đa là 10 phần trăm chi phí thường niên của Ngũ Giác Đài. Hoa Kỳ có mười hai chiếc hàng không mẫu hạm năng lực nguyên tử, mỗi chiếc mang theo một đội tám mươi lăm chiếc phản lực cơ tấn công; các kỹ sư hàng hải Trung quốc vẫn còn đang làm việc cho chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của họ. Trung quốc có hai mươi đầu đạn nguyên tử có tầm xa đến được lục địa Hoa Kỳ, theo như tính toán của Ngũ Giác Đài, nhưng những vũ khí "nhỏ và cồng kềnh" này chỉ "có thể tổn thương trong một cuộc tấn công phủ đầu trước". So sánh với Hoa Kỳ, có vào khoảng chín ngàn đầu đạn nguyên tử còn mới nguyên và khoảng năm ngàn đầu đạn chiến lược.

Người Trung quốc hiểu được nền quân sự của họ bất cân xứng đến đâu. Do đó, thách thức của Trung quốc, sẽ không giống như một Xô Viết khác với một Bắc Kinh mệt mỏi giữ nhịp độ trong các ý nghĩa về quân sự. Trung quốc có vẻ giữ mình như một "siêu quyền lực bất đối xứng". Họ đã tìm kiếm và khai triển những phương cách nhằm làm phức tạp và xói mòn năng lực siêu đẳng quân sự của Hoa Kỳ, như trong công nghệ không gian và internet. Quan trọng hơn cả thế, họ sẽ sử dụng sức mạnh kinh tế và khôn ngoan về chính trị để đạt mục tiêu mà không cần phải dựa vào sức mạnh quân sự. Trung quốc không hề muốn xâm lăng và chiếm lấy Đài Loan; họ gần như vẫn đánh giá thấp phong trào đòi độc lập của người dân Đài Loan, họ cứ chậm rãi tích lũy các lợi thế và ăn mòn dần đối thủ.

Trong các tài liệu mang tên "Đồng thuận Bắc kinh" phần lớn rút ra từ những cuộc phỏng vấn các viên chức cao cấp Trung quốc và các nhà trí thức. Joshua Cooper Ramo cung cấp một hình ảnh quyến rũ về chính sách đối ngoại mới của Trung quốc. "Thay vì xây dựng một sức mạnh kiểu Hoa Kỳ, xù xì tua tủa với những vũ trang và cố chấp với những thế giới quan của kẻ khác", ông viết "Sức mạnh đang nổi lên của Trung quốc có căn bản trên mẫu thức của chính họ, sức mạnh của hệ thống kinh tế và sự bảo vệ kiên quyết về... chủ quyền quốc gia của họ". Ramos mô tả một tầng lớp ưu tú am hiểu được sức mạnh đang lên của đất nước mình và cung cách ít can thiệp khiến tạo mình thành một loại đối tác có sức thu hút, đặc biệt trong một thế giới mà Hoa Kỳ đang được xem như một ông bá chủ hống hách. "Mục tiêu của Trung quốc không phải là đối kháng mà là tránh đối kháng", ông viết "Thành công thực sự trong những vấn đề chiến lược liên quan đến sự vận dụng tình thế vô cùng hiệu quả đã mang lại kết quả không tránh khỏi, thiên về các quyền lợi của Trung quốc. Những điều này nổi lên từ Tôn Tử, nhà tư tưởng chiến lược cổ xưa nhất của Trung quốc, người đã lập luận rằng "Trận chiến nào cũng sẽ thắng hoặc sẽ thua trước khi thực sự giao chiến".

Hoa Kỳ hiểu được cách xử lý một lợi thế chính trị quân sự có tính truyền thống. Nói cho cùng, đấy chính là bản chất của mối đe dọa Xô viết và Quốc xã Đức nổi lên. Hoa Kỳ có một cơ cấu nhận thức cũng như các phương tiện – vũ khí, viện trợ, đồng minh – cùng những gì phải đối đầu như một lợi thế. Giả như Trung quốc thúc đẩy sức nặng của họ, gây oán giận nơi các láng giềng và làm thế giới kinh hãi, Washington sẽ có thể đáp trả bằng một loạt những chính sách có hiệu quả có thể lợi dụng được tiến trình cân bằng tự nhiên của Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, Việt Nam – và có lẽ các nước khác – sẽ cùng chung sức để giới hạn sức mạnh của Trung quốc. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như họ từng bước bành trướng các mối liên hệ kinh tế, hành động một cách lặng lẽ, ôn hòa, và từ từ phát triển không gian ảnh hưởng của mình để mưu tìm ảnh hưởng, đồng bọn có trọng lượng hơn trên thế giới? Cái gì sẽ xảy ra nếu như họ cứ từ từ dồn ép Washington ra bên lề ở Á châu trong một nỗ lực làm xói mòn kiên nhẫn và sức chịu đựng của Hoa Kỳ? Sẽ ra sao nếu họ lặng lẽ tự định vị trí của mình như một sự thay thế cho Hoa Kỳ kiêu căng và hống hách? Hoa Kỳ sẽ đương đầu với một loại kịch bản - tựa như Chiến tranh lạnh nhưng lần này là với một thị trường sống động, một dân số đông nhất thế giới, một đất nước không trưng bày kiểu mẫu tuyệt vọng của loại đất nước xã hội chủ nghĩa hay vung vãi sức mạnh của mình vào những can thiệp quân sự vô nghĩa? Đây là một thách thức mới đối với Hoa Kỳ, một thử thách mà Hoa Kỳ chưa từng giải quyết trước đây do đó họ chưa từng được chuẩn bị.

Trong suy tính làm thế nào để tiếp cận với Trung quốc, giới chính khách ưu tú đã sửa chữa cái nhìn của họ đến một quyền lực mới đang lên, gần giống và đang theo sát Trung quốc: Ấn Độ.

(Còn tiếp)

___________________________
i. Theo Carlos H. Conde "Asean and china Sign Trade and Services Accord" International Herald Tribune, Jan. 14, 2007
ii. “Out of their Silos;China and America" Economist, June 10, 2006. Theo Joshua Cooper Ramo "
iii. The Beijing Consensus" (Foreign Policy Centre, London, 2004)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét