Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

Ghé thăm các Blog 7/10/2010

BLOG DR.NIKONIAN
Posted on 29/09/2010 by drnikonian

“Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”*

1. Trong số những kẻ viễn chinh đã đặt chân đến đất nước chúng ta, có lẽ không kẻ nào bị căm ghét và dè chừng như người Tàu. Thật vậy, hãy nhìn vào thái độ hiếu hòa, cởi mở của số đông người Việt dành cho văn minh Âu Mỹ, Nhật Bản. Người Việt ngày nay, cũng như dưới thời bị cai trị, không mấy khó khăn lấn cấn khi tiếp xúc, đón nhận những điểm sáng từ các nền văn hóa, khoa học kỹ thuật ấy để biến thành vốn liếng và di sản của mình. Chữ quốc ngữ, trường Viễn Đông Bác cổ, Đại học Y khoa Đông dương, chiếc áo dài của hoạ sĩ Lê Phổ… hay gần đây nhất là giải thưởng toán học từ Đại học Princeton của một người Việt là những minh họa điển hình cho thái độ cầu học không hề hẹp hòi của người Việt.


Thái độ đón nhận văn hóa Trung Hoa, không được như thế!

2. Trong một bài phỏng vấn mới đây, học giả Hữu Ngọc có đề cập đến một khái niệm do UNESCO đề xướng: Tiếp biến văn hóa (acculturation). Theo Hữu Ngọc, tiếp biến văn hoá xảy ra “khi hai nền văn hóa gặp nhau, mỗi nền văn hóa sẽ mất đi một ít và thu về một ít để tạo ra cái mới”.

Định nghĩa về tiếp biến văn hóa của UNESCO, một vấn đề muôn thuở, không thể áp dụng cho văn minh Trung Hoa khi tiếp cận với văn hóa Việt. Ngoài công khai hóa về nông nghiệp của Sĩ Nhiếp, nền cai trị của người Tàu hơn 1000 năm trên đất nước của chúng ta có thể tóm gọn vào hai chữ: áp đặt và đồng hóa. Nền văn hóa ngạo mạn ấy, chỉ muốn lấy đi mà không trao tặng, loại trừ tất cả các giá trị không giống mình, sẵn sàng miệt thị đất nước văn hiến của chúng ta là bọn Nam man. Cũng chính những kẻ cai trị ấy, đã thẳng tay đốt kinh sách, hủy diệt không thương tiếc những tàng thư văn hóa của đất nước này. Chính những kẻ kiêu ngạo và cực kỳ tham lam ấy, đã bắt các vua chúa Việt Nam tiến cống danh sĩ, nghệ nhân, mỹ nữ… sang Tàu, thay vì để cho các giá trị văn hóa sống động ấy triển nở ngay trên quê hương của họ.

Cuộc cai trị của người Tàu trên đất nước chúng ta đầy hung hãn và áp đặt. Và rất ít tính khai sáng, như nó đã đồng hành với mọi cuộc xâm lăng từ một nền văn minh khác.

3. Hiểu như vậy, không lạ lùng khi thấy thái độ dè chừng, tự vệ (đúng nghĩa) đã ăn sâu vào tâm thức Việt tự bao đời. Từ việc đồng lòng ném đá chôn vùi cột đồng Mã Viện xấc xược, cho đến thái độ ngoại giao mềm mỏng: thần phục bên ngoài nhưng vẫn nuôi binh phòng thủ của các vương triều Việt Nam…, đều là những ví dụ minh chứng rõ ràng cho thái độ đối kháng ngấm ngầm của bao thế hệ người Việt. Nó đã là tâm thức dân tộc, nó mang tính di truyền và là một phần căn tính của người Việt để không bị đồng hóa hay xóa sổ trước một nền văn minh lớn và hung hãn dường ấy.

1000 năm đô hộ, người Việt đã không bị đồng hóa. Ít có dân tộc nào bị cai trị trong một thời gian quá dài như vậy, bởi những kẻ dã tâm thì thừa mà tâm khai sáng thì thiếu, lại có thể trường tồn và giữ gìn được bản sắc riêng. Đó là một phép lạ lịch sử ngoại hạng.

Sự tồn tại của văn hóa Việt sẽ không được xem là phép lạ mà là lẽ đương nhiên, nếu hiểu và chấp nhận thái độ cảnh giác cố hữu trước nền văn minh Trung Hoa vĩ đại.

4. Từ góc độ đó, có thể hiểu được căn nguyên của những ý kiến phản đối, chỉ trích dành cho bộ phim Đường đến thành Thăng Long. Trừ một thiểu số, chưa ai được xem từ đầu đến đuôi bộ phim này, ngoại trừ một vài trích đoạn. Mà dù chỉ vài thước phim ngắn ngủi, không ai có thể chối cãi một điều: ngoại trừ khoản nói tiếng Việt, người ta không thấy sự khác biệt giữa nó và những phim cổ trang Tàu đang chiếu nhan nhản trên TV Việt hàng đêm.

Rất tiếc, các cổ sử của chúng ta, không đủ phong phú để làm tư liệu cho một bối cảnh thuần Việt. Mà sự thuần Việt này chưa hẳn đã có, sau cuộc giao thoa văn hóa với người Tàu qua nhiều thế kỷ. Công luận lên án cái sự ăn mặc giống vua chúa Tàu. Nhưng mặc sao cho ra vua chúa Việt Nam thì không đủ cứ liệu. Mà nếu trách phim ta giống Tàu, chắc cũng hơi oan! Vì nếu tái hiện hình ảnh cụ Phan Chu Trinh cắt tóc ngắn, mặc veste đeo nơ… rất Tây, không lẽ là bôi bác hình tượng ái quốc sáng chói của cụ Phan hay sao?


Cụ Phan Chu Trinh

Gilbert Trần Chánh Chiếu, người mang quốc tịch Pháp
và là một trong những mạnh thường quân về tài chính
cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

Cái sự giống Tàu, trong chừng mực nào đó là điều dễ hiểu (tuy khó chấp nhận). Chỉ có điều, ĐĐTTL được xem là một vật phẩm văn hóa, cung tiến tổ tiên trong dịp đại lễ ngàn năm Thăng Long, chứ không phải là một bộ phim thương mại thuần túy. Cái sự chướng mắt là từ đây. Nó cũng na ná như việc mời đầu bếp Tây làm bánh ga tô cúng ông bà trong đêm trừ tịch (?), thay vì tấm bánh chưng xanh thuần Việt.

5. Lại có ý kiến theo kiểu cái gì không hợp nhãn, không thuận tai thì cấm, đề xuất cấm chiếu ĐĐTTL. Thiết nghĩ, đây là một thái độ cực đoan cần tránh. Cấm đoán thì khi nào cũng thế, là biểu hiện của sự bất lực và tự ti. “Quản” không được thì cấm tiệt, là cung cách của những nhà quản lý bất tài.

Trong số đông 80 triệu người Việt xem phim, không ít kẻ đã no nê với phim truyện Tàu nhan nhản hàng đêm. Lại chiếu vào dịp đại lễ Thăng Long, có thể nó là một sự đánh đồng văn hóa bất kính và thô thiển. Không thể cấm nó như một sản phẩm thương mại, thậm chí rẻ tiền. Nhưng xin đừng hồ hởi đánh bóng, bốc thơm nó, như một lễ vật văn hóa cung tiến cha ông.

Còn tôi ư? Có thể tôi sẽ xem nó với gia đình, vì tò mò, hay để giết thời gian. Nhưng chắc chắn, tôi sẽ căn dặn các con tôi nhớ lấy những lời đầy hùng tâm tráng khí của bậc thượng trí Nguyễn Trãi, mỗi khi đối diện với bất cứ mưu đồ đồng hóa của ngoại nhân:
“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hóa đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”


Giữ thái độ tiếp biến văn hóa đúng mực mà không nô dịch hèn hạ bằng chính nội lực của mình, há chẳng tốt hơn bài xích, cấm đoán, ngăn chặn những gì không giống mình hay sao?

Với tâm thế đó, hãy trả cho ĐĐTTL về đúng vị trí thương mại tầm phào của nó. Vậy thôi!

*Lời nguyền của Mã Viện khi chôn cột đồng sau cuộc đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng


BLOG TRANG THE RIDICULOUS
THỨ BẢY, NGÀY 02 THÁNG MƯỜI NĂM 2010

Tôi vừa trở về Hà Nội sau một đợt công tác tại TP.HCM. Như mọi cuộc đi và về khác, chuyến công tác này cũng để lại trong tôi nhiều cảm xúc cả vui và buồn.

Phần lớn là niềm vui, vì những tấm lòng bạn bè miền Nam cởi mở, chân thành, tự nhiên – lẽ ra phải nói là “tự nhiên như người Sài Gòn” mới đúng. Chẳng mấy khi ở Hà Nội mà tôi có thể nắm tay các bạn nhảy múa, có thể hô một tiếng “nhậu đi” rồi kéo nhau ra bờ kè, tức kênh Nhiêu Lộc, ăn uống và đàn hát trắng đêm.

Chẳng mấy khi ở Hà Nội tôi có thể điềm nhiên bước vào một nhà hàng hay quán nước, ngồi vắt chân và chờ cô hay cậu bồi bàn tiến lại, lễ độ: “Dạ, chị dùng gì?”. Tôi sẽ trả lời ngắn gọn và chờ được phục vụ rất nhanh chóng sau đó, gọn gàng, khẽ khàng, không xủng xoẻng như thể sắp làm vỡ ráo cả mớ chén bát, ly cốc. Tôi cũng sẽ không phải nhìn những bộ mặt lạnh băng, và nhất là không bị người phục vụ “khuyến mãi” cho một ngón tay cái ngập vào bát nếu như tôi có lỡ gọi món phở.

Sài Gòn rộng thênh thang, nhiều hàng quán, nhiều đồ nhậu ngon rẻ và nhiều chỗ vui chơi mở cửa tới khuya. Nói chung ở đó, một “người Hà Nội khắc khổ” là tôi có cảm giác được hưởng thụ hơn một chút.

Nhưng sau những niềm vui, cũng đọng lại cả nỗi buồn. Một nỗi buồn, như dân teen bây giờ hay nói, “rất chi là bao đồng”.

Người Hà Nội xấu xí

Nỗi buồn ấy thực chất là cảm giác tủi thân và xót xa khi thấy nhiều người Sài Gòn không ưa Hà Nội đến thế. Điều này được thể hiện một cách không giấu giếm, qua những lời bình phẩm, qua thái độ - vốn chân thật – của người Sài Gòn. Dân Sài Gòn, cụ thể là nhiều người tôi đã gặp, nghĩ về Hà Nội như một cái gì rất thủ cựu, lạc hậu, chậm tiến, đã thế lại còn kênh kiệu, tự cho mình là thủ đô thanh lịch, tóm lại là tệ hại.

Câu cửa miệng là “dịch vụ ngoài đó chán lắm phải không?”, “ngoài đó lừa đảo nhiều lắm phải không?”. Có lần, ở một quán nước trong TP.HCM, khi chúng tôi muốn rời từ bàn này sang bàn khác, bạn tôi ngoắc người phục vụ, ra hiệu “chuyển bàn giùm”. Sau khi chúng tôi đã yên vị ở chỗ ngồi mới, bạn hỏi tôi: “Ở ngoải chắc phục vụ không kê bàn ghế cho khách đâu hả, mình phải tự làm hả?”. Ấn tượng về “phở quát, cháo chửi” in vào tâm trí các bạn quá sâu nặng rồi.

Ăn một món gì đó, tôi cũng có thể được nghe giới thiệu: “Ở ngoài Hà Nội không có cái này đâu nha”.

Thời gian gần đây, gây mất thiện cảm nhất cho người Sài Gòn có lẽ chính là… chiến dịch mừng Đại lễ 1000 năm của Hà Nội. Một chiến dịch gắn với đủ loại bê bối: sơn vàng phố cổ, lát ngói xanh vỉa hè, bươi nát vỉa hè. Hà Nội nghìn năm thành đại công trường khói và bụi. Rồi mùa hè đổ lửa với 45 độ ngoài trời tháng sáu, cúp điện World Cup, ngập lụt mưa tháng bảy. Thủ đô gì mà mưa xuống một tí, ba người chết vì điện giật, một người bị rắn cắn. Rồi hàng tỷ đồng xây cổng chào, làm phim Lý Công Uẩn “lai Tàu”. Vân vân, vân vân. Động vào đâu cũng nghe và thấy bê bối, lãng phí, thẩm mỹ kệch cỡm, văn hóa lùn. Một không khí “nhốn nháo kỷ niệm nghìn năm Thăng Long - Hà Nội”.

Hình ảnh Hà Nội trong mắt người dân TP.HCM giờ đây có lẽ hỏng mất rồi.

Đáng thương hơn đáng giận

Tôi buồn, vì ngay trước mặt tôi, các bạn miền Nam của tôi thể hiện suy nghĩ và nói về Hà Nội tiêu cực như thế. Một Hà Nội thủ đô thủ cựu, lạc hậu, xấu xí. Khi nghĩ vậy về Hà Nội, Sài Gòn - TP.HCM cũng mặc nhiên nhận về mình những gì là tiến bộ, văn minh, đẹp đẽ.

Nỗi buồn sở dĩ mang màu sắc “bao đồng” bởi tôi không muốn thấy trong cùng một đất nước, người dân hai miền – mà là hai thành phố thuộc hàng hiện đại nhất nước - mãi giữ những ấn tượng không tốt đẹp về nhau.

Đến bao giờ người Việt Nam mới biết đoàn kết, thương yêu nhau?

Hà Nội có thực tệ hại? Đặt sang một bên tình cảm gắn bó với nơi mình sinh ra và lớn lên, tôi phải trả lời thành thực rằng: Có, Hà Nội khá tệ hại, càng tệ hại hơn khi đó là một thủ đô, được kỳ vọng là nơi thanh lịch nhất, nơi hội tụ và kết tinh nền văn hóa của cả một đất nước có chiều dài 4000 năm lịch sử. Có thể không tới con số 4000, nhưng thủ đô của một quốc gia thì rõ ràng phải là bộ mặt đại diện cho văn hóa của xứ sở. Nhưng Hà Nội, ngoại trừ một vài tuyến phố “linh thiêng”, bẩn quá, bụi quá, lắm rác quá.

Những người chúng ta gặp trên phố phần đông là thô lỗ, ích kỷ, hiếu chiến. Họ có thể vượt đèn đỏ vì không chờ nổi vài chục giây ở ngã tư, phóng long tóc gáy, như thể đang bận rộn lắm, hối hả lắm, thế rồi nhác thấy một tai nạn giao thông thì dừng lại xem, mất toi 45 phút. Họ sẵn sàng tranh cướp nhau từng mét đường mỗi lúc kẹt xe, và rất nhiệt tình ném vào mặt nhau những lời tục tĩu nhất. Có thể không ít trong số họ là người có học, nhưng không hiểu sao cứ hễ ra ngoài đường là cái tinh túy của Chí Phèo lại phát tác.

Có lẽ do hoàn cảnh. Chiếc áo không làm nên thầy tu, nhưng con đường làm nên tính cách người đi đường. Bụi thế, chật chội thế, ồn ào thế, một năm mấy tháng trời nóng thế, lại thêm cuộc sống vội vàng gấp rút, người ta hòa nhã với nhau làm sao được.

Đã từng có thời

Chắc là do hoàn cảnh. Bởi, điều làm tôi băn khoăn về tính cách Hà Nội, là hình như đã từng có thời người Hà Nội không thô lỗ, hung bạo. Không lẽ câu “chẳng thơm cũng thể hoa nhài/ dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An” là một câu ca dao không có chút cơ sở thực tế nào?

Ông tôi, cụ giáo trường Hàng Kèn năm xưa, sinh thời từng thủ thỉ với tôi rằng: “Trước năm 1954, trẻ con Hà Nội không biết chửi bậy”. Chẳng biết trí nhớ của ông có ghi nhận đúng đặc điểm đó của trẻ con thủ đô không, nhưng bản thân ông thì đúng là không biết nói tục, không văng bậy được dù chỉ một từ. Đi trên phố, mỗi lần thấy đám tang qua, ông lại dừng bước, cung kính ngả mũ chào người vừa qua đời. Không bao giờ ông nói nặng với ai một câu. Ngay với đám cháu lít nhít nội ngoại, có sai các cháu làm gì, ông cũng dùng lời lẽ hết sức lịch thiệp: “Nếu có thể, cháu giúp ông…”.

Những người giúp việc trong nhà rất quý ông, “cụ giáo Hàng Kèn”. Chắc chắn họ chưa bao giờ nghĩ ông “bóc lột”, kênh kiệu, cậy mình trí thức thủ đô khinh rẻ dân lao động ngoại tỉnh.

Từ lúc nào ở thủ đô, người lớn biết chửi bậy, rồi trẻ con theo đó mà bắt chước? Có lẽ điều này đòi hỏi chúng ta phải “truy tầm” về nguồn gốc của những từ tục của bây giờ, mà đó là việc nằm ngoài khả năng cũng như bài viết này của tôi.

Ngoài ra, tôi cũng không tin là người Hà Nội thời trước 1954 hoàn toàn không chửi bậy. Đọc hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy, thấy ông có nhắc tới những tiếng lóng, những câu hát xuyên tạc rất tục những năm 20-30 của thế kỷ trước. Nói cho đúng, ngày xưa Hà Nội phân biệt rõ ràng hơn giữa tầng lớp trí thức “có học, có chữ nghĩa” (tức “có văn hóa”) và tầng lớp bình dân, trong đó có thể bao gồm cả thành phần du thủ du thực ít văn hóa. Còn ngày nay, tầng lớp “văn hóa thấp” đã “xâm thực” khắp xã hội. Số đông cư dân ở Hà Nội hiện nay, nếu tự đánh giá mình là thanh lịch, sâu sắc, thâm trầm, thì quả là lố bịch.

Song, tôi tin không phải người Hà Nội luôn thô lỗ và kênh kiệu, cũng như không phải mọi công dân thủ đô đều có tính xấu ấy. Không phải người Hà Nội nào cũng thích ăn “phở quát cháo chửi”, cũng chẳng phải hàng quán nào ở Hà Nội cũng có những thiên-thần-mậu-dịch-viên đáng sợ.

Nhiều tính cách tệ hại của dân chúng Hà thành có lẽ đã xuất phát từ hoàn cảnh, mà nếu thực vậy thì Hà Nội đáng thương hơn là đáng giận.

… Và đáng yêu

Với riêng tôi, Hà Nội còn có sự đáng yêu, cái đáng yêu của một thành phố trẻ đang phải gồng lên làm nhiệm vụ của một thủ đô nghìn năm.

Sẽ còn rất nhiều, vô số bất cập và lộn xộn, nhưng thảng hoặc cũng có những nét cho thấy một nỗ lực của Hà Nội vươn lên làm thủ đô văn hiến. Con đường gốm sứ ven sông Hồng, tuy một số đoạn vừa hoàn thành đã nứt, nhưng nhiều đoạn màu sắc long lanh rực rỡ. Con mắt thô thiển của tôi dám chắc như thế là đẹp, và chắc chắn là đẹp hơn khi không có đường gốm sứ ấy.

Những gì là xấu xí, tiêu cực, ước mong thủ đô sẽ xóa chúng đi dần dần. Nếu tính xấu đã do hoàn cảnh mà mọc ra thì cũng có thể hy vọng chúng sẽ mất đi khi hoàn cảnh thay đổi, để một nền văn hóa mới sẽ hình thành ở Hà Nội, thanh lịch hơn, sâu sắc hơn mà cũng cởi mở hơn.

Hà Nội, trong tôi, cũng đáng nhớ nữa. Vào năm 2000, tôi từng viết trong một bức thư gửi những người bạn ở phương xa, rằng thế hệ chúng tôi may mắn được trải qua thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ đáng nhớ, 1000 năm mới có một lần. Mấy ai được đón chào và cảm nhận thời khắc ấy? Lịch sử vốn dài đằng đẵng. Nói như Nguyễn Huy Thiệp, 1000 năm trước, biết hoa ban có trắng như bây giờ?

Nếu quan niệm như thế, tôi sẽ thấy năm 2010 này lại cũng là một thời gian đáng nhớ trong đời mình. Hàng chục triệu gương mặt người Việt Nam đã mờ nhòa trong lịch sử, nào phải ai cũng được đón sự kiện nghìn năm Thăng Long như chúng tôi đây? Để rồi mai kia một cụ ông nào đó còn có chuyện mà kể cho con cháu nghe: “Hồi ấy, ông hay đi dọc con đường gốm sứ với bà. Hơi nhiều bụi một tí, nhưng đường mát và đẹp lắm, bà cũng đẹp. Cái chỗ ấy bây giờ là gì nhỉ bà nhỉ?...”.


BLOG MẠNH QUÂN
Đăng ngày: 07:19 06-10-2010

Đúng là trớ trêu. Trong lúc Hà Nội làm đại lễ thì lũ gầm thét miền Trung. Dân tình lóp ngóp như cua cá, chết kể hàng mấy chục mạng người. Thế mà trên tivi, sách báo vẫn đầy hình ảnh đại lễ 1000 năm. Nào nào trao chứng nhận kỷ lục Guiness, nào là em hoa hậu gì đó vận áo dài 100 m, nào là khánh thành, gắn biển công trình mừng đại lễ, trao giải báo chí 1000 năm... Các quan chức nhà ta mặt cười tươi như hoa. Đường phố sáng trưng các loại ánh đèn nhảy múa (nhiều tỉnh, thành phố khác dân đang phải quạt tay, cởi trần vì mất điện). Thế mà cũng chẳng có nhà báo nào đoạt giải đem tiền chia cho người dân bị mất người thân, nhà cửa, ruộng vườn vì lụt đâu nhỉ ? Mà cái thằng quay cảnh lụt lội của VTV cũng thâm. Nó quay rất kỹ hình 4 đứa trẻ con nheo nhóc, ngơ ngác trèo lên mái nhà mà chỉ cách vài chục phân nữa bị ngập mà không thấy người lớn ở đâu cả.

Đại lễ đã đến ngày thứ 5 hay thứ 6 rồi nhỉ ? Hình như hôm nay còn nhiều hoạt động hay lắm như thi thả diều ở Mỹ Đình. Chắc còn nhiều hoạt động ca hát, nhảy múa, đốt tiền dân nữa. Mình mà sống ở Hà Tĩnh, Quảng Bình lúc này thế nào cũng bắt lấy vài con lươn, trạch gói áo rách gửi ra kính tặng các anh lãnh đạo Hà Nội gọi là chút quà mừng đại lễ. Đêm cuối cùng 1000 năm Thăng Long, pháo hoa hẳn sẽ rực trời Hà Nội (riêng màn bắn pháo hoa này cũng đốt hơn 10 tỷ đồng) nhưng miền Trung vẫn ngập trong lũ và còn khối cảnh tang thương, lắm người còn chết thảm.

Ôi, Lý Thái Tổ ơi, ông có đang ở trên giời thì vén mây mà nhìn xuống xem các bậc hậu bối của ông mừng ngày ông thiên đô. Nếu thấy cảnh ấy, có khi ông không định thiên đô về Hà Nội đâu nhỉ ?


BLOG NGUYỄN VĂN TUẤN

Báo chí Việt Nam dạo gần đây có xu hướng sex và mê tín đến ngạc nhiên. Chuyện “sex sells” thì có khi còn hiểu được, vì nó liên quan đến thương mại, nhưng chuyện mê tín thì quả là khó hiểu trong một xã hội mà đáng lí ra mê tín đã bị diệt từ lâu.

Hôm nay đọc một bản tin trên VNN (’Rồng thiêng’ hiện lên trời mừng thủ đô nghìn tuổi) kèm theo lời bình luận “Điều đáng kinh ngạc là đám mây "rồng" này khá trùng hợp với hình dạng của con rồng thời Lý, triều đại đã chọn Hà Nội làm thủ đô của cả nước” làm tôi không khỏi phì cười. Một độc giả nào đó chụp lại những bức ảnh với những đám mây hội tụ mà độc giả cho là “rồng thiêng” xuất hiện trên bầu trời Hà Nội. Hình như vị độc giả và tòa soạn báo VNN muốn nói rằng rồng xuất hiện để ăn mừng đại lễ, hay buổi lễ có sự chứng giám của một thần linh nào đó. Cũng có thể hàm ý của bài báo là có một đấng tối cao nào đó đang ngồi đâu đó trên trời cao nhìn xuống hài lòng với buổi lễ ngàn năm Thăng Long. Tôi ngạc nhiên là tại sao người ta lại ấu trĩ đến thế. Tại sao một tờ báo như Vietnamnet lại ấu trĩ đến như thế. Xin lỗi các bạn trong VNN, tôi không có từ nào khác ngoài “ấu trĩ” để mô tả việc đăng bản tin đó.


Bức hình này được xem là trùng hợp với rồng đời Lý (ảnh dưới)


Một bức ảnh có thể có nhiều nghĩa tùy theo cảm nhận của từng người. Người phương Tây hay nói beauty is in the eye of the beholder để nói rằng cái đẹp là một cảm nhận định tính tương đối. Đã là cảm nhận thì nó tùy thuộc vào cá nhân, vào cặp mắt thẩm mĩ của từng người. Có thể tôi thấy Meryl Streep đẹp, nhưng bạn không thấy như thế. Có thể tôi thấy tranh của Bùi Xuân Phái đẹp, nhưng người nước ngoài nhìn vào thì chỉ chẳng thấy gì ngoài những nét vẻ nguệch ngoạc. Nếu tôi đưa cho bạn xem một phim X quang, có lẽ bạn sẽ chẳng thấy gì trong đó, nhưng tôi thì biết phim đó nói lên cái gì. Nói ra những ví dụ trên cũng chỉ để nói rằng những bức hình mà Vietnamnet cho là “rồng thiêng” hội tụ đó chỉ là một cảm nhận cá nhân của một độc giả. Có thể vị độc giả đó muốn mình thấy rồng nên nhìn những đám mây đó như là hình dáng con rồng. Nhưng tôi chưa thấy rồng bao giờ trong đời, nên tôi chỉ nhìn thấy đó là những hình dạng ngẫu nhiên được kết cấu từ những đám mây trong một khoảnh khắc nào đó. Vietnamnet đăng những tấm hình đó và bảo là “rồng thiêng” là một cách áp đặt cái nhìn cá nhân cho chúng tôi – những độc giả -- và tôi nghĩ điều đó không phù hợp với tiêu chí của người làm báo.


Chú thích của VNN: Một đám mây hình rồng cũng xuất hiện bên phía trái (Ảnh chụp từ clip)



Chú thích của VNN: Sau đó tiến sát lại đám mây phía đối diện (Ảnh chụp từ clip)

Bức hình Vietnamnet đăng kèm theo lời nhận xét kèm theo thể hiện một sự mê tín. Mê tín là một tật xấu, u mê, tin vào thần thánh một cách mù quáng. Do đó, người mê tín thường có trình độ học vấn thấp, vì họ không lí giải được hiện tượng và sự kiện. Hình như những người theo chủ nghĩa duy vật chống mê tín, và tôi nghĩ họ đúng. Thế nhưng ở Việt Nam dạo này, mê tín đã trở thành một trào lưu. Báo chí đăng rất nhiều tin về những “điềm” lạ, những sự kiện mà họ cho rằng khoa học không giải thích được (hàm ý nói có thần linh nào đó). Sự mê tín của giới báo chí làm tôi liên tưởng đến số đề. Người đánh số đề rất mê tín, và họ diễn giải những gì họ thấy, họ nằm mơ qua lăng kính… số đề.

Nhưng mê tín là điều làm tôi ngạc nhiên. Nghe nói giới lãnh đạo ngày nay cũng rất mê tín. Báo chí từng phản ảnh một Bộ về kinh tế dành hẳn một cái phòng để thờ (ai?). Bệnh viện nào cũng có miếu hay bàn thờ. Đền chùa cũng thế. Người ta đã biến Phật giáo thành một tôn giáo mê tín dị đoan, và biến chùa thành nơi thực hành những hủ tục mê tín dị đoan. Còn lãnh đạo thì mỗi việc làm của họ đều được sự hướng dẫn của những “chuyên gia” về phong thủy và thầy bà. Câu chuyện về lắp trái tim cho Thánh Gióng gần đây cho thấy mê tín đã lên đến đỉnh.

Theo tôi, mê tín thể hiện sự thiếu tự tin vào lí trí và khoa học. Vì thiếu tự tin, thiếu lí trí, nên người ta dễ dàng tin vào những thần thánh phù hộ mình. Người ta sẵn sàng hối lộ Phật, Chúa để có được may mắn. Nhìn qua những cảnh người ta đi chùa với những lời khấn tôi không khỏi phì cười. Thay vì thăng quan tiến chức bằng con đường học hành và làm việc, người ta chọn con đường dễ dàng hơn: cầu cúng thần linh. Người ta đem tiền bạc và hàng hóa đến nhờ thần linh chiếu cố cho thăng chức. Đó chẳng những là một hình thức thiếu tự tin, mà còn là một hình thức hối lộ. Có thể nói rằng hối lộ và tham nhũng ở nước ta bắt đầu từ mê tín! Người ta đang biến Phật giáo – một tôn giáo dựa vào lí trí và khoa học – thành một tôn giáo mê tín, và đó là một tội.

Lịch sử của mê tín xuất phát từ thời khoa học còn sơ khai, thời mà người ta chưa thể giải thích một hiện tượng bằng các mô hình khoa học. Nhưng khi khoa học tiến bộ hơn thì chúng ta có thể giải thích những hiện tượng thiên nhiên. Cố nhiên, khoa học vẫn chưa thể giải thích tất cả mọi hiện tượng, nhưng điều đó không có nghĩa là các hiện tượng đó là do thần linh hay thượng đế tạo ra. Nhưng mê tín còn tùy thuộc vào văn hóa. Chẳng hạn như trong xã hội phương Tây, con số 13 được xem là kém may mắn, nhưng ở nước ta và Trung Quốc con số 4 được xem là không tốt. Nhưng chẳng ai giải thích được tại sao những con số đó không may mắn. Không giải thích được bởi vì trong thực tế, chẳng có bằng chứng nào để nói những con số đó là không may mắn. Cái gọi là không may mắn chỉ là một sản phẩm của sự tưởng tượng. Mê tín, theo tôi, chính là sản phẩm của sự tưởng tượng.

Do đó, nhìn bức hình với những đám mây di chuyển ngẫu nhiên mà hình dung ra “rồng thiêng” thì tôi nghĩ đó là một sự mê tín của người có tưởng tượng phong phú pha lẫn tâm hồn thi thơ hơn là khoa học.

NVT

BLOG NGUYỄN VĂN TUẤN
Thứ sáu, 01 Tháng 10 2010 18:31

Hôm nay là ngày đại lễ Ngàn năm Thăng Long. Từ nơi xa quê, nhìn qua hình ảnh thấy cờ quạt nhiều quá. Cờ đỏ chói chang làm tôi nhớ đến câu thơ nổi tiếng của một thi sĩ thuở nào ... Nhưng nhìn qua những tấm hình "Mời Đại tướng Võ Nguyên Giáp" tôi giật mình.

Theo bản tin thì ông Phạm Quang Nghị "đã chuyển thư của Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và TP Hà Nội mời Đại tướng dự khai mạc Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội." Cụ Giáp năm nay đã 100 tuổi, sức khỏe đang trong tình trạng không tốt, và đang nằm bệnh viện. Vậy thì làm sao cụ Giáp có thể dự đại lễ? Ấy vậy mà người ta vẫn đến bệnh viện để làm một cái photo-op dưới danh nghĩa ... mời. Tại sao không để cho ông cụ được yên thân?

Hình chụp từ xa dưới đây cho thấy cụ Giáp đang đọc lá thư

nhưng nhìn gần (hình dưới) thì hình như cụ có đọc gì đâu!

Cận cảnh hơn nữa (hình dưới) thì đúng là cụ Giáp có vẻ không nhận ra người chung quanh (?) Chỉ đoán thế thôi, chứ cũng có thể cụ nhận ra, nhưng hình chụp không rõ hay chưa phản ảnh được rõ ràng ...


Người ta làm có vẻ sơ sài, làm "cho có" quá. Nhìn vào tấm hình thấy cái caravat của cụ được ai đó thắt một cách hời hợt, hụt hẫng, như cốt chỉ có để chụp hình (còn "khách" của cụ thì veston và caravat trông rất chỉnh chu). Đó là cách làm phản cảm và mang tính xúc phạm đến hình ảnh của ông cụ đại tướng.

Kính trọng không đúng chỗ là bệnh hình thức. Và, bệnh hình thức dạng này chỉ làm khổ ông cụ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét