Thứ Năm, 28 tháng 10, 2010

Ghé thăm các Blogs: 28/10/2010

BLOG NGƯỜI BUÔN GIÓ

Oct 22, '10 8:51 AM

Thành phố Đà Nẵng quyết định xét xử vụ án 6 giáo dân Cồn Dầu với tội danh '' chống người thi hành công vụ và gây rối trật tự công cộng'' vào ngày 27/10 tới đây.

6 người bị bắt cách đây mấy tháng, sau khi bắt giam 6 người dân thuộc giáo xứ Cồn Dầu này công an quận Cẩm Lệ liên tiếp triệu tập, thẩm vấn nhiều người dân khác để hỏi cung. Sự triệu tập liên miên và dài ngày khiến nhiều người dân thấy hoang mang và sợ hãi. Nhiều người khi làm việc với công an huyện Cẩm Lệ trở về khi được hỏi thế nào đều nhìn xuống thân thể họ rồi lắc đầu sợ hãi từ chối trả lời, khi người hỏi định lật áo họ xem thì họ gạt vội rồi bỏ đi với vẻ đau đơn, một trong số những người bị triệu tập hỏi cung trở về nhà đã chết ngay sau vài tiếng với nhiều vết bầm tím, đó là anh Nguyễn Thanh Năm .Gia đình khước từ đề nghị khám nghiệm tử thi của công an Đà Nẵng. Công an xác nhận anh Năm bị đột tử, anh Năm chết để lại người vợ và hai đứa con thơ. Cái chết của anh Năm khiến nhiều người dân Cồn Dầu sau đó đã có những thay đổi lời khai không như ban đầu, những lời khai sau này của họ gây bất lợi cho những người đã bị bắt.

Giám mục Đà Nẵng ĐC Châu Ngọc Tri thì cho rằng đằng sau vụ Cồn Dầu còn là chuyện gì đó, ông không nói rõ là việc gì cụ thể, nhưng có nói thêm giáo dân Cồn Dầu là đất chống Cộng ác liệt từ xưa đến nay, nhiều người Cồn Dầu có bà con bên nước ngoài nữa . Ông trễ miệng kéo dài giọng nói rằng '' không đơn giản là chuyện đất đai đâu, vì chuyện đất đai nhà nước người ta làm để phát triển đẹp hơn, đời sống tốt hơn thì giáo dân mình cũng hưởng lợi, tôi nghĩ đằng sau này còn có nhiều vấn đề''.

Có lẽ phải đọc thêm lá thư mục vụ của ĐC Tri có đoạn sau thì hiểu ĐC muốn nói gì.

Lời lẽ trong bản tường trình có đoạn như khẳng định rằng giáo dân Cồn Dầu đã nhận lỗi

''Buổi chiều, chúng tôi đã trực tiếp đến thăm Giáo xứ Cồn Dầu, lắng nghe ý kiến của Cha Quản xứ và một số người dân, viếng thăm gia đình bà cụ Maria Tân. Mọi người dường như đang run rấy, thổn thức, và cũng hối tiếc, nhất là gia đình, vì không nghe theo lời khuyên của Cha Quản xứ, đã để vụ việc quá đáng tiếc xảy ra ''

Sau đó đoạn cuối ĐC Châu Ngọc Tri định hướng giáo dân Cồn Dầu việc phải làm.

1. Trong cuộc đấu tranh cho công lý và công bằng xã hội, Anh Chị Em giáo dân đừng nghĩ rằng các mục tử không đứng về phía mình. Các Ngài có cách thế riêng do vị trí, ơn gọi, sứ vụ và đặc sủng của các Ngài. Người mục tử có lúc đi trước, có khi đi sau, thậm chí có những hoàn cảnh phải đi giữa đàn chiên, tùy sự an nguy của đàn chiên đến từ đâu. Hãy kính trọng và lắng nghe tiếng nói của các mục tử ! Hãy biết “tôn sư trọng đạo” đúng mức như bài học vỡ lòng của mọi người dân Việt.

2. Không được nhân danh tôn giáo để đấu tranh bạo động xảy ra dưới bất cứ hình thức nào, dù mục đích của cuộc đấu tranh là chính đáng. Đây không phải chỉ là những điều cấm kỵ đối với tôn giáo, mà còn là lời cảnh báo cho những ai mưu toan lạm dụng tôn giáo để giải quyết những tranh chấp hơn thua cho gia đình, phe nhóm hay đảng phái mình.

Không biết ĐC Tri căn dặn phòng xa hay muốn ám chỉ có chuyện ai đó mưu toan lợi dụng tranh chấp hơn thua cho gia đình, đảng phái nào ?

Sự việc mâu thuẫn về đất đai đơn thuần dẫn đến xô xát, nhưng khi cố ý nhiều lần đưa những giả thiết theo chiều hướng như thế này sẽ khiến dư luận bị dẫn dắt tới rằng sự việc Cồn Dầu còn có những thế lực đứng đằng sau xúi dục.

ĐC Tri gán ghép như thế là vô tình hay cố ý.

Khó có thể nói một Đức Giám Mục lại không cân nhắc khi cất lời. Nếu chứng minh được có tổ chức nào xúi dục đằng sau. ĐC Châu Ngọc Tri có thể phủi tay không hề bị gán trách nhiệm trước Giáo Hội, hơn nữa chứng minh được thì ĐC sẽ càng được lòng chính quyền Đà Nẵng hơn bao giờ vì đã có công vạch rõ nguyên nhân mờ ám đằng sau vụ Cồn Dầu.

Hãy nghe thêm một lời nói nữa của ĐC Châu Ngọc Tri

'' người ta ( chính quyền ) đã cấm ra đó, vậy mà cứ ra ( mang xác ra chôn tại nghĩa trang) đó là thế nào, bị sao thì chịu chớ ''

Đáng tiếc là ở điều 1 ở trên ĐC Châu Ngọc Tri căn dặn giáo dân hãy tin tưởng vào các mục tử ( giám mục) Kính trọng lắng nghe tiếng nói của các mục tử ( là chính ngài). Tôn sư trọng đạo thì sau đó ngài lại nói những lời về giáo dân như thế. Một gáo nước lạnh dội xuống những trái tim đang chờ những lời an ủi từ ngài.

Đó là ĐC đòi hỏi người giáo dân phải lắng nghe, kính trọng, tôn sư với ngài. Còn về '' trọng đạo'' của ngài thì sao. ĐC Tri nhún vai, xòe tay trong một điệu bộ rất kịch, miệng cười tươi ông nói

'' giáo hội buồn, chứ tôi đâu có buồn''

Thấy nét mặt của người đối thoại có vẻ ngạc nhiên vì câu nói đó của ngài. ĐC Châu Ngọc Tri giải thích thêm

'' thì tôi làm hết phần việc của mình rồi, còn gì nữa ví dụ như có ai đó xui họ ( giáo dân CD) thì tôi đâu có làm được gì ''

Vâng có lẽ ĐC Châu Ngọc Tri đã hoàn thành trách nhiệm trong vị trí của mình một cách xuất sắc, còn việc thế nào hãy để tòa án của chính quyền Đà Nẵng thay Chúa phán xét số phận của những giáo dân Cồn Dầu trong ngày 27-10 tới đây.

Nhiều tháng trời ròng rã, thân nhân của những người bị giam đã chờ đợi người thân của họ được thả về. Nhưng khi biết chắc chính quyền đã khởi tố và đưa ra xét xử, không trông chờ vào đâu được. Những thân nhân của 6 người bị bắt giam đã xuôi ngược Nam, Bắc để tìm luật sư bào chữa. Hai tháng trời đi lại , có người phụ nữ khi đi mang theo cả con nhỏ đang bú sữa, bình sữa, tã, bỉm lỉnh kỉnh bọc đùm tìm luật sư cho chồng, có người con bỏ học để đi tìm luật sư cho cha.

Vì bận nhiều việc, văn phòng luật sư Dương Hà- Cù Huy Hà Vũ đã phải đắn đo, cân nhắc nhiều lần trước vụ án này. Nhưng sau khi thấy những người phụ nữ dân quê tội nghiệp tất tả mấy lần đến nhờ, và biết họ cũng không tìm được nơi nào có thể yên tâm trông cậy, cuối cùng trong một nỗ lực đáng phục, văn phòng luật Dương Hà- Cù Huy Hà Vũ đã gắng hết sức để nhận bào chữa cho các giáo dân Cồn Dầu.

Ngày 20-10 các luật sư có đến viện, tòa Cẩm Lệ để làm thủ tục bào chữa. Nhưng nơi này nói ngày 20-10 là ngày phụ nữ Việt Nam không làm việc. Chưa có quy định nào của nhà nước Việt Nam nói được nghỉ làm ngày 20-10, thế nhưng ông Nguyễn Bá Thanh vừa trúng cử một mình thì các cơ quan chính quyền trên đất ông cai quản lại tùy tiện đặt lệ trên cả quy định nhà nước. Đây là sự gây khó cực kỳ cho các luật sư vì họ từ Hà Nội vào làm việc, phải chờ đợi các cơ quan hành pháp Đà Nẵng trong khi ngày xử đang đến gần.

Được biết một số người bị bắt giam đã làm cam kết với công an Đà Nẵng là không thuê luật sư. Tất nhiên không bỗng dưng một bị cáo nào lại tự nhiên vô cớ làm cam kết từ chối luật sư cho mình, và cam kết như vậy có giá trị pháp lý không, tại sao lại cam kết là những câu hỏi thật khó hình dung nguyên nhân.

Thêm điều khó hiểu nữa là khi các luật sư bị từ chối một cách vô lý, thì chiều hôm đó những nhà có người thân sắp được đưa ra xét xử được khuyến cáo là không nên thuê luật sư bào chữa cho người thân của mình.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam sau đại hội vừa qua đã lập ra '' ủy ban Công Lý- Hòa Bình" đứng đầu ủy ban này làm Giám Mục giáo Phận Vinh ĐC Nguyễn Thái Hợp. Trong một vài cuốn sách viết khi còn là linh mục như cuốn '' Hãy Để Họ Lớn Lên"' linh mục Nguyễn Thái Hợp có nhiều ý phản đối chế độ độc tài chà đạp quyền con người. Trên cương vị linh mục hồi năm 2008 linh mục Nguyễn Thái Hợp đã chủ trì buổi tọa đàm về Biển Đông tại Sài Gòn, nhiều ý kiến của các chuyên gia mời tới tham luận đã được linh mục Nguyễn Thái Hợp ngắt nửa chừng . Gần đây sau khi nhận thêm chức chủ tịch ủy ban Công Lý -Hòa Bình của Giáo hội Việt Nam , Đức Cha Nguyễn Thái Hợp mở lời tuyên bố đầu tiên trên cương vị này khá đanh thép

''Đã đến lúc, chúng tôi nghĩ rằng Hội đồng giám mục cũng như các giám mục cũng phải lên tiếng rõ hơn về vấn đề đó, mặc dù là vấn đề nhạy cảm. Nhưng đó cũng là đóng góp cho con người và cho dân tộc.
Cái quyền đó không chỉ là quyền của người dân, mà là quyền của cả dân tộc, chẳng hạn như vấn đề Biển Đông. Đó cũng là vấn đề nhạy cảm mà đã đến lúc, với tư cách là thành phần của dân tộc, chúng ta cũng nên nghĩ đến chuyện đó.

Đức Cha Nguyễn Thái Hợp còn nói thêm

'' Trên nguyên tắc đất đai là thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng trong rất nhiều trường hợp, chúng ta thấy một số bãi biển đẹp nhất bay giờ bổng dưng được tư hữu hóa một cách chưa được chính đáng bao nhiêu. Thành ra người dân luôn luôn bị thiệt thòi. Có rất nhiều điểm cần phải suy nghĩ và đào sâu hơn.''

Đức Cha Nguyễn Thái Hợp là người có kiến thức và rất '' khôn khéo'', giáo dân hy vọng trên cương vị mới nhận thêm là chủ tịch ủy ban Công Lý- Hòa Bình ngài sẽ có những quan điểm rõ ràng về vụ án Cồn Dầu này trước ngày chính quyền Đà Nẵng mở tòa phiên xét xử.

Gần đây các phát ngôn của một số giám mục thường có quan điểm bất nhất, cho nên hy vọng vào các giám mục cần phải có một đức tin lớn.

Vị giám mục duy nhất trước sau như một quan điểm hết lòng vì giáo dân là Đức Cha Ngô Quang Kiệt đã '' được'' nghỉ. Thay thế ngài là Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, giáo dân Cồn Dầu có đến tận tòa giám mục xin gặp ngài nhưng không được, họ có gửi lại lá đơn kêu cứu, nhưng cho đến nay Tổng Giám Mục Hà Nội, Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn không hề có thái độ gì, dường như ông không hề biết thông tin gì về vụ Cồn Dầu.

BLOG GỐC SẬY

Posted on 26/10/2010 by Nguyễn Hồng Kiên

TS ĐINH HOÀNG THẮNG

Chín ngư dân can trường bị bắt vô cớ trên lãnh hải của Tổ quốc, sau 44 ngày đêm bị Trung Quốc giam giữ và mắc kẹt do gió bão, , đã khóc khi nhìn thấy cờ Tổ quốc trên tàu cứu hộ.


Nỗi vui mừng tột độ khi 9 ngư dân Lý Sơn trên tàu QNg 66478 TS
khi nhìn thấy tàu cảnh sát biển Việt Nam xuất hiện tại Hoàng Sa.
Họ vẫy tay hân hoan chào đón -Ảnh: Đăng Nam – Tấn Vũ

Từ khi Trung Quốc, một cách vô cớ bắt giữ chín ngư dân hiền lành và dũng cảm của huyện đảo Lý Sơn, vẫn không ai nghĩ đây là một khủng hoảng ngoại giao giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhưng tình hình vẫn nóng âm ỉ từng ngày. Cho đến khi có tin kháng nghị của Bộ Ngoại giao ta đòi thả người “ngay lập tức và vô điều kiện” được đáp ứng, chúng ta vẫn chưa hết lo lắng.

Đáng tiếc là chuyện ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc vô cớ bắt trên lãnh hải Tổ quốc mình, bị tịch thu ngư cụ, phải nộp tiền phạt, thậm chí còn bị đánh đập là chuyện “thường ngày ở huyện”.

Vẫn biết khủng hoảng ngoại giao phải xuất phát từ một tình thế bế tắc, ở cấp độ nhà nước. Trong trường hợp chín ngư dân Lý Sơn, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã cương quyết đòi thả đồng bào ta ngay lập tức, vô điều kiện và Trung Quốc sau nhiều trì hoãn, cuối cùng cũng chấp thuận. Như thế ở đây chưa đến mức khủng hoảng.


Trên chiếc tàu đánh cá , vị thuyền trưởng vẫy chào người thân
đang chờ đợi mình trở về – Ảnh: ĐĂNG NAM – TẤN VŨ

Theo Bí thư huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện đảo Lý Sơn Võ Xuân, địa phương đã vận động thêm tàu của ngư dân tham gia cùng tàu cứu hộ đưa đồng bào vào bờ. Huyện sẽ trang trải mọi chi phí cho tàu ngư dân làm nhiệm vụ nói trên.

Tính đến nay là đã mười ngày kể từ khi nhận được tin chín ngư dân trên tàu cá QNg 66 478 TS của ông Mai Phụng Lưu còn sống ngoài quần đảo Hoàng Sa. Ngay cả khi áp thấp nhiệt đới đã tan, bão số 6 đã qua nhưng trong lòng những người thân của chín ngư dân trên đảo Lý Sơn vẫn như có lửa đốt.

Được tin người thân trên đường về, nhưng “mắt chưa thấy lòng vẫn lo”. Không rõ tình trạng của những người bị hại như thế nào từ những ngày giữa mênh mông sóng dữ, phải dùng chăn mền làm cánh buồm vì không còn giọt nhiên liệu nào trên tàu nữa?


Ký kết biên bản bàn giao tàu cá và 9 ngư dân Lý Sơn
ngay trên tàu ngư chính trước khi các ngư dân được tàu Cảnh sát biển Việt Nam
dẫn về đất liền – Ảnh: Tấn Vũ – Đăng Nam


Bắt tay trao trả 9 ngư dân cùng tàu cá QNg 66478 cho Việt Nam
- Ảnh: Tấn Vũ – Đăng Nam

Suy ngẫm về cách hành xử của Trung Quốc mà thấy lạ! Bắt giam công dân nước ngoài (với một nước Trung Quốc tự nhận có quan hệ bạn bè tốt, láng giềng tốt) mà cả tháng trời không cho thăm lãnh sự, lúc thả người giữa biển không cấp bộ đàm, không cấp nhiên liệu, (lúc đầu) không báo cho quốc gia có người bị hại địa điểm, thời gian, nơi chốn thả…

Tình thần dân tộc, tư thế quốc gia

Vừa chứng kiến câu chuyện cổ tích thời hiện đại của Chile trong vụ giải cứu 33 thợ mỏ, không thể không liên tưởng đến tình cảnh của ngư dân ta. Hai hoàn cảnh “hơi bị” giống nhau, mặc dù không được quên, một bên là trời hại, một bên do người hại!

Trên thực tế nhà nước ta đã có thái độ kịp thời, kiên quyết trong việc đòi thả những ngư dân bị bắt vô cớ. Tuy nhiên, thông tin có lúc mù mờ như vừa qua thì dư luận bức xúc là chính đáng, vì không thể để phó mặc ngư dân giữa muôn trùng hiểm nguy. Ở đây không chỉ việc phải khẩn cấp cứu ngư dân mà còn là vấn đề tinh thần dân tộc, tư thế quốc gia!

Rồi đây liệu Việt Nam và Trung Quốc có ngồi lại để rút kinh nghiệm? Có lập đường dây nóng cấp thừa hành để tránh những tình huống như thế này?

Câu chuyện chắc không đơn giản như lòng mong muốn chân thành của phía bị hại! Muốn tránh những vụ việc như thế này, phải đàm phán và thỏa thuận ở cấp hoạch định chính sách.

Cần phân biệt hai tình huống: Ngư dân bị bắt khi đi lạc vào hải phận nước khác và ngư dân bị bắt ngay trên lãnh hải của tổ quốc mình. Nhưng dù tình huống nào thì thế giới văn minh vẫn tìm ra những cách hành xử văn minh.

Chuyện ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc vô cớ bắt trên lãnh hải Tổ quốc mình, bị tịch thu ngư cụ, phải nộp tiền phạt, thậm chí còn bị đánh đập là chuyện “thường ngày ở huyện”. Không chỉ cư dân mạng mà đồng bào cả nước đã và đang theo dõi sát sao số phận của chín con người không may. Mong sao họ được đón như những chiến binh dũng cảm đã góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Tiếc rằng các điều kiện ở Việt Nam chưa hội đủ để họ được chào mừng như những người thợ mỏ Chile!

Với Trung Quốc, chúng ta càng nên tránh để bị kích động tinh thần dân tộc.

Nhớ lời lời Bác dặn: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng!”. Đành rằng, nhân nhượng phải có nguyên tắc!

Thỏa hiệp vô nguyên tắc hay kích động hiềm khích giữa hai dân tộc Việt-Hoa đều có thể dẫn đến những tai hại như nhau!

Mong sao chín ngư dân ta được an lành, khỏe mạnh, được hỗ trợ sau lâm nạn thì xót xa sẽ vợi bớt và nguôi ngoai dần.

Tuy nhiên, nỗi lo vẫn còn đấy! Chừng nào Trung Quốc chưa thay đổi yêu sách đòi 80% diện tích toàn Biển Đông, vẫn độc chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam, thì những chuyện tương tự vẫn có thể xảy ra mà ta chưa làm được gì nhiều để ngăn cản.

Cũng may vụ Lý Sơn không có những diễn biến xấu hơn, nếu không nó sẽ để lại dấu ấn tiêu cực trong năm hai nước Việt – Trung đang kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.

Đối với khu vực nói chung và ASEAN nói riêng, câu chuyện Lý Sơn Việt Nam càng cho thấy nhu cầu cấp bách của việc Trung Quốc và ASEAN cần gấp rút và nhanh chóng đi đến thỏa thuận về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) thay cho Tuyên bố chính trị cách đây 8 năm (DOC).

Một vấn đề cấp bách và sống còn đối với hàng triệu triệu người dân trong khu vực và trên thế giới không thể cứ “câu giờ” mãi như thế.

Một lời hứa từ một nước lớn vẫn tự coi là có trách nhiệm ở cấp vùng và trên toàn cầu mà sau 8 năm vẫn không thực hiện thì sao còn là lời hứa nữa?!

BLOG DA VÀNG

Posted on Tháng Mười 25, 2010 by Da Vàng

Lâu nay chúng ta đã quen với việc duy nhất là phải chấp nhận những quyết định mà quên đi chúng ta có quyền phản biện nếu phát hiện thấy những tác hại do những quyết định ấy gây ra.

Trần Minh Quân


Ảnh: Time

Sau một thời gian im lặng đến lạ kỳ của báo chí, trong những ngày vừa qua hầu hết các báo đều đăng tin liên quan đến Bô xít Tây Nguyên, từ những bài tham luận của các nhà chuyên môn, đến những bài phỏng vấn của các cá nhân mà tiếng nói của họ rất có trọng lượng.

Qua các bài báo này, có rất ít ý kiến ủng hộ dự án Bô xít. Trong số các ý kiến ủng hộ, ta chỉ thấy những quan điểm yếu ớt, thiếu thuyết phục của một vài cá nhân hiện đang làm việc tại Tập đoàn Than và Khoáng sản VN (TKV) như ông Lê Dương Quang và Bộ trưởng Bộ TM – MT Phạm Khôi Nguyên, …

Về phía không ủng hộ. Ngoài những lập luận hết sức thuyết phục của các cá nhân cùng ký tên vào bản kiến nghị dừng dự án Bô xít đã nêu lên trong bản kiến nghị, dư luận đặc biệt chú ý đến ý kiến của các nhà khoa học có thâm niên về chuyên môn như TS Nguyễn Thành Sơn, Ông Nguyễn Văn Ban, PGS.TS.Nguyễn Đình Hòe, các đại biểu Quốc Hội như ông Dương Trung Quốc, Ông Nguyễn Minh Thuyết, GS Nguyễn Lân Dũng, Ông Lê Quang Bình, … cựu cán bộ chính phủ như GS Chu Hảo, GS Đặng Hùng Võ, …

Đọc lướt qua các bài báo, bài phỏng vấn này, một đặc điểm dễ nhận thấy là đa số đều nêu ý kiến lo ngại sâu sắc, từ hiệu quả kinh tế đến an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội, đặc biệt là lo ngại những tác hại đến môi trường của dự án.

Các ý kiến này càng được thuyết phục hơn khi đa số họ là những người không liên quan gì đến dự án, nói cách khác, họ không có có những quyền lợi gì đi kèm theo dự án, tiếng nói đó là tiếng nói độc lập, trung thực xuất phát từ tấm lòng của một người công dân biết trăn trở với thời cuộc, canh cánh với nỗi lo cho vận mệnh dân tộc và giống nòi Việt Nam.

Những vụ vở hồ chứa bùn đỏ được TS Nguyễn Thành Sơn chỉ ra trên khắp thế giới và gần đây nhất là ở Hungary là những minh chứng hùng hồn nhất. Hồ chứa bùn đỏ treo lơ lững trên cao nguyên thực sự là một mối nguy hại tiềm tàng khủng khiếp.

Còn theo ông Đặng Hùng Võ thì “chúng ta đừng loanh quanh chấp nhận một tiên đề duy nhất là dứt khoát phải khai thác bô xít”. Đúng vậy, lâu nay chúng ta đã quen với việc duy nhất là phải chấp nhận những quyết định mà quên đi chúng ta có quyền phản biện nếu phát hiện thấy những tác hại do những quyết định ấy gây ra. Đây chính là cơ hội để chứng minh sực mạnh của phản biện xã hội và tập hợp được trí tuệ của toàn xã hội khi đất nước có những sự việc quan trọng.

Có một số ý kiến cho rằng dự án Bô xít đã đầu tư hàng trăm triệu USD (khoảng 400 – 600 triệu USD), nếu dừng dự án thì đây là một tổn thất rất nặng nề về mặt kinh tế. Theo GS Đặng Hùng Võ thì “400 triệu USD không nói lên điều gì cả, vấn đề là tương lai chúng ta sẽ thế nào”. Đúng vậy, tương lai của hàng triệu người, tương lai của một vùng đất rộng lớn đang thấp thỏm lo sợ những tác động, nguy cơ tiềm ẩn của dự án mới là điều đáng quan tâm. Trong khi một mình Vinashin đã làm thất thoát hàng tỉ USD thì con số 400 triệu USD có bị mất đi để đổi lấy sự an tâm lâu dài, để giữ gìn bản sắc văn hóa của Tây Nguyên, để bảo đảm an ninh quốc phòng tại một vị trí xung yếu – nóc nhà Đông Dương tính ra là quá rẻ.

Những ý kiến góp ý chân thành của một số người nặng lòng với đất nước trong thời gian qua ít nhiều đã có tác dụng nhất định. Bằng chứng là lời hứa sẽ xem xét và tổng hợp ý kiến để báo cáo lên Bộ Chính trị của người đại diện cho Chính phủ, Chủ nhiệm VPCP Nguyễn Xuân Phúc. Hy vọng rằng lời hứa của ông Nguyễn Xuân Phúc cũng thật tâm và người dân đang chờ những quyết định sáng suốt từ các vị lãnh đạo cao nhất.

Để đi đến kết quả cuối cùng phù hợp với đa số ý kiến của các nhân sĩ, trí thức kể trên thực sự là một vấn đề nan giải, cần nhiều thời gian và ý thức tiếp nhận thông tin của nhiều người. Nhưng dẫu sao, những trăn trở này cũng là một dịp để thể hiện sức mạnh trí tuệ xã hội và quan trọng hơn là một phép thử của tiếng nói phản biện xã hội vốn đang lạc lõng, yếu ớt.

• T.M.Q

BLOG HIỆU MINH

Một số bạn đọc đề nghị nên viết entry Điên Biên Phủ và Tây Nguyên thành một bài báo hoàn chỉnh để đăng trên các tờ của bác 4T. HM thấy hợp lý nên đã sửa lại và thêm vào một chút. Bài gửi cho Tuần Việt Nam, mục của bạn KD.

Chúc các bạn vui cả tuần vì bauxite sôi động. Nhưng nhớ bình luận một cách xây dựng, chớ để “bùn đỏ” vùi mất blog nha…

Chuyện của đàn sếu

Khi tôi viết những dòng này thì Washington DC đang vào mùa Thu. Bên đường cao tốc, trong công viên, cây cối bỗng chuyển sang mầu vàng xen đỏ rực rỡ. Những cánh rừng đa sắc mầu pha nắng trời Thu phản chiếu trên mặt hồ phẳng lặng, đẹp đến mê hồn.

Hai cậu con trai chơi trong công viên đang chạy nhảy. Bỗng có tiếng kêu của đàn sếu bay qua. Hai đứa ngẩng lên và hỏi “Tại sao chim di cư lại bay thành hình chữ V”.

Tôi từng xem bộ phim đen trắng của Liên Xô “Khi đàn sếu bay qua” gây bao xúc động cho người xem về cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của người Nga. Boris, người yêu của Veronica (nhân vật nữ chính trong phim), bị bắn chết ở đầm lầy, khi đang cứu một binh sĩ khác. Trước khi nhắm mắt, Boris bỗng thấy đàn sếu bay qua hình chữ V. Và chi tiết đó cũng nhắc lại trong đoạn kết của bộ phim khi Veronica ngước nhìn bầu trời khi nàng đứng trên sân ga.

Lúc đó 14-15 tuổi, tôi hỏi các anh chị lớn tuổi tại sao sếu lại bay như thế. Họ chỉ giải thích “V” là chữ Victoria – biểu tượng của chiến thắng. Boris tin vào chiến thắng ngày mai và Veronica tin vào mùa Xuân đang đến vì đàn sếu quay về.

Sau này tìm hiểu kỹ, tôi mới biết chữ V của đàn chim di cư liên quan đến sự đoàn kết của bầy đàn. Con chim đầu đàn luôn là con khỏe mạnh nhất, thông minh nhất. Chúng dựa vào từ trường, dãy núi, cánh đồng, thành phố làm mốc, hướng mặt trời, trăng, sao để định hướng cho chuyến bay dài hàng ngàn cây số.

y hình chữ V có hình mũi tên mang tính khí động học, chim sau dựa vào con bay trước để bớt sức cản của gió, đỡ mất năng lượng hơn. Con đầu đàn mỏi cánh thì lùi lại cho chim khác tiến lên làm “lãnh đạo”. Cứ thế chúng thay đổi “vai trò” để cả đàn bay được rất xa.

Đó là sự kỳ diệu của thiên nhiên và những loài chim di cư. Chúng biết nương tựa vào nhau, vượt qua bao sông sâu, núi cao, tới một miền đất hứa khác để mùa Xuân sau lại quay về nơi chốn cũ. Sự tồn tại giống nòi dựa trên một triết lý đơn giản: dựa vào nhau và chia sẻ.

Nếu bay đơn độc, con chim không thể tới nơi cần đến cách xa hàng ngàn dặm. Có những đàn chim không tới đích và lao xuống biển, vì con đầu đàn đã định hướng sai, không biết lui khi đã mệt và nhường chỗ hay chia sẻ vai trò dẫn đường đúng lúc. Đó chính là nguyên nhân gây ra thảm họa của cả bầy đàn.

Dự án Bauxite Tây Nguyên và các nhân sỹ

Mấy hôm nay, báo chí đưa tin, bà Nguyễn Thị Bình và nhiều nhân sỹ trí thức đã gửi thư tới lãnh đạo Đảng và Nhà nước “khẩn thiết yêu cầu” xem xét lại việc khai thác bô-xít Tây Nguyên. Thảm họa bùn đỏ vừa qua tại Hungary cũng là một cảnh báo khác về dự án đang tranh cãi này.

Theo họ, việc xét lại dự án và nếu phải dừng thì cũng là “một quyết định rất đau đớn chưa hề có trong lịch sử kinh tế Việt Nam và sẽ là một tổn thất lớn mà nền kinh tế phải chịu đựng, nhất là Nhà máy chế biến alumina Tân Rai đã hoàn thành một phần lớn và đã làm được nhiều việc quan trọng trong triển khai dự án Nhà máy Nhân Cơ”.

Vụ bùn đỏ Hungary thật không may cho nước bạn, nhưng cũng là dịp hiếm có “nhìn lại mình” của chính chúng ta tại các dự án bauxite. Từ tai nạn của họ để rút ra bài học cho nước mình.

Nếu khai thác bauxite, những nhà khoa học lo mấy triệu tấn bùn đỏ trên Tây Nguyên như một quả bom hẹn giờ, sẵn sàng nổ bất kỳ lúc nào ngoài ý muốn của con người. Chưa kể một nền văn hóa lâu đời của Tây Nguyên sẽ bị “bùn đỏ” cuốn trôi. Khi đó một “tàu Vinashin” khác lại tiếp tục chìm và tầm ảnh hưởng về kinh tế, chính trị còn lớn hơn rất nhiều.

Không phải ngẫu nhiên mà các trí sỹ, kể cả Đại tướng dù đã 100 tuổi, rồi bà Nguyễn Thị Bình, đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ khai thác bauxite Tây Nguyên, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, an ninh quốc phòng và khả năng thất bại của dự án.

“Chỉ có lòng dũng cảm và ý thức trách nhiệm tuyệt đối với vận mệnh quốc gia” của các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước, cùng “sự thông cảm” của nhân dân cả nước “mới đủ sức đi tới thực hiện quyết định khó khăn này”, các nhân sĩ nhấn mạnh.

Điện Biên Phủ – chiến lược bàn lùi của vị tướng

Một blogger đã ví chuyện này như trận Điện Biên Phủ năm xưa.

Chúng ta còn nhớ ngày 14-1-1954, tại hang Thẩm Púa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó mới 43 tuổi, phổ biến lệnh tấn công mật với dự định tiêu diệt căn cứ Điện Biên Phủ trong 3 ngày đêm bằng chiến dịch biển người.

Mười ngàn (10.000) quân Pháp cố thủ trong hầm ngầm chọi với 50 ngàn quân Việt Minh phơi lưng trên cánh đồng trống trải.

Lẽ ra cuộc tấn công dự định vào ngày 20-1-1954 nhưng một đơn vị đại bác vào trận địa chậm nên ngày nổ súng được lui lại vào 25-1. Sau đó bị lộ nên ngày tấn công dự định vào 26-1.

Sau một ngày và đêm suy nghĩ, Đại tướng đã tìm ra vài nguyên nhân không thể thắng như, quân ta chưa thành công trong việc tấn công các cứ điểm lô cốt liên hoàn như của Pháp tại đây. Pháo binh và bộ binh chưa qua tập luyện, chưa qua diễn tập để tham gia một trận tấn công mang tính liên hoàn. Quân ta quen chiến tranh du kích, công đồn vào ban đêm trong khi lúc đó bộ chỉ huy mặt trận định mở cuộc tấn công vào ban ngày trên địa hình bằng phẳng trong lúc đối phương có ưu thế về hầm ngầm, máy bay, pháo binh và xe tăng hỗ trợ.
Sáng 26-1-1954, Bộ Chỉ huy mặt trận họp và không đi đến được ý kiến thống nhất. Đại tướng hỏi, ai tin rằng trận này sẽ chắc thắng, không ai trả lời được. Vị tướng trẻ tài ba đã quyết định hoãn cuộc tấn công chiều hôm đó.

Ông cho rằng, phương án “đánh nhanh thắng nhanh” mang nhiều tính chủ quan, không đánh giá đúng thực lực hai bên không thể đảm bảo chắc thắng. Vị tướng quyết định tổ chức lại trận đánh theo phương án “đánh chắc thắng chắc” dài ngày theo kiểu “bóc vỏ” dần tập đoàn cứ điểm.

Số phận của đế chế Pháp tại Đông Dương được quyết định bởi chiến lược…“bàn lùi” của Đại tướng.
Pháo đã kéo vào trận địa, quân đã ém, sẵn sàng đợi lệnh tấn công. Nhưng phút chót phải kéo pháo ra, rút quân khỏi chiến hào. Cuộc chiến không phải 3 ngày mà kéo dài 55 ngày đêm kể từ trận xuất kích đầu tiên vào tháng 3 năm đó.

Theo lời kể của Đại tướng thì đây là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Làm tướng phải biết cương nhu, biết tiến, biết lùi. Nếu chỉ dùng ý chí và thuật biển người thì số phận của nước ta có thể đã khác.

Quyết định của ông gây hệ lụy cho hàng trăm ngàn binh lính, dân công, và cả nước phải chờ thêm 5 tháng nữa thay vì 3 ngày. Một sự tốn kém khủng khiếp nhưng quyết định “lùi” đó có thể đã tránh cho dân tộc này một đại bại trong chiến tranh và một thảm họa lịch sử.

Một người bạc tóc hay 85 triệu người bạc tóc

Chuyện đàn sếu và dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên không liên quan gì đến nhau. Và chiến trận Điện Biên cũng không có gì ảnh hưởng đến khai thác quặng. Nhưng có vài điểm đáng học ở loài chim di cư và thủ thuật binh pháp của tướng Võ Nguyên Giáp.

Trong lịch sử phát triển của nhiều quốc gia, trong những thời điểm nhậy cảm, nhiều vị lãnh đạo đã phải biết “lùi” đúng lúc để đưa đất nước tiến lên hay tránh thảm họa.

Người lãnh đạo cũng như con chim đầu đàn của đàn chim di cư. Đưa con thuyền dân tộc tới bến là do người cầm đầu. Làm cho con tầu chìm giữa biển khơi cũng phần lớn do người cầm lái. Người lãnh đạo biết chia sẻ trách nhiệm với nhân dân thì con tàu quốc gia sẽ đi xa.

Nếu chỉ biết lo cho mỗi cá nhân mình hay lợi ích nhóm thì giống như con chim đầu đàn tham quyền cố vị, dù già cỗi và mệt mỏi nhưng không muốn nhường ghế, để cuối cùng cả đàn mất phương hướng và lao đầu xuống biển.

Vị tướng 43 tuổi thời Điện Biên biết…“bàn lùi” trước khi quá muộn. Rất có thể ông nhớ đến Tôn Tử binh pháp “Biết người biết ta, trăm trận không nguy. Không biết người mà chỉ biết ta, một trận thắng một trận thua. Không biết người, không biết ta, mọi trận đều bại”.

Khi quyết định khai thác bauxite Tây Nguyên liệu người duyệt dự án cao nhất đã hiểu hết người xưa định nói gì? Hoặc đơn giản, chỉ cần học lại lịch sử Điện Biên Phủ hay đọc hồi ký của Đại tướng về sự “nhu cương”, “tiến lùi” đúng lúc, có thể tránh được hiểm họa tương lai.

Có ai ngồi suy ngẫm về khả năng thất bại của dự án như tướng Giáp đã từng thức trắng đêm khi ngồi trước bản đồ lòng chảo Điện Biên tại hang Thẩm Púa năm xưa?

Để một người bạc tóc, hay cả dân tộc 85 triệu phải bạc tóc. Đó chính là cái tâm, cái tầm của người lãnh đạo quốc gia.

Chợt nhớ câu hỏi của hai con. Tôi giải thích cho các cháu rằng, chữ V của đàn sếu bay qua là biểu tượng của sự đoàn kết, chia sẻ trách nhiệm của bầy đàn. Chính điều đó đã mang đến mùa Thu vàng phẳng lặng, các con vui chơi hạnh phúc dưới trời xanh. Bởi vì dân tộc ấy biết học cách tồn tại của những đàn chim di cư.
Khi đó mới mong có được biểu tượng hình chữ V (Victoria – chiến thắng) và kể cả chữ Việt Nam bay trên trên bầu trời nhân loại.

Hiệu Minh. 24-10-2010

BLOG NGUYỄN QUANG THÂN

Nguyễn Quang Thân

Ngoài công cuộc cứu trợ rất quyết định của chính quyền và quân đội, chúng ta gặp lại những
hành động, cử chỉ cảm động của người dân, những nhóm, những tổ chức xã hội đến với bà con vùng
lũ như ta thường thấy. Từ em bé đến cụ già, từ người nghèo đến đại gia, dù đang gặp “lũ” trong suy
thoái kinh tế toàn cầu và giá cả sinh hoạt không ngừng lên cao, vẫn “múc bụng” mình cứu trợ vùng
bão. Thiên tai như cơn lốc làm bật lên những tấm lòng vàng bị giấu kín trong cuộc sống vất vả thường
ngày.

Cuộc cứu trợ mới bắt đầu nhưng báo chí cũng đã đăng rải rác và chắc sẽ mỗi ngày một nhiều hơn
phản ảnh chuyện tiêu cực giống những năm trước. Đại loại như tiền và hàng cứu trợ được phân phối
không công bằng, bị xà xẻo, thậm chí bị hờ hững theo kiểu dân cần nhưng quan không vội. Vẫn có
thể xẩy ra như mọi năm một số hàng cứu trợ kém phẩm chất, gạo mốc, thịt hộp quá đát, một số cá nhân
hay doanh nghiệp dùng hỗ trợ lũ lụt để PR hứa lèo mười voi không bát xáo…

Phải nói rằng việc cứu trợ là hành động của con tim, của “bài học làm người” ( lời TT Chi Lê
sau vụ cứu thợ mỏ) nhưng khi được lặp đi lặp lại năm này năm khác một cách thụ động “nước đến chân
mới nhảy”, cùng một phương pháp, một kiểu cách, một số hàng hóa nhất định (như mì tôm) v.v. chắc
chắn sẽ làm mọi người mỏi mệt. Với nước ta, lũ lụt không phải là chuyện lạ, chuyện mới. Vậy thì tại
sao chính quyền, các tổ chức xã hội và cả dân chúng vẫn luôn phải thụ động và lúng túng đối phó?
Chuyện đã xưa như trái đất, nhưng bao nhiêu năm trôi qua mà vẫn chưa có được một kế sách lâu dài
đối với vùng lũ? Tuy phương tiện thông tin và kỹ thuật tối tân vượt bực đã làm việc cứu trợ có hiệu
quả hơn thời Vũ Trọng Phụng trong Vỡ Đê, nhưng cái khốn khó của người dân, cái bất lực của cứu
trợ thì vẫn còn đó.

Ngân sách Nhà nước và quỹ dự trữ quốc gia năm nào cũng phải bỏ ra một số tiền gạo rất lớn để
cứu trợ lụt bão ở một số vùng hầu như chúng ta đã biết trước. Đã ai nghĩ tới chuyện sử dụng tài lực này
chủ động hơn và có hiệu quả hơn đối với những vùng trọng điểm thiên tai? Ví như giúp dân (cho vay
hay tài trợ) đóng thuyền con, thậm chí thuyền thúng thay vì vài chục cái ca nô để cứu hàng chục vạn
người bị cô lập trong biển nước? Một cái thuyền con cho mỗi gia đình vùng lũ có giá trên dưới một
triệu đồng nhưng có thể cứu được nhiều mạng người, nhiều của cải có giá trị gấp hàng trăm lần.

Cũng có thể giúp mỗi hộ vùng trọng điểm xây dựng một cái chòi chống lũ để người dân tự chủ, tự cứu
mình và tài sản, đặc biệt là lương thực và nước sạch như một số đồng bào ở miền trung đã làm một cách
hiệu quả? “Một cái thuyền, một cái chòi cho mỗi gia đình vùng lũ”, mục tiêu ấy có thể đạt bằng
nhiều cách nhưng chắc chắn trong tầm tay. Chẳng hạn chỉ cần khoảng 20 tỷ đồng là đủ sắm cho 20.000
hộ dân vừa bị ngập ở Hà Tĩnh mỗi hộ một cái thuyền con. Sao vẫn chưa có đề tài nghiên cứu đầu tư
một công cụ đưa lại lợi ích lớn như thế? Đã có ai nghĩ tới một “thực đơn” cứu trợ cho vùng lũ ngoài
mì tôm? Những ý nghĩ bất chợt ấy nhất định quá thiếu sót cho nên đòi hỏi phải có một kế sách,
một chiến lược lâu dài trên cơ sở những nghiên cứu nghiêm túc. Tình thương đùm bọc, nhiệt tình cứu trợ
không thể thay thế trí tuệ của đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học hiền tài.

Vấn đề cuối cùng là, chúng ta đã đặt lên bàn cân vĩ mô phương án chủ động phải sống chung với
thiên tai khi biết chắc rằng chưa có cách gì loại trừ chúng hay chỉ là kêu gọi tình thương lúc hữu sự?
Ông Lê Huy Ngọ, nhà “cứu trợ” nhiệt tình cấp quốc gia được dân biết nhiều trước đây vừa mới phát
biểu với báo chí: “Bây giờ có một bàn tròn nho nhỏ để trao đổi về chuyện cứu trợ bão lụt là ý tưởng
hay. Nếu thực hiện được việc này, tôi nghĩ nên kêu gọi cả Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão của các
tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị... để bàn làm sao việc ủng hộ được thiết thực hơn”
( trích)

Một phát biểu rất hay nhưng xin phép đặt vài câu hỏi: Tại sao “bây giờ” mà không phải mấy
năm trước? Tại sao lại “bàn” mà không nghĩ tới những đề tài khoa học nghiêm túc cấp nhà nước? Có
câu nói của nhà văn Maxim Goocki: “ Mujich Nga không mất mùa trên cánh đồng mà ở trong đầu”,
có thể nói thêm: thiên tai cũng đến từ những cái đầu lười suy nghĩ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét