Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

THẾ GIỚI THẾ KỶ 21 ĐI VỀ ĐÂU - TRUNG HOA BÀNH TRƯỚNG: HOA KỲ CÓ THỂ LÀM GÌ?

Cỗ Lũy

Trước 1975 học giả Nguyễn Hiến Lê đã nghiên cứu và lên tiếng báo động về “Người Tầu ở Đông Nam Á”(giới hạn vào phía Đông Thái Bình Dương). Cuối thập niên 1980, loạt bài nghiên cứu quan trọng của nhật báo với uy tín toàn quốc và quốc tế Los Angeles Times xác định việc nay đã hiển nhiên: bành trướng về kinh tế và chính trị của Trung Hoa ở khắp vùng gồm Bắc TBD (ở hai cực Đông-Tây Canada), Tây TBD (từ San Francisco trở xuống tận Trung và Nam Mỹ), và Nam TBD (vùng Úc châu và các đảo quốc); đây chưa kể nhiều nơi khác. Bành trướng cũng đi cùng với việc di dân người Hoa đến khắp nơi, đưa tổng cộng dân số Hoa trong và ngoài nước lên gần 1/3 dân số toàn cầu. Chi tiết mới nhất trên tờ Times gần đây: học sinh ở Mexico thuộc Tây TBD học nhiều tiếng Quan thoại hơn là tiếng Anh—ngôn ngữ của kinh tế và chính trị chế ngự thế giới thế kỷ qua.

Từ khởi đầu nguyệt san Thế Kỷ 21 cách đây gần 25 năm và trên nhật báo Người Việt, người viết tiếp tục theo rõi và trình bầy các thay đổi, chi tiết theo chiều hướng trên. Những chi tiết và lý luận quan trọng mới đây gồm nghiên cứu của ký giả Robert Kaplan thuộc nguyệt san The Atlantic; ông cũng là thành viên cao cấp thuộc viện nghiên cứu Center for a New American Security.

Như thường lệ, người viết trình bầy những nét chính trong nghiên cứu với những giải thích cần thiết và một ít nhận xét của người học hỏi chính trị. Điểm quan trọng cần ghi nhớ: ông Kaplan là ký giả uy tín (với tác phẩm mới nhất Monsoon: The Indian Ocean and the Future of American Power, sẽ ra mắt mùa Thu); tuy nhiên, ông không hẳn là một học giả truyền thống như các giáo sư đại học với học thuật, huấn luyện chuyên môn cùng kỷ luật và quyết tâm để cả đời theo đuổi nghiên cứu một nước, vùng hay vấn đề.

Bài kỳ trước trình bầy tham vọng bành trướng thế lực trên biển cả của Trung Hoa sau khi đã nắm vững quyền lực trên đất liền hầu khắp lục địa châu Á bằng di dân và kinh tế. Tham vọng này có thể là mục tiêu chính của Bắc Kinh ở thời điểm hiện nay; nhưng không nhất thiết Bắc Kinh sẽ thực hiện được tham vọng một cách dễ dàng.

NHỮNG BẤT TRẮC TRÊN MẶT NƯỚC

Ông Kaplan ghi nhận có “cái mâu thuẫn ngay trong nỗ lực tỏa phóng quyền lực trên biển cả” trong vùng “Địa Trung Hải Á châu” (hay “Nam Hải,” biển phía Nam “của Trung Hoa,” được Bắc Kinh hiểu theo nghĩa bao gồm biển cả ở Đông và Đông Nam Á), và xa hơn vùng này nữa. Từ “Nam Hải,” với cửa ngõ đi vào Ấn Độ Dương và con đường chuyển vận dầu, khí của thế giới qua Vịnh Ba Tư, Bắc Kinh đã phải đương đầu với những trở lực chính như hải tặc, phái Hồi giáo cực đoan cũng như hải lực đang lên của Ấn Độ—và nhất là nhu cầu dầu, khí của Tây phương. “Mâu thuẫn” được nhắc đến gồm hai khía cạnh: một mặt Trung Hoa như có ý định ngăn cản Hoa Kỳ đi vào vùng biển “của mình.” Mặt khác, Trung Hoa vẫn chưa đủ khả năng bảo mật truyền tin trên đường biển, và do đó mọi tấn công vào tầu chiến Mỹ đều không mang một triển vọng nào. Hải lực Mỹ (Hạm đội 7 ở Thái Bình Dương và Hạm độ 6 ở Ấn Độ Dương) dễ dàng cắt đứt đường chuyển vận nhiên liệu tới Trung Hoa từ những nước dầu, khí A-Rập và Vịnh Ba Tư qua hai đại dương này.

Câu hỏi được đặt ra là: Vậy tại sao Bắc Kinh muốn ngăn cản Washington đi vào vùng biển “của mình” khi không đủ khả năng làm chuyện này? Giới chuyên gia về quốc phòng lý luận Bắc Kinh có thể muốn “biểu dương lực lượng” nhằm đe dọa hơn là thật sự sử dụng lực lượng này—hay nói một cách nôm na là để “hù” Washington. Bắc Kinh liên tiếp làm những động thủ với nhiều tính cách “phô trương” như trưng bầy các hệ thống vũ khí mới, xây dựng cơ sở quân sự và thám thính tại các cửa biển dọc TBD và ÂĐD, viện trợ quân sự cho các nước “chư hầu” nằm giữa lãnh thổ Trung Hoa và ÂĐD. Cụ thể có thể nêu ra những ví dụ như: tháng Mười 2006, một tầu ngầm Hoa bám theo chiến hạm Kitty Hawk (từng tham chiến ở Việt Nam) rồi trồi lên ngay trước mũi chiến hạm này; hơn năm sau nhà nước Hoa không cho phép Kitty Hawk vào Cảng Victoria ở Hong Kong tránh bão lớn (nhưng năm 2010 Kitty Hawk lại tới thăm viếng Hong Kong); tháng Ba 2009 một số tầu thủy Hoa ngăn chặn và như muốn húc vào tầu trinh sát Mỹ Impeccable, dù tầu này đang hoạt động ngoài hải phận 12 dặm “Nam Hải.” Ông Kaplan không xem đây như động thủ của một siêu cường, nhưng là thái độ của một siêu cường còn “ấu trĩ.” Nhìn một cách nghiêm trang hơn, tất cả động thủ đều công khai, ngang ngạnh, và rõ rệt mang ý nghĩa phô trương: thay vì đương đầu thẳng với Hoa Kỳ, Bắc Kinh muốn ảnh hưởng vào phản ứng của Hoa Kỳ nhằm tránh phải trực tiếp đối đầu với Washington.

Khách quan hơn, người ta không thể bỏ qua khía cạnh đáng ngại trong các hoạt động xây dựng hải lực của Bắc Kinh. Trung Hoa đang thành lập một căn cứ hải quân lớn ở mặt Nam đảo Hải Nam (bên cạnh nỗ lực “hiền hòa” biến đây thành một trung tâm giải trí vừa có vẻ Hawaii lẫn Las Vegas kiểu Mỹ), trấn ngự ngay trên “Nam Hải” của mình, với đủ phương tiện dưới nước làm bến cho 20 tầu ngầm nguyên tử lực và điện lẫn diesel. Đây rõ ràng là một khẳng định không khác mấy kiểu “Chủ thuyết Monroe/Monroe Doctrine” Mỹ đầu Thế kỷ 19: quyền lực trên hải phận, và dĩ nhiên đất đai trong vùng đều nằm dưới sự khống chế của Trung Hoa. Quay ngược dòng lịch sử, năm 1823 Tổng thống James Monroe đơn phương xác định quyền khống chế của Hoa Kỳ trên đại lục châu Mỹ, “America is for Americans”—các nước châu Âu đã và muốn có thuộc địa ở đây nên “đi chỗ khác chơi.” Bắc Kinh không nhất thiết mang ý định giao tranh với Hoa Kỳ hiện nay hoặc trong tương lai, nhưng đây cũng có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Do đó, theo ông Kaplan cách tốt nhất là chọn cái nhìn thực tế: thử nhìn một cách khách quan xem khả năng của Trung Hoa tới mức nào.

Tình hình an ninh hiện nay ở vùng Âu-Á (Eurasia, cực Tây của Trung Hoa) phức tạp hơn tình hình vùng này những năm sau Thế chiến 2 (1939-1945) nhiều. Đồng thời với quyền lực toàn cầu đi xuống kích thước hải lực Mỹ cũng đi xuống hoặc đã đứng tại mức tối đa có thể được; mức gia tăng về kinh tế và quân lực Trung Hoa chắc chắn sẽ thay đổi những liên hệ quyền lực ở châu Á. Giới quan sát quân sự như đồng ý với nhau: thi đua vũ trang đang xẩy ra ở châu Á, và nhiều nước nỗ lực điều chỉnh cán cân lực lượng nhằm mang lợi điểm cho mình. Hoa Kỳ cung cấp cho Đài Loan 114 phi đạn phòng không Patriot và hàng chục hệ thống truyền tin quân sự tối tân. Trung Hoa xây căn cứ tầu ngầm Hải Nam và phát triển phi đạn chống chiến hạm. Nhật Bản và Nam Hàn tiếp tục hiện đại hóa hạm đội của mình. Ấn Độ phát triển hải lực hùng hậu. Việt Nam nhìn về hướng Washington và Moskova cả mặt hải lẫn không lực, và riêng hướng Moskova nhằm phát triển “nguyên tử năng.”

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton có thể đã sai lầm hoặc không thành thật khi bà lên tiếng xem chuyện “cán cân lực lượng/balance of power” là tàn dư của thời Chiến tranh Lạnh (Cold War, hơn 40 năm kể từ 1947) đã qua. Chính quyền Barack Obama chắc chắn cần phải đối đầu với thực tế trước mắt một khi khép lại được những phiêu lưu bất đắc dĩ ở Iraq và Afghanistan (đến nay ông Obama vẫn phải làm vẻ hung hăng “cứng rắn” ở đây, sau khi chính quyền George W. Bush ngông nghênh mở màn phiêu lưu quá đắt giá đầu thập niên). Kinh nghiệm cho thấy, dù không nước châu Á nào muốn đi vào một cuộc chiến với ai, những tính toán sai lầm về “cán cân lực lượng” và hậu quả ghê gớm của việc này sẽ gia tăng với thời gian và mức tăng gia chạy đua vũ trang hải và không lực trong vùng—chỉ riêng giữa Trung Hoa và Ấn Độ cũng không biết đâu mà lường. Những căng thẳng, va chạm trên đất liền có thể đẩy mạnh va chạm, căng thẳng trên biển cả. Ở một thời điểm nào đó, các khoảng trống quyền lực (power vacuum) mà Bắc Kinh đang trám vào sẽ đưa đến mâu thuẫn và đụng chạm với đối thủ rõ nhất là Ấn Độ và Nga. Những khoảng trống trước đây nay đầy chật những người, đường xá, ống dẫn nhiên liệu, tầu bè—và dĩ nhiên là phi đạn! Châu Á mỗi lúc một chật cứng những yếu tố này, và đang bước vào khủng hoảng về “chỗ đứng” hay không gian để “cục cựa.”

HOA KỲ CÓ THỂ LÀM GÌ?

Hoa Kỳ có thể làm gì để duy trì ổn định ở châu Á, bảo vệ đồng minh
của mình ở đây, giới hạn một Trung Hoa Vĩ Đại đi lên, đồng thời tránh được mâu thuẫn với Bắc Kinh? Cân bằng “cán cân lực lượng” từ ngoài khơi tít mù hẳn là không đủ. Những đồng minh chính của Hoa Kỳ như Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, Nam Hàn và Việt Nam, đều muốn Hải quân và Không quân Mỹ hợp tác “chặt chẽ” với họ, để Hoa Kỳ trở thành một yếu tố “hữu cơ” nằm ngay trong vùng đất liền và biển nước châu Á—chứ không phải một vị trí lửng lơ bên chân trời. Nhưng một số người phản bác ý kiến của ông Kaplan ở điểm này: sao người Nhật cứ ồn ào về chuyện căn cứ Mỹ trên đất nước họ? Lập luận này có cái lý lẽ của nó; tuy nhiên, ta cần hiểu rằng gấu ó Mỹ-Nhật về quyền hiện diện của hải và không lực Mỹ ở Nhật mang tính cách chính trị nội bộ Nhật. Đây không có nghĩa là Nhật Bản muốn lực lượng Mỹ rút khỏi hẳn nước này.

Một kế hoạch được luân lưu trong bộ Quốc phòng Mỹ đưa ra lý luận rằng Hoa Kỳ có thể chống lại quyền lực chiến lược của Trung Hoa, “mà không cần trực tiếp tham chiến,” dù với một hạm đội gồm 250 tầu chiến (giảm bớt từ 280 tầu hiện nay) và 15 phần trăm giảm thiểu ngân sách quốc phòng. Tác giả kế hoạch, Đại tá TQLC Pat Garrett, đưa yếu tố mới và quan trọng vào phương trình chiến lược này: Đại Dương Châu hay Oceania. Oceania, gồm những đảo và quần đảo phía Đông ĐNÁ và Bắc Úc Châu; một số nhà địa dư bao gồm Úc và Tân Tây Lan vào Oceania dù hai nước này thuộc Úc Châu. Các đảo Guam và quần đảo Caroline, Marshall, Bắc Mariana, và Solomon đều thuộc lãnh địa Mỹ với những thỏa thuận song phương về an ninh, hoặc những quần đảo và đảo độc lập nhưng sẵn sàng ký thỏa ước song phương. Oceania sẽ vô cùng quan trọng vì châu này tương đối vừa gần Đông Á và ĐNÁ vừa nằm ngoài vùng mà Trung Hoa rõ ràng không muốn Hoa Kỳ bước vào. Đảo Guam với căn cứ không và hải lực Mỹ chỉ cách Bắc Hàn bốn tiếng đồng hồ đường hàng không, và xa Đài Loan hai ngày đường biển. Ở vị thế này Washington sẽ dễ dàng duy trì căn cứ hoặc đặt thêm căn cứ trên Oceania, hơn là trấn giữ binh sĩ và căn cứ ở Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, và có thể ở Việt Nam.

Đảo Guam là căn cứ Không quân chiến lược Mỹ lớn và sẵn sàng nhất với 100 nghìn bom, 260 triệu lít xăng phản lực, hàng phi đội vận tải C-17 Globemaster và chiến đấu F/A-18 Hornet; căn cứ Hải quân trên đảo vẫn còn đang phát triển thêm với hàng đội tầu ngầm (khoảng từ 4 đến 6 chiếc). Guam và vùng Bắc quần đảo Mariana cách xa đồng đều Nhật Bản và eo biển Malacca. Tây Nam Oceania, vùng quần đảo Ashmore thuộc Úc nhìn ra ÂĐD ngay phía dưới quần đảo Indonesia. Theo kế hoạch Garret, hải và không lực Mỹ có thể lợi dụng địa dư Oceania để thành “hiện diện đang lên” nằm ngay trên “biên cương mới” không chính thức của Trung Hoa và đường thủy Âu-Á. Củng cố hiện diện mặt không và thủy ở Oceania sẽ là một đường lối dung hòa giữa hai chọn lựa cực đoan: chống lại Trung Hoa Vĩ Đại bằng mọi giá, hoặc chấp nhận một tương lai trong đó hải lực Hoa khống chế “Chuỗi đảo đầu” (gồm bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan, Phi Luật Tân, Indonesia, một phần Việt Nam và Úc). Đường lối này cũng bảo đảm Trung Hoa phải trả giá đắt nếu “le hoe” quân sự ở Đài Loan. Nó cũng cho phép Hoa Kỳ “xuống cấp” những căn cứ đã có từ lâu trên “Chuỗi đảo đầu,” đồng thời tầu bè và máy bay Mỹ vẫn có thể tiếp tục tuần hành trong vùng.

Kế hoạch Garrett cũng nhìn về hướng phát triển hoạt động hải lực Mỹ ở ÂĐD. Tuy nhiên, nó không nhằm mở rộng các căn cứ hiện có; thay vào đây nó dựa vào các căn cứ tương đối sơ sài ở quần đảo Andaman, Comoros, Maldives, Mauritius, Reunion và Seychelles, cùng những thỏa thuận an ninh với hai nước nhỏ bé Brunei và Singapore, và Malaysia. Đây sẽ bảo đảm tự do thông thương đường thủy và di chuyển nhiên liệu không bị cản trở hầu khắp Âu-Á. Cùng với chuyện giảm thiểu việc lệ thuộc vào các căn cứ Mỹ hiện nay ở Nhật Bản và Nam Hàn, và thay đổi địa điểm căn cứ trong vùng Oceania, kế hoạch Garrett sẽ bỏ được các căn cứ “chủ chốt” dễ bị tấn công cả về mặt chính trị lẫn quân sự.

Mặt khác, Hoa Kỳ cũng không nắm vững mấy “Chuỗi đảo đầu.” Về mặt chính trị dân chúng địa phương không muốn có sự hiện diện quân sự ngoại bang trên lãnh thổ mình. Và sự đi lên của Trung Hoa làm Bắc Kinh vừa đáng sợ vừa quyến rũ—những cảm tưởng dù có thật hay không cũng làm phức tạp thêm liên hệ giữa Hoa Kỳ và các đồng minh vùng Đông TBD. Thật ra khủng hoảng giữa Nhật và Hoa Kỳ hiện nay—bắt đầu với chính quyền Hatoyama thiếu kinh nghiệm (và cũng vừa mất chức) lại đòi sửa lại “nguyên tắc” liên hệ với Washington có lợi cho mình, đồng thời tỏ ra “quyến luyến” Bắc Kinh—lẽ ra đã xẩy ra từ lâu. Vị thế vẫn “lớn” của Hoa Kỳ ở TBD là một di sản quá hạn của Thế Chiến 2 (1939-1945), một vị thế đạt đến chính vì những tàn phá, hủy hoại ở Trung Hoa, Nhật Bản và Phi Luật Tân trong thời chiến. Hiện diện của Hoa Kỳ trên phía Nam bán đảo Triều Tiên, một phó sản của cuộc chiến đã tạm ngưng hơn nửa thế kỷ trước, cũng không thể kéo dài mãi mãi.

Ông Kaplan nhận xét, một Trung Hoa Vĩ Đại có thể tiến lên về mặt chính trị, kinh tế và quân sự ở Trung Á, ÂĐD, ĐNÁ, và nguyên vùng Đông TBD. Nhưng ngoài riềm khu vực này là một loạt những tầu chiến Mỹ, phần nhiều có thể thuộc tổng hành dinh đặt trong Oceania và hợp tác chặt chẽ với hải lực Ấn Độ, Nhật Bản cùng các nước “dân chủ” khác nữa. Cũng có thể, cùng với thời gian phát triển và trưởng thành, Bắc Kinh sẽ tự tín hơn, lực lượng trên biển sẽ bớt bận tâm về “biển của mình,” và rồi cũng dễ bị lôi cuốn vào một liên minh hải lực rộng lớn trong vùng.

Cho tới thời điểm này, cần lưu ý chi tiết quân sự rằng, liên hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa có thể sẽ ổn định hơn liên hệ giữa Hoa Kỳ và Nga Xô-viết trước đây; lý do đặc biệt là địa dư Đông Á. Thời Chiến tranh Lạnh (hơn 40 năm, kể từ 1947) một cường quốc với hải lực mạnh không thôi khó mà “be bờ” Nga Xô-viết; phải cần lực lượng bộ binh đáng kể ở châu Âu mới đủ. Nhưng ngày nay lực lượng bộ này không cần thiết ở mặt Tây của Trung Hoa, vì tuy hiện diện trên bộ của Hoa Kỳ cạnh Trung Hoa có suy giảm, Hải quân Mỹ vẫn tiếp tục mạnh mẽ hơn hải lực Hoa. Dù sao, sự kiện gia tăng sức mạnh kinh tế và quân sự Hoa sẽ tăng gia căng thẳng và mâu thuẫn giữa hai nước những năm sắp tới. Mượn ý giáo sư chính trị học John Mearsheimer ông Kaplan kết luận: Hoa Kỳ, nước đã đồng hóa Tây Bán Cầu, sẽ tìm cách ngăn ngừa Trung Hoa trở thành nước đồng hóa Đông Bán Cầu. Và đây sẽ là bi kịch thời đại mới.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét