Thứ Hai, 4 tháng 10, 2010

Cà Phê Givral, Cà Phê Seattle

Nguyễn Công Khanh

(Tiếp theo và hết)

Khi sang Mỹ, tôi làm cho một cơ quan giúp tìm việc cho người tị nạn.

Công việc nhẹ nhàng, sở lại cung cấp cà phê miễn phí, nên tay tôi lúc nào cũng cầm ly cà phê thành một thói quen, dù không uống; đến khi nguội lại thay ly khác. Cô thư ký lúc đó pha rất ngon đúng vị, khi cô thôi việc, cô khác thay thế pha cà phê đắng ngắt, làm tôi mất vị trong nhiều năm. Sau này tôi lại uống cà phê không đường như một số người Mỹ.


Có những lần đến Little Saigon, quận Cam Cali, ngồi hàng giờ ở quán Cafe Factory gặp đủ mặt anh hùng hào kiệt ngày xưa, nghe toàn chuyện trên trời dưới đất.

Đến New Orlean, Louisana, buổi tối ngồi uống cà phê nghe nhạc Jazz ở phố Bourbon, ngoài kia trời mưa rả rích. Thật là một buổi tối tuyệt diệu.

Sáng sau, trước khi rời thành phố, ngồi ăn sáng ở quán Café du Monde tại khu bờ sông, như ngồi ở một quán cà phê giữa Paris, uống “café au lait” và ăn bánh “beignet”, mà các cô tiếp viên hầu hết là người Việt.

Chỉ hai tháng sau, trận bão Katrina kéo đến những cơn lũ lụt khủng khiếp tàn phá khu vực này và những dấu vết thăm viếng của chúng tôi chỉ còn lại trong kỷ niệm.

*

Tôi cố nhớ lại, khi đi du lịch hình như tôi chưa bao giờ gọi cà phê ở Bắc Kinh, Thượng Hải, chưa bao giờ gọi cà phê ở Tokyo, Osaka, chưa bao giờ gọi cà phê ở Bangkok hay ở Phnom Penh… Chỉ nhớ những ly cà phê ở Paris, cà phê đứng, cà phê ngồi hai giá khác nhau, nhưng loại nào cũng đặc quánh, cứ phải đòi thêm nước sôi để pha cho loãng thêm.

Xuống Provence, miền Nam nước Pháp, vợ chồng người anh họ tôi đã ở đó từ năm 1954, rót cà phê vào bát thay vì vào ly để mời chúng tôi, theo cách uống của vùng này. Xuống vùng Nam Mỹ, thăm cô con gái út ở Buenos Aires, Argentina, ngồi uống cà phê và xem trình diễn Tango tại quán Café Tortoni mà kiến trúc bên trong như một lâu đài nhỏ. Quán này có giữ nhiều lưu niệm của những nhân vật thế giới như bà Hillary Clinton.

Nhạc và vũ điệu Tango được coi như quốc hồn quốc túy của Argentina. Tại nhiều đường phố, nhiều quán ăn vũ điệu Tango được trình diễn bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp. Tôi cũng như một số người rất thích nhạc và điệu nhảy nhịp nhàng của Tango. Tôi đã đến một lớp để học, số bước của tango mà tôi học trước đây thường là 4 bước, đếm từ 2, rồi ngưng, 3,4,1, rồi ngưng và lại tiếp tục. Cách đếm này rất đúng với nhịp của Tango. Số bước của Tango Argentina là 13 bước nên có nhiều biến đổi rất đặc biệt với những động tác được gọi là “kick” và “cross”. Trường học có các lớp với các trình độ khác nhau. Tôi nhập vào lớp vỡ lòng. Sau khi cô huấn luyện viên chỉ dẫn các bước căn bản, mọi người tự chọn partner để tập. Tôi không biết chọn ai, thì có một bà Mỹ còn lẻ, được cô giáo đưa đến ghép với tôi. Tôi với bà cùng tập, nhưng mỗi người bước một cách không ai giống ai. Tôi cứ quen chân đi theo 4 bước, cuối cùng thì bà chịu thua. Bà ta nói với cô giáo Tango là tôi đã mù lại gặp người cũng mù thì làm sao mà khá được. Sau đó bà có partner khác và cô huấn luyện viên kéo tôi ra một chỗ dạy riêng cho tôi. Đi được một vài bước đúng, những bước sau tôi lại quen chân đi 4 bước như cũ. Cô giáo cũng đành chịu thua, nhưng tôi đã được tiếng sang tận Argentina để học Tango!

*

Chúng tôi trở lại Hà Nội vài lần, lần nào cũng vào mùa Thu, trong khu phố cổ, ở thành phố mà tôi đã sinh trưởng. Trời đã bắt đầu trở lạnh, tiệm cà phê Trung Nguyên ở ngay gần khách sạn mà không làm tôi nhớ đến quán cà phê gánh ở một góc phố năm xưa, không nhớ đến “Cô hàng Cà Phê” của Canh Thân mà tôi đã say mê gẩy đàn banjo khi mới lớn. Lần về sau, chúng tôi vào một quán khá lịch sự trong khu du lịch quốc tế cạnh Bờ Hồ, từ Hàng Đào đi ra, đối diện với một thương xá lớn bốn năm từng, kiến trúc quê kệch đỉnh cao của thời bao cấp. Tôi ngồi cùng bàn với mấy người bạn ngoại quốc của con tôi. Tiệm mở rộng ra mặt đường, thoải mái không có cửa kính chắn, vì thế các người bán hàng rong có dịp là tấn công chúng tôi, khiến cho mấy cô tiếp viên cứ phải trông chừng xua đuổi họ luôn luôn.

Tôi gọi một ly cà phê đá. Khi cầm ly lên tôi chợt thấy có con ruồi trong ly, tôi gọi cô tiếp viên, cô thản nhiên lấy muỗng gạt con ruồi ra khỏi ly và đặt lại trên bàn cho tôi. Anh bạn Mỹ nhìn tôi mỉm cười, tôi không biết nói gì chỉ còn cách cười lại với anh ta.

Tôi lại nhớ đến một chị bạn thân của chúng tôi. Chị là chủ một hãng tương hương vị dịu ngọt, không nặng như tương Cự Đà. Gia đình chị đã sống nhiều năm tại Blao, nhân dịp chị về thăm chốn cũ, được khuyến khích về Mỹ nên mở một hãng cà phê để giúp phát triển kinh tế địa phương.

Chị là một người năng động, nhất là trong lãnh vực kinh doanh.
Với thiện chí, chị lập một xưởng biến chế cà phê ở Cali lấy tên là Cà phê Jean Martin, lập lại tên một hãng cà phê nổi tiếng ở Saigon mấy chục năm trước. Máy rang, máy xay đã được tàu thủy chở sang từ bên Đức. Nhãn hiệu, bao gói đã được in. Quảng cáo đã thành hình. Mấy chuyến cà phê đầu tiên được chở từ Việt Nam qua làm chị khựng hẳn lại. Lúc chúng tôi đến thăm xưởng của chị, thấy một đám thợ người Mễ đang tỉ mỉ lựa từng viên sạn ra khỏi đám cà phê chưa rang. Chị nhìn chúng tôi, cười buồn “Chỉ tiền công nhặt sạn ra khỏi cà phê là đã thấy hết cả lời lãi rồi”.

Khi cà phê Trung Nguyên pha sẵn “ 3 in 1” trong gói nhỏ được nhập cảng lần đầu vào Mỹ, tôi bỏ các loại cà phê cũ, mà chỉ uống cà phê Trung Nguyên mỗi ngày. Lý do là nó rất tiện, có mùi thơm của quê hương và pha chế hợp vị. Nhưng chỉ ít lâu sau, không hiểu có phải vì cạnh tranh, tôi đọc thấy cà phê Trung Nguyên có pha thêm bột ngô, bột sắn gì đó, khiến tôi cũng cảm thấy lạc vị. Nhất là khi thế giới khám phá ra hàng từ Trung Quốc và Việt Nam lạm dụng nhiều hóa chất để chế biến và bảo trì nên làm mọi người nghi ngại, do đó đã làm hại lây đến các sản phẩm đúng tiêu chuẩn khác.

Thấy mà tội nghiệp cho những người chủ trương website “Thiên Đường Cà Phê” trong nước, với những bài vở phong phú, những trang trình bầy mỹ thuật giới thiệu các quán cà phê với những cái tên rất lạ, hấp dẫn để cố gắng tạo dựng và bảo vệ cái văn hóa cùng cái thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.

*

Lần nào trở lại Saigon, chúng tôi cũng chỉ đến Givral để uống cà phê, không uống ở đâu khác. Saigon đã mở rộng khá lớn, đi đâu cũng thấy xa lạ, bụi bặm và giao thông tắc nghẽn, thành thử ngoài thời giờ đi các tours, chúng tôi chỉ còn loanh quanh vào mấy con đường phố cũ như Lê Lợi, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Huệ, Tự Do, Gia Long và khu chợ Bến Thành… Nghe nói Saigon có nhiều quán cà phê rất nghệ thuật và rất nghệ sĩ. Chúng tôi cùng các bạn cũ có đến Café Terrace nhiều lần nhưng không gọi cà phê, chỉ gọi các món ăn. Vào Café Highland, lại gọi kem. Chưa lần nào đến café Trung Nguyên hay café vườn cả. Nghe nói Saigon nay không những có cà phê ôm, mới đây lại có cả cà phê nằm nữa.

Có lần, ngồi cùng với các con ở cà phê Givral, tôi đã nói chuyện là có thời tôi đã trú ngụ ở cái góc của cầu thang tầng lầu thứ ba nhà Hát Lớn đàng kia. Các con tôi rất ngạc nhiên, thành thử tôi phải trở lại câu chuyện hơn 50 năm cũ. Nhiều lần đi dọc theo đường Tự Do, nhớ lại thuở hoa niên, rong xe với các bạn dọc phố Tự Do ra thẳng đến bến Bạch Đằng, nhớ lại nơi đã đón gần triệu người di cư từ Bắc vào Nam đi tìm tự do. Quán cà phê La Pagode, nơi các nhà văn nhà thơ thường họp mặt, đã đóng cửa im lìm lúc nào, vậy mà tôi không có dịp đọc được một bài viết nào của họ.

Sau khi được tin Givral và thương xá Eden bị phá bỏ, tôi thấy bàng hoàng.

Nơi đã từng ghi dấu những kỷ niệm một thời ở đó, nay đã thành đống gạch vụn. Nhưng nghĩ lại, trong số đông dân ghiền cà phê ở Saigon thời xa xưa chắc chỉ có một số nhỏ đến ngồi ở đó. Còn bao nhiêu người anh em khác đã phải lặn lội chốn rừng sâu trong mấy chục năm tương tàn trước khi chiến tranh chấm dứt, họ có khi nào nghĩ đến cái hạnh phúc cầm được ly cà phê sữa nóng trên tay, họa chăng chỉ có những điệp viên nhị trùng đến đó nhặt tin.

Không hiểu Givral hiện diện từ lúc nào, nhưng có được ngồi uống ly cà phê ở đó hay ở phía bên kia lề đường của hotel Continental, mới cảm nhận thấy những thay đổi sâu xa của lịch sử, cái thay đổi ngang nhiên của cuộc đời và cái hòa nhập vào văn chương lãng du tự do cùng thế giới.

Năm 1994, lần đầu gia đình chúng tôi trở lại Saigon, ngồi trong vườn của khách sạn Continental. Quán vắng khách, chỉ có bàn của chúng tôi và một bàn gần đó của một thiếu phụ trẻ người Âu. Thấy con gái tôi nói tiếng Anh, cô đoán chúng tôi là Việt kiều từ Mỹ trở về, cô bắt chuyện với chúng tôi như những người du lịch thường tình cờ gặp nhau phút chốc trong một chuyến đi. Cô cho biết, cô sanh ở Saigon, năm 1954 cha cô đem gia đình về Pháp. Cha mẹ cô đã mất, đây là lần đầu tiên cô trở lại thăm nơi cô đã sanh ra.

*

Năm 2009, chúng tôi trở lại Saigon. Trên đường Tự Do, Nguyễn Huệ và khu vực xung quanh đã có nhiều thương xá tân tiến. Khu Eden đã quá cũ, theo luật đào thải sẽ bị đập bỏ, tất nhiên cái tiệm cà phê lịch sử Givral cũng bị cuốn theo. Thời buổi cạnh tranh, những kiến trúc mới sẽ tạo nên những thương xá mới hoành tráng hơn. Tôi hi vọng doanh thương Saigon có đủ khôn ngoan để một Givral mới sẽ vẫn ở đó, ở cái góc Tự Do, Lê Lợi cũ.

Từ cái góc ta có thể nhìn thấy những di tích xưa của thành phố, thấy Continental, nhà Hát Lớn, Caravell, nhìn thấy con đường Catinat cũ… Chính cái quán này sẽ đem lại lợi nhuận từ du khách ngoại quốc, không những riêng cho quán mà cho cả thương xá Eden nói chung.

Nếu có một lần nữa trở lại Saigon, không hiểu có còn một Givral để mà ngồi, mà nhớ lại những ngày qua?

Dù sao, đâu phải lúc nào cũng có thể trở lại Saigon để đến quán Givral, mà quên mất thành phố mình đang ở có những thương hiệu cà phê nổi tiếng khắp thế giới. Có những quán cà phê mà những người du lịch từ khắp nơi đều muốn đến.

Khi nào bạn có dịp đến Seattle, từ downtown bạn có thể đi bộ về phía biển đến Pike Market, một địa điểm du lịch của thành phố không thể thiếu. Không xa, chỉ vài con phố thôi. Nếu đến vào mùa hè thì thật là tuyệt vời, trời trong, nắng ấm, khách du lịch nhàn du đầy đường phố.

Chúng tôi cũng thường đến đó, mọi người cứ tưởng nhầm là du khách từ xa đến, mà ngay chúng tôi nhiều lúc cũng quên mình là dân cư ngụ ở đây lâu năm.

Chợ đầy các sạp hoa đủ mầu của người Hmong. Bạn nhớ dừng lại chỗ có con heo lớn bằng đồng ngay cửa chính vào chợ, có một tiệm bán cá khá đặc biệt. Khi khách hàng muốn mua con cá nào thì nó sẽ được người bán cá bên ngoài ném như bay vào sau quầy cho người tính tiền, trong tiếng rao hào hứng đồng loạt của những người bán cá và tiếng reo cười thích thú của du khách đứng quanh. Trăm lần ít khi trượt một. Cửa hàng bán cá này đã là đề tài cho hai cuốn sách Fish! Philosophy của John Christensen dùng để huấn luyện cho nhiều cơ quan công cũng như tư khắp nước Mỹ để thuyết phục nhân viên tìm thấy hứng khởi trong công việc của mình, dù tầm thường hay nhàm chán.

Pike Market có nhiều quán cà phê. Quán Starbucks ở đó hơi nhỏ, khách rất đông, phải chen nhau đứng xếp hàng chờ đến lượt. Chúng tôi hay đến hai quán, quán thứ nhất là quán Lowel’s, bạn đi về phía tay phải, qua một tiệm bán cá khác, ở đó có một anh Mỹ cựu chiến binh Việt Nam chúng tôi quen từ mấy chục năm nay. Lúc nào gặp anh chúng tôi cũng dừng lại thăm hỏi. Qua thêm một tiệm ăn Athenian, mà tài tử Tom Hanks đã để lại lưu niệm ở đó nhân dịp đến đóng phim Sleepless in Seattle.

Vào quán Lowel’s bạn đến quầy chọn món ăn, lát sau họ sẽ đưa đến tận bàn, hay chỉ cần mua một ly cà phê và một cái bánh tự mình mang đi. Hãy lên lầu ba, chọn một cái bàn sát cửa kính, từ đó bạn có thể thấy cả một vùng biển rộng, thấy những cánh buồm trắng xa xa, những con hải âu dập dờn trong gió, thấy cả rặng núi Olympic đỉnh còn phủ tuyết và ngắm bóng những chiếc phà chìm lẫn trong sương mù của vịnh Puget Sound. Quán thứ hai là Le Panier, nhiều hương vị Pháp, bạn có thể gọi cà phê, bánh mì và bánh ngọt. Quán lúc nào cũng đông, hãy cố tìm một chỗ tại bàn sát cửa kính, nhìn sang phía chợ hoa và ngắm khách du lịch rộn dịp qua lại.

Bạn cứ việc ngồi lâu với ly cà phê, không ai để ý đến bạn đâu. Chúng ta sẽ có dịp nhắc lại kỷ niệm của những năm xưa cũ: Từ cà phê xái nhì của thời niên thiếu, đến những cà phê Nhân, Gió Bắc, Mai Hương, Brodard, La Pagode và Givral… Giờ đây hãy cùng nhau thưởng thức những ly cà phê có những cái tên mới Tully’s, Seattle’s Best, Starbucks với những hương vị mới, ở một xứ sở tự do với tình người bao la rộng mở…

Đầu Thu 2010

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét